Sống Lời Chúa Hôm Nay
- Viết bởi Linh mục Anthony Đinh Minh Tiên, OP
Thứ Sáu Tuần 34 TN1, Năm B
Bài đọc: Dan 7:2-14; Lk 21:29-33.
GIỚI THIỆU CHỦ ĐỀ: Hãy tìm thánh ý Thiên Chúa qua những dấu hiệu xảy ra trong cuộc đời.
Giống như người Do-Thái, nhiều người chúng ta thích được chứng kiến những phép lạ xảy ra: Đức Mẹ hiện ra, Đức Mẹ làm phép lạ, Đức Mẹ khóc, Trái tim Chúa chảy máu, sự linh thiêng chữa lành của cha Piô hay cha Trương Bửu Diệp. Khi nghe chỗ nào có những hiện tượng này, con người đua nhau tìm tới để chứng kiến và để xin ơn.
Nhưng con người phải hiểu mục đích Thiên Chúa làm phép lạ là để khơi dậy niềm tin hay những gì Thiên Chúa muốn con người hiểu. Ví dụ: Chúa Giêsu làm phép lạ để cho con người nhận ra quyền năng của Thiên Chúa trong Ngài, và để con người tin Ngài là Thiên Chúa. Nếu sau khi đã chứng kiến phép lạ mà con người vẫn còn nghi ngờ, hay không tin, hay chối từ luôn cả phép lạ, thì có ích gì cho con người đâu cho con người?
Các Bài đọc hôm nay dạy con người phải hiểu biết lịch sử và những sự việc xảy ra trong trời đất, để tìm ra thánh ý Thiên Chúa ẩn giấu qua những sự việc này. Trong Bài đọc I, tác giả Sách Daniel muốn con người nhận ra uy quyền tuyệt đối của Thiên Chúa trên các quyền lực thế gian, để con người vững tin nơi Thiên Chúa, nhất là những khi chịu thử thách và bị bách hại.
Trong Phúc Âm, Chúa Giêsu nhắc nhở con người: Nếu khi nhìn cây vả đâm chồi, họ biết mùa Hè sắp tới; thì khi nhìn các sự việc xảy ra trong trời đất, họ cũng phải biết Ngày của Thiên Chúa đã gần đến.
KHAI TRIỂN BÀI ĐỌC:
1/ Bài đọc I: Quyền thống trị của Người là quyền vĩnh cửu, vương quốc của Người sẽ chẳng hề suy vong.
1.1/ Thị kiến về 4 con thú vật: Để hiểu những thị kiến của Sách Daniel, một người phải hiểu thể văn khải huyền. Theo thể văn này, tác giả dùng rất nhiều dấu hiệu và biểu tượng để chuyển thông sự thật hay mặc khải những điều bí nhiệm của Thiên Chúa. Vì thế, những sách thuộc thể văn khải huyền có cả tính cách lịch sử lẫn tôn giáo, biểu tượng lẫn sự thật, thần linh và nhân loại. Điều quan trọng để hiểu ý nghĩa tác giả muốn nói là phải hiểu ý nghĩa của các dấu hiệu và biểu tượng, cũng như hoàn cảnh lịch sử chung quanh những điều tác giả muốn nói.
Thị kiến thứ nhất ông tường thuật hôm nay là về "bốn con thú lớn từ biển lên, mỗi con mỗi khác: Con thứ nhất giống như sư tử, lại mang cánh đại bàng. Tôi nhìn theo cho đến khi đôi cánh của nó bị giựt mất; nó được nhấc lên khỏi mặt đất và đặt đứng trên hai chân như một người; nó được ban cho một quả tim người. Và này một con thú khác, con thứ hai, giống như con gấu. Nó được đặt trong tư thế chỉ đứng một bên, miệng ngậm ba khúc xương sườn giữa hai hàm răng. Người ta bảo nó như thế này: "Đứng lên, ăn thịt cho nhiều đi!" Sau đó, tôi đang nhìn, thì kìa: một con thú khác giống như con beo; hai bên mình nó, có bốn cánh như cánh chim. Nó có bốn đầu, và được trao quyền thống trị.'' Ba con thú đến từ biển này tượng trưng cho ba vương quốc thay phiên nhau thống trị các quốc gia vùng Cận Đông thời đó là Babylon, Persia, và Medes.
Tác giả không nêu tên con thú thứ tư, mà chỉ nói đến đặc tính của nó: "Con thú thứ tư đáng kinh đáng sợ và mạnh mẽ vô song; răng của nó bằng sắt và rất to. Nó ăn, nó nghiền, rồi lấy chân chà đạp những gì còn sót lại. Nó khác hẳn tất cả các con thú trước. Nó có những mười sừng.
Tôi đang chăm chú nhìn các sừng, thì kìa: giữa các sừng này, một sừng khác, nhỏ hơn, mọc lên; và ba cái trong các sừng trước bị nhổ đi trước mặt cái nhỏ. Và kìa: có những con mắt như mắt người trên sừng ấy, và có một cái mồm nói những điều quái gở.'' Con thú này tượng trưng cho đế quốc Hy-lạp; và cái sừng nhỏ tượng trưng cho vua Antiochus IV Epiphanes là ông vua Hy-lạp rất dữ tợn và độc ác. Ông bắt người Do-thái phải bỏ Thiên Chúa, bất tuân Lề Luật, và phạm sự thánh ngay trong Đền Thờ.
1.2/ Thị kiến về Con Người: Sau những thời kỳ của các vua này là tới thời kỳ của Đấng Thiên Sai. Tác giả mô tả thị kiến như sau: ''Tôi đang nhìn thì thấy đặt những chiếc ngai và một Đấng Lão Thành an toạ. Áo Người trắng như tuyết, tóc trên đầu Người tựa lông chiên tinh tuyền. Ngai của Người toàn là ngọn lửa, bánh xe của ngai cũng rừng rực lửa hồng. Từ trước nhan Người, một sông lửa cuồn cuộn chảy ra. Ngàn ngàn hầu hạ Người, vạn vạn túc trực trước Thánh Nhan. Toà bắt đầu xử, sổ sách được mở ra. Bấy giờ tôi mải nhìn vì có tiếng ồn ào của cái sừng thốt ra những lời quái gở; tôi vẫn mải nhìn khi con thú bị giết, thây nó bị huỷ diệt và làm mồi cho lửa. Những con thú còn lại bị tước mất quyền thống trị, nhưng đời chúng được kéo dài thêm một thời và một kỳ hạn." Sự mô tả huyền bí làm độc giả nhận ra ngay Đấng Lão Thành chính là Thiên Chúa, vị Chúa Tể của trời đất. Ngài có uy quyền trên tất cả quyền hành của trái đất. Ngài để cho các vua của các đế quốc lớn mạnh trong một thời gian nhất định, và tước đi quyền hành khi thời gian kết thúc; không ai có quyền cãi lời Ngài.
Đấng Thiên Sai được tác giả mô tả như sau: "Tôi đang mải nhìn thì kìa: có ai như một Con Người đang ngự giá mây trời mà đến. Người tiến lại gần bên Đấng Lão Thành và được dẫn đưa tới trình diện. Đấng Lão Thành trao cho Người quyền thống trị, vinh quang và vương vị; muôn người thuộc mọi dân tộc, quốc gia và ngôn ngữ đều phải phụng sự Người.'' Đấng Thiên Sai sẽ có hình dạng như một Con Người; nhưng lại đến từ trời. Ngài lãnh nhận sứ vụ làm Vua, vinh quang, và uy quyền từ chính Thiên Chúa. Tác giả mô tả rõ về triều đại của Vua này như sau: "Quyền thống trị của Người là quyền vĩnh cửu, không bao giờ mai một; vương quốc của Người sẽ chẳng hề suy vong." Nói cách khác, Người sẽ làm Vua cai trị dân chúng đến muôn đời.
2/ Phúc Âm: Khi thấy những điều đó xảy ra, thì anh em hãy biết là Triều Đại Thiên Chúa đã đến gần.
2.1/ Phiên dịch các hiện tượng trong trời đất: Kinh nghiệm dạy con người biết phiên dịch các hiện tượng trong trời đất. Ví dụ, khi con người quan sát các hiện tượng trời đất: Nếu cùng một kết quả xảy ra sau nhiều lần như thế, con người kết luận nó cũng sẽ xảy ra như vậy trong lần tới. Chúa Giêsu trưng dẫn một ví dụ mà người nghe đều đã có kinh nghiệm: "Anh em hãy xem cây vả cũng như tất cả những cây khác. Khi cây đâm chồi, anh em nhìn thì đủ biết là mùa hè đã đến gần rồi."
2.2/ Phiên dịch các hiện tượng của Ngày Phán Xét: Chúa Giêsu nói tiếp: "Cũng vậy, khi anh em thấy những điều đó xảy ra, thì hãy biết là Triều Đại Thiên Chúa đã đến gần." Ngày Phán Xét là một chân lý, chứ không phải là sản phẩm của trí tưởng tượng. Chúa Giêsu xác tín với các môn đệ: "Thầy bảo thật anh em: thế hệ này sẽ chẳng qua đi, trước khi mọi điều ấy xảy ra. Trời đất sẽ qua đi, nhưng những lời Thầy nói sẽ chẳng qua đâu."
ÁP DỤNG TRONG CUỘC SỐNG:
- Thiên Chúa cầm cương nẩy mực mọi quyền lực và mọi biến cố xảy ra trong vũ trụ, quá khứ, hiện tại, và tương lai. Bổn phận của con người là phải vững tin nơi quyền năng của Ngài, nhất là những lúc phải chịu đau khổ và bách hại, để làm chứng cho sự trung thành của mình.
- Chúng ta cần tìm hiểu thánh ý Thiên Chúa qua những sự kiện xảy ra trong cuộc đời: những hiện tượng thiên nhiên trong vũ trụ, những biến cố trong lịch sử của nhân loại cũng như trong cuộc đời mỗi người, và những gì sẽ xảy ra trước Ngày Phán Xét.
- Chúng ta cần chú ý đến các sự kiện quan trọng nhất của cuộc đời mà chúng ta đã nghe đi nghe lại trong Phụng Vụ Lời Chúa cuối năm là 3 sự sau: sự chết, sự sống lại, và sự phán xét.
Linh mục Anthony Đinh Minh Tiên, OP
- Viết bởi Linh mục Anthony Đinh Minh Tiên, OP
Lễ Tạ Ơn
Bài đọc: Sir 50:22-24; 1 Cor 1:3-9; Lk 17:11-19.
GIỚI THIỆU CHỦ ĐỀ: Cám ơn Thiên Chúa
Tổ tiên của nước Hoa Kỳ đã để lại cho con cháu một di sản quí báu là ngày Lễ Tạ Ơn. Cám ơn Thiên Chúa là một điều phải làm vì không ai trong chúng ta không nhận ơn của Thiên Chúa trong năm vừa qua: ơn phần hồn, ơn phần xác, ơn cho cá nhân, gia đình, cộng đoàn và quốc gia. Đã nhận ơn phải biết ít nhất nói lời cám ơn, sau đó tìm dịp để trả ơn cho người đã thi ơn. Ba điều chúng ta có thể làm trong ngày Lễ Tạ Ơn là cầu nguyện, tham dự thánh lễ và sống tâm tình biết ơn với gia đình và những anh chị em nghèo khổ.
Các bài đọc hôm nay giúp chúng ta nhiều chất liệu suy tư trong ngày Lễ Tạ Ơn. Trong bài đọc I, tác giả Sách Huấn Ca dạy chúng ta ba điều: Trước hết, chúng ta phải biết ơn Thiên Chúa vì Ngài đã làm cho chúng ta biết bao ơn lành trong quá khứ. Tiếp đến, ông dạy chúng ta xin Thiên Chúa ban cho chúng ta được niềm vui và an bình trong giây phút hiện tại. Sau cùng, ông dạy chúng ta xin Thiên Chúa gìn giữ chúng ta khỏi sa chước cám dỗ và bảo vệ chúng ta khỏi mọi nguy hiểm phần hồn cũng như phần xác trong tương lai. Trong bài đọc II, thánh Phaolô hướng lòng chúng ta lên Đức Kitô vì Ngài là nguồn mạch của mọi ân sủng và bình an. Ngài đã mặc khải cho chúng ta những mầu nhiệm của Thiên Chúa; nếu không có Đức Kitô, chúng ta không thể nào hiểu được. Ngài cũng trợ giúp chúng ta trung thành với Thiên Chúa qua các ơn thánh Ngài đã thiết lập được trong Cuộc Thương Khó và cái chết của Ngài. Trong Phúc Âm, Chúa Giêsu mở mắt cho chúng ta nhìn thấy sự vô ơn của đa số nhân loại qua việc chữa lành mười người phong hủi. Dầu Chúa đã chữa lành cả mười người, nhưng chỉ có một người quay trở lại cám ơn Thiên Chúa; mà người đó lại là một người dân ngoại Samaritan! Ôi đau đớn và tệ bạc thay! Đến nỗi Chúa phải đau lòng thốt lên, "Không phải cả mười người đều được sạch sao? Thế thì chín người kia đâu? Sao không thấy họ trở lại tôn vinh Thiên Chúa, mà chỉ có người ngoại bang này?"
KHAI TRIỂN BÀI ĐỌC:
1/ Bài đọc I: Giờ đây chúng ta hãy chúc tụng Thiên Chúa muôn loài.
1.1/ Tạ ơn vì những gì Thiên Chúa đã làm cho chúng ta và mọi người trong quá khứ: Con người chúng ta được bao vây bởi vô vàn hồng ân của Thiên Chúa. Trong những hồng ân này, có những điều vĩ đại Thiên Chúa làm cho mọi người. Ví dụ, việc tạo dựng và trao cho con người cộng tác với Ngài để điều khiển thế giới; việc cứu chuộc qua sự kiện Chúa ban cho con người Đức Kitô, người con một của Ngài, để lấy đi tất cả tội lỗi cho con người và mang lại cho con người ơn cứu độ muôn đời; việc thiết lập Giáo Hội để tiếp tục ở lại, dạy dỗ và bảo vệ con người. Có những hồng ân Thiên Chúa làm cho từng cá nhân một. Ví dụ, cho được hiện hữu trong cuộc đời, cho được làm quí tử của Ngài, tiền định cho được sống hạnh phúc đời đời, ban muôn vàn ơn thánh và bảo vệ con người trong những ngày họ sống trên dương gian.
1.2/ Xin Thiên Chúa cho chúng ta niềm vui và bình an trong giây phút hiện tại: Tuy Ngài bao vây con người với muôn vàn ơn thánh như thế, nhưng con người vẫn có thể buồn sầu và bất an vì không biết xử dụng ơn thánh và tự do Thiên Chúa ban. Vì thế, con người cần xin Thiên Chúa mở lòng trí để biết chọn lựa những gì đưa đến niềm vui, bình an và hạnh phúc; chứ không chọn lựa những gì đem lại bất an, đau khổ và sầu buồn.
1.3/ Xin Thiên Chúa bảo vệ chúng ta khỏi mọi chước cám dỗ và nguy hiểm trong tương lai: Con người cần ý thức rõ ràng về sự hiện diện của ba kẻ thù trong đời sống; đó là: quỉ thần, thế gian và xác thịt. Cả ba kẻ thù này đều mạnh hơn và có thể làm cho con người rơi vào chước cám dỗ của chúng. Vì thế, con người cần xin Thiên Chúa ban thêm ơn khôn ngoan để nhận ra và ơn sức mạnh để chiến đấu, để họ khỏi sa vào những chước cám dỗ và phải chịu những hậu quả tai hại của sự dữ trong tương lai.
2/ Bài đọc II: Sự cần thiết của Đức Kitô trong cuộc đời
Lịch sử Cứu Độ được lật qua trang mới sau Thời Lưu Đày, Thiên Chúa đã cho Con của Ngài, Đức Kitô nhập thể để cứu độ trần gian. Nếu trong Cựu Ước, người Do-Thái không thể sống vắng bóng Thiên Chúa; thì trong Tân Ước, người Kitô hữu cũng không thể sống vắng bóng Đức Kitô, vì:
2.1/ Đức Kitô là nguồn mạch ân sủng và bình an: Thánh Phaolô cầu nguyện cho các tín hữu Côrintô: "Xin Thiên Chúa là Cha chúng ta, và xin Chúa Giêsu Kitô ban cho anh em ân sủng và bình an. Tôi hằng cảm tạ Thiên Chúa của tôi vì anh em, về ân huệ Người đã ban cho anh em nơi Đức Kitô Giêsu." Qua Cuộc Thương Khó của Đức Kitô, Ngài đã đem lại bình an và rất nhiều ân sủng cho con người. Con người có bình an vì con người nhờ Đức Kitô mà được hòa giải với Thiên Chúa và với nhau. Đức Kitô cũng là nguồn mạch mọi ân sủng cho con người, nhất là qua các Bí-tích.
2.2/ Đức Kitô mặc khải cho con người sự khôn ngoan của Thiên Chúa: "Quả vậy, trong Đức Kitô Giêsu, anh em đã trở nên phong phú về mọi phương diện, phong phú vì được nghe Lời Chúa và hiểu biết mầu nhiệm của Người. Thật thế, lời chứng về Đức Kitô đã ăn sâu vững chắc vào lòng trí anh em, khiến anh em không thiếu một ân huệ nào, trong lúc mong đợi ngày Đức Giêsu Kitô, Chúa chúng ta, mặc khải vinh quang của Người." Nếu không có Đức Kitô mặc khải, con người không thể hiểu rõ ràng Mầu Nhiệm Cứu Độ của Thiên Chúa và rất nhiều các Mầu Nhiệm khác trong đạo.
2.3/ Đức Kitô giúp con người trung thành đến cùng: "Chính Người sẽ làm cho anh em nên vững chắc đến cùng, nhờ thế không ai có thể trách cứ được anh em điều gì trong Ngày của Chúa chúng ta là Đức Giêsu Kitô. Thiên Chúa là Đấng trung thành, Người đã kêu gọi anh em đến hiệp thông với Con của Người là Đức Giêsu Kitô, Chúa chúng ta." Nhờ hiểu biết rõ ràng về Kế Họach Cứu Độ qua Tin Mừng, và được nâng đỡ bằng các ân sủng của Đức Kitô, con người có thể vượt qua những gian khổ của cuộc đời để trung thành với Thiên Chúa. Ngòai ra, con người cũng biết chuẩn bị mọi hành trang cần thiết để ra trước Tòa Phán Xét của Thiên Chúa.
3/ Phúc Âm: Chín người kia đâu? Sao không thấy họ trở lại tôn vinh Thiên Chúa, mà chỉ có người ngoại bang này?
3.1/ Phải biết ơn trước khi cám ơn: Trên đường lên Jerusalem, Đức Giêsu đi qua biên giới giữa hai miền Samaria và Galilee. Lúc Người vào một làng kia, thì có mười người phong hủi đón gặp Người. Họ dừng lại đằng xa và kêu lớn tiếng: "Lạy Thầy Giêsu, xin dủ lòng thương chúng tôi!"
(1) Tình trạng bi thảm của những người phong cùi: Vì người Do-Thái rất chú trọng đến vấn đề thanh sạch bên ngòai, những người phong cùi không được ở chung với dân; mà phải sống cách biệt bên ngòai làng của dân ở (Lev 13:46, Num 5:2). Họ không được phép tiếp xúc trực tiếp với dân và phải la lớn để mọi người được biết sự có mặt của họ mà tránh đi (Lev 13:45).
(2) Để chứng tỏ mình đã hết bệnh phong cùi, họ phải được xem xét cẩn thận bởi các tư tế. Khi nào các tư tế tuyên bố họ đã sạch; bấy giờ họ có thể trở về sinh họat bình thường với dân trong làng (Lev 14:2-3). Đó là lý do tại sao Đức Giêsu bảo họ: "Hãy đi trình diện với các tư tế." Đang khi đi trên đường thì họ được sạch.
Bệnh cùi có thể được ví như tội lỗi, nhất là tội kiêu ngạo và bất tuân Thiên Chúa và bề trên (gương của bà Miriam bị cùi). Thiên Chúa đã tha thứ cho chúng ta biết bao tội trong cả năm qua, Ngày Tạ Ơn chẳng lẽ chúng ta không cám ơn lòng thương xót của Ngài!
3.2/ Những người "ở ngòai" dễ nhận ra ơn hơn những người "ở trong":
- Tâm tình biết ơn của người Samaria: Một người trong bọn, thấy mình được khỏi, liền quay trở lại và lớn tiếng tôn vinh Thiên Chúa. Anh ta sấp mình dưới chân Đức Giêsu mà tạ ơn. Anh ta lại là người Samaria. Đức Giêsu nói: "Không phải cả mười người đều được sạch sao? Thế thì chín người kia đâu? Sao không thấy họ trở lại tôn vinh Thiên Chúa, mà chỉ có người ngoại bang này?"
- Người Do-Thái khinh thường và sống xa cách với người Samaria. Điểm lạ ở đây là chín người phong Do-Thái khi bị chính dân mình khai trừ đã mở rộng vòng tay cho người phong Samaria được sống chung với họ. Khi con người bị đau khổ và bỏ rơi, có lẽ con người dễ đòan kết và sống chung với nhau hơn.
- Người Samaria, tuy bị người Do-Thái khinh thường, nhưng nhiều lần được chính Chúa Giêsu khen tặng. Trong câu truyện "Ai là người thân cận của tôi?" Chúa Giêsu đã đề cao người Samaria Nhân Hậu hơn các thầy tư tế và Lêvi, vì ông là người biết tỏ lòng thương xót với người bị đánh trọng thương dọc đường: ông đã vực người trọng thương lên lừa và đưa về quán trọ săn sóc cẩn thận và hứa sẽ trả mọi phí tổn tương lai cho chủ quán trọ (Lk 10:30-37). Trong cuộc đàm thọai giữa Đức Kitô và người phụ nữ xứ Samaria, chị đã trở thành nhà truyền giáo đầu tiên của Chúa Giêsu, nhiệt thành loan báo về Người cho các dân trong làng của chị (Jn 4:39-41).
- Biết ơn là xứng đáng đón nhận thêm ơn: Rồi Người nói với anh ta: "Đứng dậy về đi! Lòng tin của anh đã cứu chữa anh." Không phải chỉ được thanh sạch bên ngòai, anh còn được thanh sạch cả bên trong. Chính vì lòng tin mà anh đã xứng đáng được hưởng ơn cứu độ.
3.3/ Tại sao con người vô ơn? Có nhiều lý do: (1) vì con người không chịu suy nghĩ để nhận ra ơn, họ nghĩ mọi sự trên đời tự nhiên mà có mà không cần suy nghĩ tại sao nó có; (2) họ giả sử tất cả mọi người phải hành động như vậy: là Thiên Chúa phải ban ơn; là cha mẹ phải nuôi nấng con cái; là thầy phải dạy dỗ học sinh; và (3) họ sợ nếu nhận ra ơn, họ phải trả ơn. Vì thế, họ vô ơn:
(1) với Thiên Chúa: Đấng đã dựng nên và không ngừng ban mọi ơn lành cho họ. Ngày Lễ Tạ Ơn là dịp để con người nhận ra và tạ ơn Thiên Chúa qua việc tham dự Thánh Lễ và làm ơn cho những người kém may mắn; nhưng thử hỏi được bao nhiêu người làm những điều này? Thay vào đó, họ lo tổ chức ăn uống vui chơi cho bản thân và cho gia đình họ.
(2) với cha mẹ: những người đã cưu mang, nuôi nấng, và dạy dỗ họ trong suốt một phần tư của cuộc đời. Lẽ ra, khi cha mẹ về già không còn tự săn sóc mình được nữa, họ phải phụng dưỡng và săn sóc trở lại, thì họ lại cho vào các nhà hưu dưỡng rồi tự an ủi mình: "chính phủ sẽ săn sóc các ngài tốt hơn ta."
(3) với tha nhân: những người đi trước nhiều khi đã dành cả cuộc đời để nghiên cứu, xây dựng, và phát minh ra những tiện nghi mà chúng ta đang được hưởng. Bổn phận của những người thụ hưởng là tiếp tục để làm cho thế giới mỗi ngày một tốt đẹp hơn chứ không phải chỉ ù lỳ thụ hưởng.
ÁP DỤNG TRONG CUỘC SỐNG:
- Lễ Tạ Ơn là ngày chúng ta phải dành trọn vẹn để cám ơn Thiên Chúa, chứ không phải là ngày ăn uống linh đình, coi football hay đi sắm đồ cả ngày. Chúng ta phải cẩn thận đề phòng để khỏi bị rơi vào những chước cám dỗ của quỉ thần và giới con buôn.
- Để tạ ơn Thiên Chúa, chúng ta cần làm ba việc: cầu nguyện để nói lên tâm tình biết ơn, tham dự Thánh Lễ để cùng dâng lên Thiên Chúa hy lễ đẹp ý Ngài nhất, và sống trong tâm tình biết ơn bằng cách chia sẻ tình yêu với những người trong gia đình và những anh chị em nghèo.
- Biết ơn là xứng đáng để tiếp tục được Thiên Chúa ban ơn. Còn biết bao nhiêu ơn lớn lao và trọng thể Chúa dành sẵn cho những người biết ơn. Vô ơn là tự đào hố để vùi chôn cuộc đời mình, là đứng vào hàng ngũ của ma quỉ.
Linh mục Anthony Đinh Minh Tiên, OP
- Viết bởi Linh mục Anthony Đinh Minh Tiên, OP
Thứ Tư Tuần 34 TN1, Năm lẻ
Bài đọc: Dan 5:1-6, 13-14, 16-17, 23-28; Lk 21:12-19.
GIỚI THIỆU CHỦ ĐỀ: Mọi người phải tùng phục uy quyền của Thiên Chúa.
Nhiều người nghĩ khi nắm quyền trong tay, họ có thể làm bất cứ điều gì họ muốn, ngay cả quyền luận tội và sát sinh người khác; nhưng thực tế chứng minh uy quyền của họ không tuyệt đối. Mọi quyền hành đến từ Thiên Chúa: Ngài ban cho và Ngài có quyền lấy đi bất cứ lúc nào. Con người phải trả giá cho sự lạm dụng quyền hành. Hơn nữa, hạnh phúc và bình an chỉ dành cho những ai biết kính sợ và phục tùng Thiên Chúa.
Các Bài Đọc hôm nay muốn nêu bật một sự thật: mọi quyền lực trong vũ trụ đều thuộc về Thiên Chúa. Trong Bài Đọc I, vua Belshazzar nghĩ đã là vua là có quyền làm mọi sự mình muốn. Daniel giải thích cho vua hiểu rõ mọi quyền lực đến từ Thiên Chúa. Ngài có quyền trao và có quyền lấy đi bất cứ lúc nào. Sự kiện nhà vua nhìn thấy ngón tay viết hàng chữ chứng minh đã đến lúc Thiên Chúa tiêu diệt quyền lực của nhà vua, để trao cho một vua khác biết xử dụng quyền bính. Trong Phúc Âm, Chúa Giêsu báo trước những gian khổ sẽ xảy đến cho những môn đệ của Ngài và khuyến khích họ kiên trì vượt qua; vì đó là cơ hội để họ chứng tỏ niềm tin yêu vào Thiên Chúa. Nếu họ kiên trì chịu đau khổ và làm chứng cho Thiên Chúa, Ngài sẽ trao ban sự sống đời đời và thưởng công xứng đáng.
KHAI TRIỂN BÀI ĐỌC:
1/ Bài đọc I: Thiên Chúa là Đấng nắm trong tay sinh khí của ngài, ngài lại chẳng tôn vinh!
1.1/ Vua Belshazzar phạm sự thánh: Khi vua cha là Nebuchadnezzar chinh phục Jerusalem, ông đã vào Đền Thờ và lấy tất cả các ly chén bằng vàng bạc đem về tích trữ trong nhà kho của mình. Sau khi vua cha băng hà, vua con là Belshazzar tiếp tục nối ngôi. Nhà Vua cho mở tiệc lớn khoản đãi một ngàn đại thần. Khi đã thấm hơi men, vua truyền mang ly mang chén bằng vàng bằng bạc mà vua cha là Nebuchadnezzar đã lấy ở đền thờ Jerusalem. Người ta mang ly chén bằng vàng đã lấy từ cung thánh Đền Thờ Thiên Chúa ở Jerusalem; vua và các đại thần, cung phi và cung nữ đều dùng mà uống. Họ vừa uống rượu vừa ca ngợi các thần bằng vàng, bạc, đồng, sắt, gỗ và đá. Đang khi say sưa thì một hiện tượng lạ xuất hiện trên tường: Nhà Vua nhìn thấy những ngón tay người xuất hiện, viết lên vách tường quét vôi của hoàng cung ở phía sau trụ đèn. Vua nhìn thấy phần bàn tay đang viết. Bấy giờ mặt vua biến sắc, tâm trí bàng hoàng, ruột gan rối loạn, đầu gối run cầm cập.
1.2/ Vua Belshazzar kiếm người giải thích ý nghĩa của các chữ viết trên tường: Giống như vua cha, vua Belshazzar cho vời tất cả những nhà chiêm tinh và bói toán trong nước đến để giúp Nhà Vua giải thích thị kiến ngón tay người và câu mà ngón tay đã viết trên tường; nhưng không ai giải thích nổi, cho đến khi họ mang Daniel vào để yết kiến Nhà Vua.
(1) Daniel không màng đến phần thưởng Nhà Vua hứa: Khi Daniel được dẫn vào chầu vua, Nhà Vua ngỏ lời với ông rằng: "Nếu ngươi đọc và giải thích được hàng chữ đó cho ta, thì ngươi sẽ được mặc cẩm bào đỏ thẫm, đeo vòng vàng vào cổ, và sẽ là nhân vật thứ ba trong vương quốc." Daniel lên tiếng nói trước mặt vua: "Tâu đức vua, lộc vua ban, xin giữ lại cho ngài; quà vua tặng, xin dành cho người khác.''
(2) Daniel giải thích ý nghĩa của điềm lạ: Những hàng chữ kia, thần xin đọc và giải thích hầu đức vua. Quyền lực của nhà vua đến từ Thiên Chúa: Ngài ban quyền lực cho Nhà Vua; nhưng "ngài đã tự cao tự đại, đã chống lại Chúa Tể trời cao: ly chén trong Đền Thờ của Chúa, người ta đã mang đến trước mặt ngài; ngài đã dùng các ly chén ấy mà uống cùng với các đại thần, cung phi và cung nữ. Ngài đã ngợi khen các thần bằng bạc, vàng, đồng, sắt, gỗ và đá là những vật không thấy, không nghe, không biết. Còn Thiên Chúa là Đấng nắm trong tay sinh khí của ngài và điều khiển mọi đường đi nước bước của ngài, ngài lại chẳng tôn vinh!"
Triều đại của Nhà Vua nay đã đến lúc bị tận diệt: "Vì thế, Thiên Chúa đã cho phần bàn tay ấy đến viết hàng chữ kia. Đây là những chữ đã được viết ra: MENE, MENE, TEKEL, and PARSIN; và đây là lời giải thích:
- MENE có nghĩa là đếm, Thiên Chúa đã đếm và chấm dứt những ngày của triều đại ngài; - TEKEL có nghĩa là cân, ngài đã bị đặt trên bàn cân và thấy là không đủ;
- PERES có nghĩa là phân chia, vương quốc của ngài đã bị phân chia và trao cho các dân Medes và Ba-tư." PARSIN đến từ động từ PERES.
2/ Phúc Âm: Có kiên trì, anh em mới giữ được mạng sống mình.
2.1/ Chịu đựng gian khổ để làm chứng cho Chúa: Chúa Giêsu báo trước cho các môn đệ về những gian khổ sắp xảy đến cho họ: "Nhưng trước khi tất cả các sự ấy xảy ra, thì người ta sẽ tra tay bắt và ngược đãi anh em, nộp anh em cho các hội đường và bỏ tù, điệu anh em đến trước mặt vua chúa quan quyền vì danh Thầy. Đó sẽ là cơ hội để anh em làm chứng cho Thầy." Ngài nói rõ ràng: Gian khổ xảy ra là cơ hội ngàn vàng để các môn đệ có cơ hội làm chứng cho Ngài; nhường bước trước gian khổ là mất cơ hội làm chứng cho Thiên Chúa.
2.2/ Đừng lo lắng phải đối phó thế nào: Các môn đệ phải hiểu các ông không chiến đấu một mình, nhưng Chúa Giêsu sẽ cùng các ông chiến đấu. Chúa Giêsu hứa: "Vậy anh em hãy ghi lòng tạc dạ điều này, là anh em đừng lo nghĩ phải bào chữa cách nào. Vì chính Thầy sẽ cho anh em ăn nói thật khôn ngoan, khiến tất cả địch thù của anh em không tài nào chống chọi hay cãi lại được. Anh em sẽ bị chính cha mẹ, anh chị em, bà con và bạn hữu bắt nộp. Họ sẽ giết một số người trong anh em. Vì danh Thầy, anh em sẽ bị mọi người thù ghét." Khi các ông biết có một quyền lực mạnh hơn quyền lực của địch thù thế gian trợ giúp, các ông sẽ không còn sợ hãi và tự tin hơn trong việc chống cự lại. Thánh Phaolô có kinh nghiệm này khi ngài tuyên bố: "Tôi sống, nhưng không còn là tôi, mà là chính Đức Kitô sống trong tôi."
2.3/ Chúa bảo đảm các ông sẽ chiến thắng: Không có một quyền lực nào trên thế gian có thể thắng nổi quyền lực của Thiên Chúa. Quyền lực thế gian chỉ có hiệu quả tạm thời vì Thiên Chúa cho phép xảy ra; nhưng một khi Thiên Chúa quyết định rút lại, không một quyền lực nào có thể chống lại được. Chúa Giêsu bảo đảm điều này với các môn đệ, mặc dù các ông sẽ phải chiến đấu, "nhưng dù một sợi tóc trên đầu anh em cũng không bị mất đâu. Có kiên trì, anh em mới giữ được mạng sống mình."
ÁP DỤNG TRONG CUỘC SỐNG:
- Thiên Chúa là Chủ Tể của mọi quyền hành và thế lực trong thế gian này. Ngài ban cho con người và có quyền lấy đi bất cứ lúc nào. Bổn phận của con người là phải biết dùng quyền hành để điều khiển và sinh lợi ích cho Thiên Chúa và cho tha nhân.
- Gian khổ phải có trong cuộc đời để tinh luyện con người, để phân biệt người anh hùng với kẻ tiểu nhân; và nhất là để chúng ta chứng tỏ đức tin và tình yêu vào Thiên Chúa. Khi phải đương đầu với gian khổ, chúng ta không chiến đấu một mình. Chính Chúa Giêsu hứa Ngài sẽ cùng chúng ta chiến đấu. Sự khôn ngoan và sức mạnh để chiến đấu đến từ Đức Kitô.
- Chúa Giêsu bảo đảm sự chiến thắng sẽ về tay chúng ta vì một sợi tóc trên đầu chúng ta cũng đã được Thiên Chúa đếm. Hiểu biết tòan bộ trận chiến như thế, chúng ta còn chờ đợi gì mà không xông vào cuộc chiến để làm chứng cho Thiên Chúa?
Linh mục Anthony Đinh Minh Tiên, OP
- Viết bởi Linh mục Anthony Đinh Minh Tiên, OP
Các Thánh Tử Đạo Việt-Nam
Bài đọc: II Mac 7:1, 20-23, 27b-29; Rom 8:31b-39; Lk 9:23-26.
GIỚI THIỆU CHỦ ĐỀ: Sự sống, tình yêu, và sự đau khổ
Sự sống, tình yêu, và đau khổ là ba mầu nhiệm khó hiểu trong cuộc sống con người; vì thế, không phải ai cũng hiểu đúng. Chẳng hạn khi nói về nguồn gốc của sự sống, có người cho là do cha mẹ, có người cho là tự nhiên, có người cho là từ Thiên Chúa. Hay khi phải định nghĩa tình yêu, có người định nghĩa "yêu là chết trong lòng một ít;" có người cho là "cùng nhìn về một hướng;" hay "yêu ai là muốn mọi sự tốt đẹp cho người ấy." Khi nói về đau khổ, quan niệm của nhà Phật cho "cần diệt dục để tránh đau khổ;" trong khi Kitô giáo quan niệm con người không thể tránh đau khổ, và nó cần thiết để con người chứng tỏ niềm tin yêu nơi Thiên Chúa.
Các Bài Đọc trong ngày Lễ Các Thánh Tử Đạo Việt Nam hôm nay giúp chúng ta thấu hiểu tại sao các bậc tiền nhân của chúng ta sẵn sàng hy sinh thân mình để làm chứng cho Chúa. Trong Bài Đọc I, bà mẹ của bảy anh em nhà Maccabees xác tín: Thiên Chúa là Đấng ban sự sống và hơi thở cho con người. Ngài sẽ trả lại sự sống cho ai trung thành làm chứng cho Ngài. Trong Bài Đọc II, thánh Phaolô diễn tả tình yêu của Thiên Chúa dành cho con người qua biến cố Nhập Thể của Đức Kitô, Người Con của Ngài; để gánh tội cho nhân loại. Một khi đã cảm nhận được tình yêu Thiên Chúa, không một ai hay một quyền lực nào có thể ngăn cản con người đáp lại tình yêu của Thiên Chúa. Trong Phúc Âm, Đức Kitô mặc khải cho con người nghệ thuật sống theo thánh ý Thiên Chúa. Đây là cách sống duy nhất mang lại sự sống đầy tràn cho con người.
KHAI TRIỂN BÀI ĐỌC:
1/ Bài đọc I: Không phải mẹ ban cho các con hơi thở và sự sống.
1.1/ Ai ban cho con người hơi thở và sự sống? Vua Antiochus nghĩ mình có quyền trên sự sống của bảy anh em nhà Maccabees; nên bắt bảy anh em cùng với bà mẹ thay đổi tôn giáo bằng cách cho lấy roi và gân bò mà đánh họ, để bắt họ ăn thịt heo là thức ăn luật Moses cấm. Sách Khôn Ngoan còn nói rõ hơn: những kẻ ngông cuồng muốn tra tấn như thế để thử xem Thiên Chúa có đến cứu những ai tin cậy Ngài hay không!
Là con người, ai cũng ham sống và sợ chết; tại sao bà mẹ vẫn bình tĩnh khi chứng kiến bảy người con trai phải chết nội trong có một ngày? Có phải người mẹ và bảy anh em nhà Maccabees khinh thường sự sống? Trình thuật hôm nay nói rõ lý do: Bà mẹ là người rất mực xứng đáng cho ta khâm phục và kính cẩn ghi nhớ. Bà vẫn can đảm chịu đựng được là nhờ niềm trông cậy bà đặt nơi Đức Chúa.
Là người cưu mang tất cả các con, mà Bà lại nói với các con: "Mẹ không rõ các con đã thành hình trong lòng mẹ thế nào. Không phải mẹ ban cho các con hơi thở và sự sống. Cũng không phải mẹ sắp đặt các phần cơ thể cho mỗi người trong các con. Chính Đấng Tạo Hoá càn khôn đã nắn đúc nên loài người, và đã sáng tạo nguồn gốc muôn loài. Chính Người do lòng thương xót, cũng sẽ trả lại cho các con hơi thở và sự sống, bởi vì bây giờ các con trọng Luật Lệ của Người hơn bản thân mình."
Theo niềm tin Kitô giáo, Thiên Chúa ban sự sống cho con người bằng các ban hơi thở và thần khí, Ngài có quyền chấm dứt sự sống của con người bằng cách rút hơi thở ra. Hơn nữa, Ngài còn có quyền ban lại sự sống đời đời cho con người, nếu họ trung thành làm chứng cho Ngài.
1.2/ Tình yêu mạnh hơn đau khổ và sự chết: Tình mẫu tử được con người ở mọi nơi và mọi thời ca tụng, vì sự hy sinh chịu đựng của người mẹ dành cho con mình. Rất nhiều bà mẹ đã hy sinh cuộc sống cả đời cho tương lai của con cái; và nếu có phải chết vì con, nhiều bà mẹ cũng sẵn sàng hy sinh để con được sống. Tuy nhiên, tình mẫu tử chỉ là phản ánh của tình yêu Thiên Chúa, chính Ngài đã phú bẩm tình yêu của Ngài vào các bà mẹ để họ sẵn sàng hy sinh cho con cái. Vì thế, khi phải chọn giữa Thiên Chúa và con cái, các bà chọn Thiên Chúa, vì các bà biết Thiên Chúa sẽ trả lại con cái cho các bà. Chúng ta cảm nhận được niềm tin này qua lời của bà mẹ nói với người con út: "Con ơi, con hãy thương mẹ: chín tháng cưu mang, ba năm bú mớm, mẹ đã nuôi nấng dạy dỗ con đến ngần này tuổi đầu. Mẹ xin con hãy nhìn xem trời đất và muôn loài trong đó, mà nhận biết rằng Thiên Chúa đã làm nên tất cả từ hư vô, và loài người cũng được tạo thành như vậy. Con đừng sợ tên đao phủ này; nhưng hãy tỏ ra xứng đáng với các anh con, mà chấp nhận cái chết, để đến ngày Chúa thương xót, Người sẽ trả con và các anh con cho mẹ."
2/ Bài đọc II: Không có gì tách được chúng ta ra khỏi tình yêu của Thiên Chúa thể hiện nơi Đức Giêsu Kitô.
2.1/ Tình yêu Thiên Chúa dành cho con người: được diễn tả rất hay và đầy đủ qua ngòi viết của thánh-sử Gioan: "Thiên Chúa đã quá yêu thế gian đến nỗi đã ban Con Một, để ai tin vào Con của Người thì khỏi phải chết, nhưng được sống muôn đời" (Jn 3:16). Không phải chỉ Thiên Chúa Cha yêu thế gian, mà Người Con cũng yêu thế gian qua sự kiện Ngài sẵn sàng chấp nhận cái chết đau thương trên Thập Giá: "Không có tình thương nào cao cả hơn tình thương của người đã hy sinh tính mạng vì bạn hữu của mình" (Jn 15:13). Tuy con người chưa bao giờ nhìn thấy Thiên Chúa, nhưng khi nhìn lên Thập Giá, con người cảm nhận được tình yêu Thiên Chúa. Thánh Phaolô rút ra hai hệ luận quan trọng từ tình yêu vô biên của Thiên Chúa:
(1) Thiên Chúa không tiếc con người bất cứ điều gì: Thánh Thomas Aquinas nói: yêu ai là muốn mọi sự tốt lành cho người ấy. Thiên Chúa yêu con người và muốn cho con người mọi sự tốt lành như Phaolô diễn tả: "Đến như chính Con Một, Thiên Chúa cũng chẳng tha, nhưng đã trao nộp vì hết thảy chúng ta. Một khi đã ban Người Con đó, lẽ nào Thiên Chúa lại chẳng rộng ban tất cả cho chúng ta?" Ngài còn rất nhiều quà tặng cho con người, và quà tặng quí giá nhất là cho chúng ta được sống đời đời với Ngài trên Thiên Đàng.
(2) Tình yêu Thiên Chúa không quan tâm đến việc xét xử: Nhiều người sợ Thiên Chúa và coi Ngài như vị hung thần chỉ chờ con người phạm tội là ra tay trừng phạt. Phaolô hoàn toàn chống lại quan niệm này: "Ai sẽ buộc tội những người Thiên Chúa đã chọn? Chẳng lẽ Thiên Chúa, Đấng làm cho nên công chính? Ai sẽ kết án họ? Chẳng lẽ Đức Giêsu Kitô, Đấng đã chết, hơn nữa, đã sống lại, và đang ngự bên hữu Thiên Chúa mà chuyển cầu cho chúng ta?" Thánh Gioan đồng ý với quan niệm này và cắt nghĩa rõ hơn: Con người xét xử chính mình khi không tin vào Đức Kitô là Con Thiên Chúa: "Quả vậy, Thiên Chúa sai Con của Người đến thế gian, không phải để lên án thế gian, nhưng là để thế gian, nhờ Con của Người, mà được cứu độ. Ai tin vào Con của Người, thì không bị lên án; nhưng kẻ không tin, thì bị lên án rồi, vì đã không tin vào danh của Con Một Thiên Chúa" (Jn 3:17-18).
2.2/ Tình yêu con người dành cho Thiên Chúa: Tình yêu chỉ hoàn hảo khi người được yêu chấp nhận tình yêu của người cho đi; nếu không, muôn đời nó chỉ là tình đơn phương. Để có thể đáp trả tình yêu Thiên Chúa, con người phải cảm nhận được tình yêu Thiên Chúa dành cho họ. Trong cuộc tử đạo của vị thánh trẻ Anrê Phú Yên, ngài khuyên các tín hữu đang thương khóc ngài những lời cuối cùng: "Anh chị em: chúng ta phải lấy tình yêu để đáp trả tình yêu, lấy mạng sống để đáp trả mạng sống!" Nếu Đức Kitô đã yêu thương và chết cho chúng ta, đến lượt, chúng ta cũng phải yêu thương và chết để làm chứng tình yêu của chúng ta dành cho Ngài.
Chấp nhận hy sinh và chịu đau khổ là hai dấu chứng chắc chắn để bày tỏ tình yêu. Thánh Phaolô chắc chắn đã cảm nhận được tình yêu của Đức Kitô dành cho, nên đã đặt câu hỏi cho mình và cho các tín hữu: "Ai có thể tách chúng ta ra khỏi tình yêu của Đức Kitô? Phải chăng là gian truân, khốn khổ, đói rách, hiểm nguy, bắt bớ, gươm giáo?"
Chấp nhận đau khổ không nhất thiết là hậu quả của tội lỗi một người gây ra. Như Đức Kitô, Đấng không bao giờ phạm tội, mà Thiên Chúa muốn Ngài gánh mọi hình phạt của tội lỗi con người. Noi gương Đức Kitô, các môn đệ của Ngài cũng phải chịu đau khổ để đền tội cho mình và cho mọi người, như có lời chép: "Chính vì Ngài mà mỗi ngày chúng con bị giết, bị coi như bầy cừu để sát sinh" (LXT 43:23, RSV 44:22). Và thánh Phaolô kết luận: "không có gì tách được chúng ta ra khỏi tình yêu của Thiên Chúa thể hiện nơi Đức Giêsu Kitô, Chúa chúng ta."
3/ Phúc Âm: Ai được cả thế giới mà phải đánh mất chính mình hay là thiệt thân, thì nào có lợi gì?
3.1/ Nghệ thuật sống trên đời: Biết sống là một nghệ thuật phải học, vì không phải ai cũng biết sống. Nhiều người tìm đọc cuốn Nghệ thuật Đắc Nhân Tâm của Dale Carnegie, vì ông dạy cho con người biết sống. Tuy nhiên, nếu so sánh sách này với sự dạy dỗ của Đức Kitô dành cho các môn đệ, những lời chỉ giáo của Đức Kitô vượt xa những khôn ngoan của con người.
(1) Ba điều kiện để làm môn đệ Đức Kitô: Đức Giêsu nói với mọi người: "Ai muốn theo tôi, phải từ bỏ chính mình, vác thập giá mình hằng ngày mà theo."
- Từ bỏ chính mình: Đây có lẽ là điều khó làm nhất, vì nó đòi con người phải từ bỏ ý riêng của mình để sống hoàn toàn theo thánh ý Chúa trong mọi sự.
- Vác thập giá hằng ngày của mình: Thập giá hằng ngày là tất cả những bệnh tật, hiểu lầm, trái ý, thử thách do tha nhân và hoàn cảnh gây ra.
- Đi theo Đức Kitô: Con người không chỉ tiêu cực từ bỏ chính mình và vác thập giá suông; nhưng làm tất cả những điều đó cho một mục đích cao vời như Đức Kitô: đó là làm sao đem Tin Mừng cứu độ đến cho muôn người.
(2) Nghịch lý của đời sống: Nghệ thuật sống của Đức Kitô dạy không phải là một trong những cách để sống; nhưng là cách thức duy nhất cho những ai muốn sống cách sung mãn và có ý nghĩa, vì Chúa Giêsu tuyên bố rõ ràng: "Quả vậy, ai muốn cứu mạng sống mình, thì sẽ mất; còn ai liều mất mạng sống mình vì tôi, thì sẽ cứu được mạng sống ấy." Chúa có ý muốn nói: Nếu con người không theo nghệ thuật sống trên, mà chỉ sống theo ý riêng mình, họ sẽ mất mạng sống họ muốn giữ; nhưng nếu họ sống theo thánh ý Thiên Chúa bằng cách sống hy sinh như Đức Kitô, họ sẽ cứu được mạng sống họ.
3.2/ Hậu quả phải lãnh nhận của những người không biết sống: Sống làm sao sẽ gặt hái hậu quả tương xứng. Đối với những người chỉ biết vun quén cho mình để trở nên giàu có, Chúa nhắc nhở họ: "Người nào được cả thế giới mà phải đánh mất chính mình hay là thiệt thân, thì nào có lợi gì?" Điều Chúa muốn nói ở đây là phần rỗi linh hồn và cuộc sống đời sau.
Đối với những người không sống Lời Chúa và không làm chứng cho Ngài khi có dịp, Chúa cho họ biết hậu quả: "Ai xấu hổ vì tôi và những lời của tôi, thì Con Người cũng sẽ xấu hổ vì kẻ ấy, khi Người ngự đến trong vinh quang của mình, của Chúa Cha và các thánh thiên thần."
ÁP DỤNG TRONG CUỘC SỐNG:
- Thiên Chúa là Đấng duy nhất có quyền trên sự sống: Ngài có quyền ban sự sống và có quyền lấy đi. Hơn nữa, Ngài còn có quyền cho lại sự sống đã mất và sự sống trường sinh.
- Thiên Chúa yêu thương con người với tình yêu không biên giới. Ngài cũng đòi chúng ta yêu thương Ngài và tha nhân như thế, cho dù có phải hy sinh đến tính mạng của mình.
- Hy sinh chịu đựng đau khổ vì Chúa là cách thức duy nhất chúng ta có thể làm để minh chứng tình yêu của chúng ta dành cho Thiên Chúa.
Linh mục Anthony Đinh Minh Tiên, OP
- Viết bởi Linh mục Anthony Đinh Minh Tiên, OP
Thứ Hai Tuần 34 TN1, Năm lẻ
Bài đọc: Dan 1:1-6, 8-20; Lk 21:1-4.
GIỚI THIỆU CHỦ ĐỀ: Luôn tin tưởng nơi sự quan phòng của Thiên Chúa.
Nhiều người nghĩ phải có tiền của để ăn ngon, mặc đẹp, ở nhà cao, đi xe sang trọng mới hạnh phúc; nhưng thực tế chứng minh có những thứ này không đem lại hạnh phúc thực sự cho con người, và nhiều khi còn đe dọa sức khỏe và mạng sống con người nữa. Ngược lại, có những người nghèo, tuy sống một cuộc đời đơn giản, nhưng vẫn khỏe mạnh và luôn bình an hạnh phúc, vì họ luôn tin tưởng nơi tình yêu Thiên Chúa và sự quan phòng của Ngài.
Các Bài Đọc hôm nay nêu bật những mẫu gương hoàn toàn tin tưởng nơi sự quan phòng của Thiên Chúa và biết sống một cuộc đời đơn giản. Trong Bài Đọc I, tiên-tri Daniel tường trình câu truyện của 4 đứa trẻ Do-thái biết kính sợ Thiên Chúa và tuân giữ Lề Luật. Chúng sẵn sàng từ bỏ mọi đặc quyền nhà vua ban được ăn uống ngon lành để trung thành với Lề Luật và sống một cuộc đời đơn giản. Với sự phù hộ của Thiên Chúa, Nhà Vua và viên Thái Giám nhìn nhận chúng mạnh khỏe và khôn ngoan hơn những trẻ ăn những thứ cao lương mỹ vị và uống rượu. Trong Phúc Âm, đang khi quan sát dân chúng bỏ tiền vào hộp tiền trong Đền Thờ, Chúa Giêsu nhận ra ngay một bà góa nghèo khổ, đơn giản, đến bỏ vào hai đồng tiền kẽm. Chúa tuyên bố với các môn đệ bà góa đó đã bỏ vào thùng tiền nhiều hơn ai hết, vì Bà đã hy sinh đồng tiền cần cho sự sinh sống của Bà.
KHAI TRIỂN BÀI ĐỌC:
1/ Bài đọc I: Trong số các trẻ ấy không có đứa nào được như Daniel, Hananiah, Misael và Azariah.
1.1/ Vua Babylon biết dân tộc Do-thái rất thông minh: Hầu như mọi người phải nhìn nhận dân tộc Do-thái là một dân tộc rất thông minh và can đảm. Nhiều người cho sở dĩ họ được như thế vì họ là dân riêng của Thiên Chúa. Vua xứ Babylon là Nebuchadnezzar biết rõ điều này, nên sau khi ông đã chiến thắng khải hoàn và bắt dân Do-thái phải lưu đày qua Babylon; ông nghĩ chuyện phải huấn luyện các trẻ Do-thái khôn ngoan để dùng trong hoàng gia của ông.
(1) Suy nghĩ của Nhà Vua: Khi chọn các trẻ trong hoàng gia và quí tộc của Do-thái để huấn luyện, vua Babylon nghĩ phải cho chúng ăn những cao lương mỹ vị và uống rượu, chúng mới trở thành những người khôn ngoan và mạnh khỏe. Vì thế, Nhà Vua truyền cho quan đứng đầu các thái giám là Ashpenaz dành cho chúng khẩu phần hằng ngày trong thức ăn rượu uống của nhà vua. Chúng phải được nuôi dạy ba năm, và sau thời hạn đó, phải ra mắt nhà vua.
(2) Lòng can đảm của Daniel: Trong số các trẻ ấy có Daniel, Hananiah, Misael và Azariah là những người Judah. Phần Daniel, vì quyết tâm không để mình bị ô uế do thức ăn rượu uống của nhà vua, chàng đã xin quan cho mình khỏi bị ô uế. Chúa đã khiến cho Daniel được cảm tình của quan đứng đầu các thái giám. Nhưng quan này nói với Daniel rằng: "Ta sợ Đức Vua; Ngài đã chỉ định đồ ăn thức uống cho các ngươi. Vua mà thấy mặt mũi các ngươi gầy ốm hơn các bạn cùng tuổi thì chính các ngươi sẽ khiến ta mang tội trước mặt vua." Daniel thuyết phục: "Xin quan cứ thử các tôi tớ của quan đây trong mười ngày: cứ cho chúng tôi ăn rau uống nước, rồi quan nhìn sắc mặt chúng tôi và sắc mặt những đứa dùng thức ăn của nhà vua. Lúc đó quan thấy thế nào thì cứ xử với các tôi tớ của quan như vậy."
1.2/ Kết quả của việc ăn uống đơn giản: Quan chấp nhận lời các cậu ấy xin và thử trong mười ngày. Hết mười ngày, quan thấy các cậu sắc mặt hồng hào, da thịt đầy đặn hơn tất cả những đứa đã dùng thức ăn của nhà vua. Thế là quan giám thị cất phần thức ăn rượu uống của các cậu đi và cứ cho ăn rau. Điều này chứng minh sức khỏe không lệ thuộc nơi việc ăn cao lương mỹ vị và uống rượu. Bốn cậu bé này đều được Chúa ban ơn hiểu rộng biết nhiều về tất cả chữ nghĩa và lẽ khôn ngoan. Riêng Daniel còn được hiểu biết mọi thị kiến và điềm báo mộng. Khi đến thời hạn phải đưa bọn trẻ ra như vua đã truyền, quan đứng đầu các thái giám đem chúng ra trước mặt vua Nebuchadnezzar. Nhà vua nói chuyện với chúng, và trong số các trẻ ấy không có đứa nào được như Daniel, Hananiah, Misael và Azariah. Thế là bốn cậu này được đứng chầu vua, và khi vua hỏi các cậu về bất cứ điều gì cần đến sự khôn ngoan và tài trí, thì đều thấy các cậu trổi vượt gấp mười lần hơn tất cả các thầy phù thủy và pháp sư trong toàn vương quốc.
2/ Phúc Âm: Bà bỏ vào tất cả những gì bà có để nuôi sống mình.
2.1/ Tiêu chuẩn xác định cho nhiều hay ít: không dựa trên số lượng cho mà dựa trên số lượng người cho có. Chẳng hạn: một người cho 5000 đồng, nhưng tài sản anh có là 1,000,000 đồng, tỉ lệ anh cho đi là 1/200, một số lượng rất nhỏ so với tài sản của anh. Trong khi đó, một người nghèo bỏ vào chỉ 2 hào, nhưng tài sản anh có là 4 hào, tỉ lệ anh cho đi là ½; anh đã cho phân nửa tài sản anh có.
Chúa Giêsu có lẽ đang ngồi ở "Sân của phụ nữ" trong Đền Thờ. Ngước mắt lên nhìn, Đức Giêsu thấy những người giàu đang bỏ tiền dâng cúng của họ vào thùng tiền. Người cũng thấy một bà goá túng thiếu kia bỏ vào đó hai đồng tiền kẽm. Người liền nói: "Thầy bảo thật anh em: bà goá nghèo này đã bỏ vào nhiều hơn ai hết. Quả vậy, tất cả những người kia đều rút từ tiền dư bạc thừa của họ, mà bỏ vào dâng cúng; còn bà này, thì rút từ cái túng thiếu của mình, mà bỏ vào đó tất cả những gì bà có để nuôi sống mình."
Trước mắt con người, hầu hết sẽ đánh giá trị sai. Họ sẽ quí trọng tiền cho của người giầu và khinh thường sự đóng góp của người đàn bà góa; họ sẽ nghĩ hai đồng kẽm này làm được gì, lại còn phải nhớ số lẻ trong việc làm sổ sách nên quăng đi cho xong chuyện! Nhưng với cặp mắt thấu suốt mọi sự của Chúa Giêsu, Ngài phân biệt rõ cho các môn đệ: Đừng đánh giá theo giá trị bên ngòai, nhưng phải đánh giá theo khả năng bên trong.
2.2/ Niềm tin vào sự quan phòng và tình yêu của Thiên Chúa: Sự rộng lượng cho đi đòi Bà phải có một đức tin vững chắc nơi sự quan phòng của Thiên Chúa. Nếu không có niềm tin này, Bà sẽ giữ tiền lại số tiền đó để có thể sinh sống trong tương lai như biết bao con người đang làm. Bà tin tình yêu của Thiên Chúa sẽ không để Bà phải chết đói. Ngài thương yêu Bà còn hơn những thú vật ngoài đồng hay chim trời, cá biển.
Tiền bạc là cái cho đi thấp nhất; ngòai tiền bạc ra, người môn đệ của Đức Kitô còn phải cho đi nhiều thứ khác khó khăn hơn nhiều như: ý muốn, tình yêu, thời gian, tài năng, sức khỏe. Chúa đòi hỏi người môn đệ: "Ai yêu cha yêu mẹ hơn Thầy, thì không xứng với Thầy. Ai yêu con trai con gái hơn Thầy, thì không xứng với Thầy. Ai không vác thập giá mình mà theo Thầy, thì không xứng với Thầy. Ai giữ lấy mạng sống mình, thì sẽ mất; còn ai liều mất mạng sống mình vì Thầy, thì sẽ tìm thấy được" (Mt 10:37-39).
ÁP DỤNG TRONG CUỘC SỐNG:
- Hạnh phúc cuộc đời không lệ thuộc vào tiền của hay phải ăn ngon mặc đẹp; nhưng lệ thuộc vào niềm tin nơi tình yêu và sự quan phòng của Thiên Chúa.
- Giàu có và sung túc làm chúng ta tự tin nơi sức con người của mình, và từ chối tin tưởng nơi tình yêu và sự quan phòng của Thiên Chúa; không những thế, chúng còn đe dọa hạnh phúc và bình an của cá nhân và gia đình.
- Mục đích của chúng ta khi sống cuộc đời này là để làm chứng niềm tin và tình yêu của chúng ta vào Thiên Chúa. Khi có cơ hội, chúng ta phải chứng tỏ niềm tin yêu này cho dù phải hy sinh ngay cả đến tính mạng.
Linh mục Anthony Đinh Minh Tiên, OP
- Viết bởi Giêrônimô Nguyễn Văn Nội.
NHÌN NHẬN & TUYÊN XƯNG ĐỨC GIÊ-SU KI-TÔ LÀ VUA
CHÚA NHẬT XXXIV THƯỜNG NIÊN NĂM B (22/11/2015)
(LỄ ĐỨC GIÊ-SU KI-TÔ VUA VŨ TRỤ)
[Đn 7,13-14; Kh 1,5-8; Ga 18,33b-37]
I. DẪN VÀO PHỤNG VỤ
Hơn bao giờ hết, niềm tin của người tín hữu vào Vương Quyền của Thiên Chúa và của Con Một Yêu Dấu của Người là Chúa Giê-su Ki-tô đang bị thử thách quyết liệt. Nhìn vào thực trạng của thế giới nói chung và của xã hội Việt Nam nói riêng, chúng ta dễ có cảm tưởng là các thế lực của bạo tàn, chiến tranh, hận thù và tội ác đang thắng thế. Cũng chẳng có gì lạ, vì cách đây hơn 2.000 năm, tổng trấn Phi-la-tô đã đưa ra nghị quyết: "Đóng đinh nó vào thập giá!" và đám đông quần chúng Do-thái đã rập theo một cách điên cuồng: "Chúng tôi không có vua nào khác ngoài Xê-da-rê."
Cử hành Chúa Nhật XXXIV là Chúa Nhật cuối của Năm Phụng Vụ, chúng ta có một cơ hội không thể tốt hơn, để nhìn nhận và suy phục Chúa Giê-su Ki-tô là Vua Vũ Trụ, là Chúa Cứu Độ muôn dân.
II. LẮNG NGHE LỜI CHÚA TRONG BA BÀI THÁNH KINH
[Ghi chú: Chúng tôi dùng bản dịch các bài Thánh Kinh của cố linh mục Giu-se Nguyễn Thế Thuấn, DCCT, đăng trên mạng Tin mừng cho người nghèo]
2.1 Bài đọc 1 (Ðn 7,13-14): Quyền bính của Nguời không bị phá hủy.
13 Tôi mãi nhìn các thị kiến ban đêm thì này!
Với mây trời như thể một Con Người đi đến
Ngài tiến lại Đấng cao niên,
và người ta cho Ngài xích lại trước nhan Người.
Ngài được ban tặng quyền bính, vinh dự, vương triều.
Tất cả các dân, các nước, các tiếng nói phải làm tôi Người.
Quyền bính của Người không bị phá hủy..
2.2 Bài đọc 2 (Kh 1,5-8): Kính chúc Đấng đã làm cho ta thành một vương quốc tư tế cho Thiên Chúa và là Cha Ngài.
5 và do tự Ðức Yêsu Kitô, chứng nhân trung thành, trưởng tử giữa các vong linh, thủ lĩnh các đế vương cõi đất.
Kính chúc Ðấng yêu mến chúng ta, và đã cứu thoát ta khỏi các tội lỗi ta trong máu Ngài, 6 và đã làm ta thành một vương quốc tư tế cho Thiên Chúa và là Cha Ngài.
Kính chúc Ngài vinh quang, uy quyền cho đến đời đời kiếp kiếp, Amen.
7 Này Ngài đến với ánh mây trời, và mọi mắt phàm sẽ trông thấy Ngài, cả những kẻ đã đâm Ngài, và bá tính trên đất hết thảy sẽ than khóc trên Ngài. Quả vậy! Amen.
8 Alpha và Ômêga chính là Ta, Chúa, Thiên Chúa phán, Ðấng đang có, đã có, và sẽ đến, Ðấng toàn năng!
2.3 Bài Tin Mừng (Ga 18,33b-37): Ông nói đó: tôi là Vua.
33 Philatô lại vào Phủ đường và ông cho gọi Ðức Yêsu mà nói với Ngài: "Ông mà lại là Vua dân Do Thái?" 34 Ðức Yêsu đáp lại: "Tự mình ông, ông nói thế, hay có ai khác đã nói với ông về tôi?" 35 Philatô nói lại: "Tôi là Do Thái hay sao? Dân tộc ông và các thượng tế đã nộp ông cho tôi. Ông đã làm gì?" 36 Ðức Yêsu đáp:
"Nước tôi không thuộc về thế gian này,
Nếu Nước tôi thuộc về thế gian này,
thì bộ hạ của tôi đã cố chiến đấu,
không để tôi bị nộp cho người Do Thái.
Ấy vậy Nước tôi không thuộc chốn này".
37 Philatô nói với Ngài: "Vậy thì ông là Vua sao?" Ðức Yêsu đáp:
"Ông nói đó: Tôi là Vua!
chính vì lẽ này mà tôi đã sinh ra,
và chính vì lẽ này mà tôi đã đến trong thế gian:
ấy là để làm chứng cho sự thật.
Phàm ai thuộc về sự thật, thì nghe được tiếng tôi".
III. KHÁM PHÁ CHÂN DUNG & SỨ ĐIỆP CỦA THIÊN CHÚA TRONG BA BÀI THÁNH KINH
3.1 Chân Dung của Thiên Chúa (Thiên Chúa là Đấng nào?)
3.1.1 Bài đọc 1 (Ðn 7,13-14) là Lời Chúa trong sách ngôn sứ Đa-ni-en, kể lại thị kiến của ông về một Nhân Vật đặc biệt được gọi là Con Người. Nhân Vật này xuất hiện như thần linh (ngự giá mây trời), được Thiên Chúa (Đấng Lão Thành) trao cho quyền thống trị, vinh quang, vương vị vĩnh cửu và được mọi dân tộc, quốc gia và ngôn ngữ phụng sự đến muôn muôn đời. Nhân Vật đặc biệt này chính là Chúa Giê-su Ki-tô, Con Thiên Chúa xuống thế làm người, chịu nạn chịu chết trên Thập Giá để cứu chuộc nhân trần.
3.1.2 Bài đọc 2 (Kh 1,5-8) là những lời mở đầu của Sách Khải Huyền trong đó Thánh Gio-an Tông Đồ nói về Chúa Giê-su Ki-tô là Anh Cả (Trưởng Tử) loài người, là Thủ Lãnh mọi vương quyền trần gian, là Đấng đã đổ hết máu mình mà rửa sạch tội lỗi nhân loại và lập nên Vương Quốc của Thiên Chúa. Trong Vương Quốc ấy Thiên Chúa là Đầu và là Cuối, là Đấng hiện có, đã có và đang đến, là Đấng Toàn Năng. Người thống trị đến muôn muôn đời.
3.1.3 Bài Tin Mừng (Ga 18,33-37) là tường thuật của Thánh Gio-an về phiên tòa "kỳ lạ" của tổng trấn Phi-la-tô, trong đó tuy có cuộc đối đáp giữa quan tòa và bị cáo, nhưng dường như là hai người nói hai ngôn ngữ khác nhau và nói về hai thực tại khác nhau.
* Phần Chúa Giê-su, Người đã khẳng định với tổng trấn Phi-la-tô về lý do mà Người có mặt trên trần gian và về Vương Quyền của Ngài, nhưng không phải là thứ vương quyền trần gian mà Phi-la-tô và người đời thường hiểu.
* Còn Phi-la-tô thì chẳng quan tâm đến việc nhận ra Chân Dung hay Căn Tính đích thực của Chúa Giê-su nên đã dễ dàng chịu áp lực của những tiếng la hét của những người Do-thái đòi giết Chúa Giê-su mà tuyên án giết chết Người bằng khổ hình thập giá!
* Nhưng theo kế hoạch nhiệm mầu của Thiên Chúa, chính khi Chúa Giê-su bị treo lên cao là lúc Vương Quyền của Người bao trùm tất cả gian trần này.
3.2 Sứ điệp của Lời Chúa (Thiên Chúa muốn chúng ta làm gì?)
Sứ điệp của Lời Chúa trong ba bài Thánh Kinh hôm nay là: NHỜ VÂNG PHỤC THIÊN CHÚA CHA CHO ĐẾN CHẾT TRÊN THẬP GIÁ VÀ VÌ YÊU THƯƠNG NHÂN LOẠI ĐẾN HƠI THỞ VÀ GIỌT MÁU CUỐI CÙNG, CHÚA GIÊ-SU ĐƯỢC CHÚA CHA TÔN VINH LÀM VUA CAI TRỊ TOÀN THỂ VŨ TRỤ VẠN VẬT VÀ CON NGƯỜI! VƯƠNG QUỐC CỦA NGƯỜI BAO LA VÔ TẬN! VÀ VƯƠNG QUYỀN CỦA NGƯỜI TỒN TẠI ĐẾN MUÔN THUỞ MUÔN ĐỜI!
IV. SỐNG VỚI THIÊN CHÚA VÀ THỰC THI SỨ ĐIỆP CỦA NGƯỜI
4.1 Sống với Thiên Chúa là cảm tạ tri ân Chúa Cha vì Người đã trao mọi vương quyền cho Con Một Yêu Dấu của Người là Chúa Giê-su Ki-tô. Còn là tri ân cảm tạ Chúa Giê-su Ki-tô là Đấng đã hiến mạng sống mình để cứu chuộc nhân loại, trong đó có chúng ta!
4.2 Thực thi sứ điệp Lời Chúa là nhìn nhận và tuyên xưng Chúa Giê-su Ki-tô là Vua vũ trụ, vạn vật và con người, tôi sẽ hăng say làm cho Vương Quyền của Người được nhìn nhận trong thế giới này và làm cho Vương Quốc Tình Thương của Người mở rộng đến mọi tâm hồn và mọi cơ cấu xã hội, quốc gia và quốc tế.
V. CẦU NGUYỆN CHO THẾ GIỚI VÀ HỘI THÁNH
5.1 «Đấng Lão Thành trao cho Người quyền thống trị, vinh quang và vương vị; muôn người thuộc mọi dân tộc, quốc gia và ngôn ngữ đều phải phụng sự Người.» Chúng ta hãy dâng lời cầu xin Thiên Chúa ban cho các dân tộc sớm nhìn nhận Vương Quyền thiêng liêng của Chúa Giê-su Ki-tô, Con Một Yêu Dấu của Thiên Chúa.
Xướng: Chúng ta cùng cầu xin Chúa!
Đáp: Xin Chúa nhận lời chúng con!
5.2 «Chúa Giê-su Ki-tô đã yêu mến chúng ta và lấy máu mình rửa sạch tội lỗi chúng ta, làm cho chúng ta trở thành vương quốc và hàng tư tế để phụng sự Thiên Chúa là Cha của Người!» Chúng ta hãy dâng lời cầu xin Thiên Chúa đoái thương đến Hội Thánh của Người, cách riêng đến các vị lãnh đạo Hội Thánh là Đức Giáo Hoàng và các Đức Giám Mục, để Hội Thánh biết phụng sự Thiên Chúa một cách xứng hợp và phục vụ nhân loại một cách hữu hiệu.
Xướng: Chúng ta cùng cầu xin Chúa!
Đáp: Xin Chúa nhận lời chúng con!
5.3 «Tôi đã sinh ra và đã đến thế gian để làm chứng cho sự thật.» Chúng ta hiệp lời cầu nguyện cho các Ki-tô hữu nhất là cho giáo dân thuộc giáo xứ chúng ta để mọi người dũng cảm làm chứng cho sự thật về Thiên Chúa và về con người.
Xướng: Chúng ta cùng cầu xin Chúa!
Đáp: Xin Chúa nhận lời chúng con!
5.4 «Ai đứng về phía sự thật thì nghe tiếng tôi.» Chúng ta hiệp lời cầu nguyện
cho mọi người thành tâm thiện chí, nhất là cho những người lãnh đạo các quốc gia, để họ biết mở tai, mở lòng và mở trí mà lắng nghe và đón nhận sự thật.
Xướng: Chúng ta cùng cầu xin Chúa!
Đáp: Xin Chúa nhận lời chúng con!
Giêrônimô Nguyễn Văn Nội.
- Viết bởi Linh mục Anthony Đinh Minh Tiên, OP
Chúa Nhật 34 Thường Niên,
Lễ Chúa Kitô Vua, Năm B
Bài đọc: Dan 7:13-14; Rev 1:5-8; Jn 18:33b-37.
GIỚI THIỆU CHỦ ĐỀ: Đức Kitô là Vua sự thật.
Con người ao ước được biết sự thật, nhưng bị vây quanh bởi những giả dối của thế gian: đồ giả, vàng giả, người giả, cha giả, sư giả, thần giả. Con người mong muốn được đối xử chân tình, nhưng lòng người lắm nẻo quanh co và khó đoán như bài toán đố; hứa đó rồi thất hứa vì những lợi nhuận vật chất làm con người thay đổi còn nhanh hơn chong chóng... Làm sao để học biết sự thật và cảm nhận được tình yêu chân thành?
May mắn cho con người, các Bài Đọc hôm nay chỉ đường cho con người để biết đâu là nguồn gốc của sự thật; con người không thể tìm đâu khác ngoài Đức Kitô, Ngôi Lời của Thiên Chúa. Trong Bài Đọc I, tiên tri Daniel tường thuật thị kiến một Con Người lãnh quyền vương đế, vinh quang, và thống trị vĩnh cửu muôn đời từ Thiên Chúa. Tất cả mọi người trên vũ trụ sẽ phải tuân phục quyền bính của Người Con này. Trong Bài Đọc II, tác giả Sách Khải Huyền xác tín Đức Kitô là Vua muôn thuở và muôn đời; ngay cả lúc Ngài hy sinh chịu chết vì con người. Mọi người đã giết và từ chối Đức Kitô sẽ đấm ngực than khóc khi nhìn thấy triều đại Người trị đến trong vinh quang. Trong Phúc Âm, cuộc đàm thoại giữa Đức Kitô và quan Tổng Trấn Philatos nêu bật sự khác biệt giữa vua thế gian và vua Nước Trời. Philatos hiểu Đức Giêsu muốn làm vua kiểu của thế gian như phần đông người Do-thái; trong khi Chúa Giêsu mặc khải Ngài là Vua của Nước Trời, Vua của sự thật. Tất cả những ai biết lắng nghe và sống theo sự thật là con dân của Nước Trời, dưới quyền cai trị của Đức Kitô.
KHAI TRIỂN BÀI ĐỌC:
1/ Bài đọc I: Đấng Lão Thành trao cho Người quyền thống trị, vinh quang và vương vị.
1.1/ Chúa Cha đặt Ngài làm Vua cai trị muôn đời: Tiên-tri Daniel tường thuật thị kiến phong vương xảy ra trên trời cho một nhân vật đặc biệt: Người có hình dạng của một con người; nhưng lại đến từ trời. Người được dẫn tới trình diện Đấng Lão Thành, và Đấng này trao cho Người "quyền thống trị, vinh quang và vương vị." Sau đó, muôn người thuộc mọi dân tộc, quốc gia và ngôn ngữ đều phải phụng sự Người. Con Người đây chính là Đức Kitô, và Đấng Lão Thành chính là Thiên Chúa Cha. Thị kiến muốn nói lên quyền làm Vua của Đức Kitô trên tất cả mọi tạo vật của Thiên Chúa. Trước thị kiến này là thị kiến 4 con vật, tượng trưng cho sự chóng qua của các 4 đế quốc trên mặt đất: Babylon, Ba-tư, Hy-lạp, và Rôma.
1.2/ Vương quyền và vương quốc của Ngài sẽ tồn tại muôn đời: Thị kiến cũng nói lên "quyền thống trị của Người là quyền vĩnh cửu, không bao giờ mai một; và vương quốc của Người sẽ chẳng hề suy vong."
Con người luôn khát khao những gì vĩnh cửu, trường tồn. Trong lãnh vực cai trị, họ ước ao có được một vị anh quân cai trị họ đến muôn đời; nhưng thực tế chứng minh niềm khao khát này không bao giờ được đáp ứng vì các đế quốc tiếp tục đổi ngôi, và những nhà cai trị nổi danh cũng hết thời. Có 3 lý do tại sao ước mơ của con người không thành tựu: (1) Vua chúa và các thủ lãnh thế gian là những con người bất tòan. Họ sống bất công và không lo lắng cho dân; họ lợi dụng niềm tin của dân để vơ vét của cải cho mình. (2) Vuơng quốc trần gian luôn thay đổi: Hết triều đại này đến triều đại kia, hết đế quốc này tới đế quốc khác. Kiếm mỏi mắt được một người biết thương yêu lo lắng cho dân, lại bị ám sát hay chết sớm. (3) Dân chúng hỗn hợp nhiều lọai khác nhau: cả người lành lẫn kẻ dữ, cả chiên lẫn dê; vì thế, rất khó cai trị.
Nhưng đối với các Kitô hữu, thiên đàng chỉ có được ở đời sau, nơi mà cả 3 điều kiện trên đều có thể tìm được: (1) Vua duy nhất là Đức Kitô: Ngài sẽ chiến thắng tất cả, và các thủ lãnh thế gian phải qui phục Ngài. Ngài sẽ qui tụ tất cả về cho Thiên Chúa; sẽ cai trị trong tâm hồn; sẽ cai trị trong sự thật, công bằng, và thương yêu. (2) Vương quốc của Ngài là Nước Trời, sẽ tồn tại muôn đời. (3) Dân của Vua Kitô: chỉ tòan chiên (những người công chính), dê (những kẻ gian ác) bị lọai ra ngòai. Họ sẽ không bao giờ phải chết nữa. Điều kiện để thuộc về vương quốc: nghe tiếng sự thật và tin vào Đức Kitô.
2/ Bài đọc II: Mọi dân trên mặt đất sẽ đấm ngực than khóc khi thấy Người.
2.1/ Những gì Đức Kitô làm cho con người:
(1) Đức Kitô là nguồn mạch của mọi ân sủng và bình an: Tác giả Sách Khải Huyền đề cập đến ba danh xưng của Đức Kitô, và những danh xưng này đều có liên hệ với nhau. Thứ nhất, Đức Giêsu Kitô là vị Chứng Nhân trung thành. Tất cả những gì Ngài nói đều ứng nghiệm và Ngài đã làm chứng sự trung thành với Thiên Chúa bằng cách chấp nhận ngay cả cái chết để chuộc tội cho con người. Thứ hai, Ngài là Trưởng Tử trong số những người từ cõi chết chỗi dậy. Trước Ngài, chưa có một ai sống dậy từ cõi chết và không bao giờ chết nữa. Ngài là người đầu tiên đã chết, đã sống lại, và sống muôn đời. Thứ ba, Ngài là Thủ Lãnh mọi vương đế trần gian, tất cả các vương quốc trần gian đều thuộc quyền của Ngài. Theo Phaolô, chính vì sự vâng lời Thiên Chúa và chấp nhận cái chết trên Thập Giá của Ngài, mà khi nghe danh hiệu Giêsu, mọi loài trên trời, dưới đất, và trong nơi âm phủ, phải bái quì và tuyên nhận "Đức Kitô là Chúa" (Phi 2:11). Nhờ cái chết của Ngài mà con người nhận được hết ân sủng này đến ân sủng khác. Nhờ sự tin tưởng và sống theo những gì Đức Kitô dạy, mà con người tìm được bình an thực sự cho tâm hồn.
(2) Đức Kitô làm cho chúng ta thuộc về vương quốc và trở thành hàng tư tế: Ngài làm cho con người thuộc về vương quốc Nước Trời bằng cách đổ máu trên Thập Giá để rửa sạch tội lỗi và giao hòa con người với Thiên Chúa. Chúng ta cần chú ý đến cách dùng hai phân từ khác nhau trong câu này: Phân từ "yêu mến" được dùng ở thời hiện tại, vì Đức Kitô luôn yêu mến con người. Phân từ "rửa sạch" được dùng ở thời quá khứ, vì biến cố Đức Kitô đổ máu chỉ xảy ra một lần trên đồi Golgotha, và có sức để rửa sạch mọi tội lỗi con người.
Trong Cựu Ước, chỉ có tư tế mới được vào gặp Thiên Chúa trong nơi cung thánh, mọi người Do-thái đều phải dừng lại ở khu vực của họ. Bằng cái chết của Chúa Giêsu, bức màn trong Đền Thờ xé ra làm hai, để từ nay mọi tín hữu đều có thể cầu nguyện trực tiếp với Thiên Chúa. Qua bí-tích Rửa Tội, người tín hữu trở được thành "tư tế phổ quát'' (universal priesthood) để ''phụng sự Thiên Chúa là Cha của Người: kính dâng Người vinh quang và uy quyền đến muôn thuở muôn đời. A-men!''
2.2/ Họ sẽ nhìn xem Đấng họ đã giết chết hay từ chối: Sách Khải Huyền tường thuật thị kiến khi Đức Kitô đến lần thứ hai để phán xét nhân loại: "Kìa, Người ngự đến giữa đám mây. Ai nấy sẽ thấy Người, cả những kẻ đã đâm Người. Mọi dân trên mặt đất sẽ đấm ngực than khóc khi thấy Người. Đúng thế! Amen!"
Điều này không những áp dụng cho quân lính Rôma và những người Do-thái đã kết tội và giết Chúa Giêsu; nhưng cũng đúng cho mọi người qua mọi thời đã từ chối không tin vào Đức Kitô. Họ phải đấm ngực ăn năn, vì họ đã từ chối Người mang ơn cứu độ đến cho họ. Họ phải đấm ngực than khóc, vì Đức Kitô là sự thật. Ngài như một tấm gương soi; khi nhìn vào Ngài, mọi gian dối và mưu mô quanh co của họ bị lột tẩy ra tất cả. Con người nghĩ không ai có thể thấu hiểu những gì họ giấu kín trong tâm tư để đánh lừa Thiên Chúa và tha nhân; nhưng mọi ý nghĩ và việc làm của họ sẽ bị mọi người nhìn thấy trong Ngày Phán Xét.
Tác giả Sách Khải Huyền liệt kê ba danh xưng của Thiên Chúa: Thứ nhất, Ngài là Alpha và Ômêga: Đây là hai mẫu tự đầu tiên và cuối cùng của Hy-lạp, có ý muốn nói Thiên Chúa là khởi nguyên vì nhờ Ngài mà muôn vật được tạo thành, và là tận cùng vì muôn vật muốn tìm được ý nghĩa cuộc đời phải qui hướng vào Ngài. Thứ hai, Ngài là Đấng đã có, hiện có, và đang đến: Đối với Đức Kitô, không có quá khứ, hiện tại, hay tương lai, vì Ngài là Thiên Chúa; mọi sự đều xảy ra như trong hiện tại và liên tục đối với Ngài. Ngài không bao giờ thay đổi như con người. Sau cùng, Ngài là Đấng Toàn Năng, vì Ngài làm được mọi sự; và không có gì là không thể đối với Ngài.
3/ Phúc Âm: Tôi đã sinh ra và đã đến thế gian nhằm mục đích này: làm chứng cho sự thật.
3.1/ Âm mưu gian tà của những người trong Thượng Hội Đồng: Để hiểu cuộc đối thoại giữa Chúa Giêsu và Philatos trong trình thuật hôm nay, chúng ta cần hiểu hoàn cảnh lịch sử chung quanh cái chết của Chúa Giêsu. Những người trong Thượng Hội Đồng của người Do-thái không có quyền giết Chúa Giêsu, vì họ đang bị cai trị bởi đế quốc Rôma. Vì thế, họ bắt Chúa Giêsu và trao nộp cho quan Tổng Trấn Philatos. Để có thể luận tội Chúa, Philatos cần biết lý do rõ ràng Ngài phạm tội gì. Lúc đầu người Do-thái buộc tội Chúa Giêsu phạm thượng (Jn 19:7), vì là người mà dám xưng mình là Con Thiên Chúa. Sau này họ biết được Philatos không muốn lên án tử hình Chúa Giêsu vì lý do tôn giáo (Jn 19:6), họ họp nhau lại tìm một lý do chính trị để làm áp lực với Philatos. Họ tố cáo Chúa Giêsu dám xưng mình là "Vua dân Do-thái;" và bất cứ ai xưng mình là vua, là chống lại Caesare (Jn 19:12).
3.2/ Cuộc đối thoại giữa Chúa Giêsu và Philatos: Quan Tổng Trấn chỉ quan tâm đến một điều là làm sao cho Chúa Giêsu tuyên bố Ngài là vua để có lý do luận tội Ngài; vì thế, ông cho gọi Đức Giêsu tới và hỏi Người: "Ông có phải là vua dân Do-thái không?" Đức Giêsu biết rõ tà ý của những người trong Thượng Hội Đồng và Philatos, Ngài hỏi ngược lại: "Ngài tự ý nói điều ấy, hay những người khác đã nói với ngài về tôi?" Chúa Giêsu có ý nhắc nhở Philatos về bổn phận của ông như một người cầm quyền là phải điều tra kỹ lưỡng trước khi luận tội, chứ không chỉ nghe những gì người khác tố cáo mà luận tội người khác cách bất công. Để tránh né, Philatô trả lời: "Tôi là người Do-thái sao? Chính dân của ông và các thượng tế đã nộp ông cho tôi. Ông đã làm gì?"
3.3/ Chúa Giêsu giải thích cho Philatos về vương quốc và cách cai trị của Ngài: Chúa Giêsu không sợ đương đầu với sự thật và tìm cách tránh né, người Do-thái hiểu đúng phần nào về Đấng Thiên Sai sẽ đến để cai trị họ trong công bằng và sự thật; nhưng họ không hiểu về phương cách dùng để chinh phục con người của Đấng Thiên Sai. Chúa Giêsu cắt nghĩa cho Philatos hiểu hai điều quan trọng:
(1) Vương quốc của Ngài không thuộc về thế gian này: Người Do-thái tin khi Đấng Thiên Sai tới, Ngài sẽ dùng sức mạnh để dẹp tan mọi quyền lực ngoại bang để giải thoát dân chúng và lên ngôi cai trị họ. Đức Giêsu giải thích quan niệm sai lầm này: "Nước tôi không thuộc về thế gian này. Nếu Nước tôi thuộc về thế gian này, thuộc hạ của tôi đã chiến đấu không để tôi bị nộp cho người Do-thái; nhưng thật ra Nước tôi không thuộc chốn này."
(2) Phương cách chinh phục dân của Chúa Giêsu: Khi vừa giải thích về vương quốc thựa sự của Ngài, ông Philatô liền hỏi: "Vậy ông là vua sao?" Đức Giêsu đáp: "Chính ngài nói rằng tôi là vua. Tôi đã sinh ra và đã đến thế gian nhằm mục đích này: làm chứng cho sự thật. Ai đứng về phía sự thật thì nghe tiếng tôi." Lần chất vấn thứ hai này Chúa Giêsu xác nhận với Philatos Ngài là vua, không theo cách hiểu của vua và vương quốc trần gian; nhưng theo cách hiểu Ngài là Vua của Nước Trời và cách chinh phục dân là thuyết phục họ biết nghe theo và sống cho sự thật. Philatos không hiểu lời cắt nghĩa của Chúa Giêsu hay không có can đảm sống theo sự thật, vì sau đó ông trao Chúa Giêsu cho họ đem Ngài đi đóng đinh.
ÁP DỤNG TRONG CUỘC SỐNG:
- Chỉ có Đức Kitô mới đem lại cho chúng ta ý nghĩa và hạnh phúc của cuộc đời, vì Ngài được Thiên Chúa trao ban mọi uy quyền, vinh quang, và vương vị. Chúng ta hãy mời Ngài vào tâm hồn để làm vua hướng dẫn, cai trị, và bảo vệ chúng ta.
- Thế gian đầy dẫy những gian trá và mưu mô đen tối để lừa lọc con người. Sự thật chỉ có nơi Đức Kitô vì Ngài là Ngôi Lời của Thiên Chúa. Nếu muốn tìm hiểu sự thật, chúng ta hãy đến học với Ngài.
Linh mục Anthony Đinh Minh Tiên, OP
- Viết bởi Linh mục Anthony Đinh Minh Tiên, OP
Thứ Bảy Tuần 33 TN1
Bài đọc: I Mac 6:1-13; Lk 20:27-40.
GIỚI THIỆU CHỦ ĐỀ: Sự sống lại và cuộc sống đời đời
Có thể nói câu hỏi: "Có sự sống lại và cuộc sống đời đời không?" là câu hỏi then chốt và quan trọng nhất của cuộc đời; vì niềm tin này sẽ hướng dẫn con người trong cuộc sống ở đời này. Nếu con người tin có sự sống lại và cuộc sống vĩnh cửu mai sau, con người sẽ biết sống ở đời này làm sao để đạt được cuộc sống vĩnh cửu mai sau; nếu không tin có sự sống lại và cuộc sống đời sau, con người sẽ tập trung mọi cố gắng để làm sao cho cuộc sống đời này được hạnh phúc và hưởng thụ tối đa, mà không cần quan tâm đến việc thưởng phạt ở đời sau. Niềm tin vào sự sống lại, tuy đã được đề cập đến trong Cựu-Ước, nhưng chưa được cắt nghĩa rõ ràng; đa số người thời đó tin hạnh phúc chỉ ở đời này: sống lâu trăm tuổi, con đàn cháu đống, được Thiên Chúa ban muôn phúc lành. Quan niệm về sự bất tử của linh hồn được cắt nghĩa rõ ràng hơn trong Sách Khôn Ngoan (khỏang ~100 BC), và sự sống lại trong Sách Maccabees (~150 BC). Khi Đức Kitô nhập thể, Ngài đã mặc khải rõ ràng cho con người những điều này và Kế Họach Cứu Độ của Thiên Chúa trong các Sách Tin Mừng.
Các Bài đọc hôm nay tập trung vào việc tìm ra câu trả lời cho câu hỏi quan trọng này. Trong Bài đọc I, vua Antiochus hối hận về những việc làm gian ác đã gây ra cho người Do-thái trong những ngày cuối đời, khi nhà vua phải đương đầu với những thất bại liên tiếp, bệnh tật, và sự chết. Trong Phúc Âm, những người Sadducees muốn chứng minh không có sự sống lại nên dựng nên một câu truyện giả sử để hỏi thử Chúa. Ngài trả lời Nhóm Sadducees về sự sống lại và sửa sai niềm tin của họ.
KHAI TRIỂN BÀI ĐỌC:
1/ Bài đọc I: Tôi biết chắc rằng chính vì thế mà tôi gặp phải bao nhiêu tai biến.
1.1/ Những thất bại liên tiếp của vua Antiochus:
(1) Lòng tham vô đáy: Những người tham lam không bao giờ bằng lòng với những gì họ đang có, lòng họ luôn mong muốn có nhiều của cải hơn. Khi con người say men chiến thắng, họ nghĩ họ có thể làm mọi sự, và không ai có thể ngăn cản họ. Đó là lý do mà khi vua Antiochus ''nghe tin ở Ba-tư có thành Elymais, một thành nổi tiếng vì nhiều của cải vàng bạc. Đền thờ trong thành cũng có nhiều báu vật, có cả những mảnh giáp trụ bằng vàng, có áo giáp và vũ khí mà con vua Philíp là Alexandre đã để lại;'' nhà vua đã tới đó, tìm cách đánh chiếm và cướp phá thành.
Nhưng lần này không thành công, vì dân trong thành đã hay tin trước. Họ đứng lên giao chiến chống lại vua khiến vua phải bỏ chạy về Babylon mà lòng buồn não ruột.
(2) Thất bại trong việc quản trị đất Judah: Việc gian ác và cai trị bất chính sẽ không tồn tại lâu dài vì "trời cao có mắt." Hơn nữa, khi con người bị dồn vào chân tường, họ sẽ phản ứng lại để bảo vệ sự sống còn của họ. Đang khi vua ở Ba-tư, có người đến báo cho vua biết là các đoàn quân bên đất Judah đã bị thảm bại: ''Tướng Lysias chỉ huy đoàn quân tinh nhuệ nhất đã bị người Do-thái đẩy lui. Những người này càng thêm mạnh nhờ vũ khí, quân nhu và và nhiều chiến lợi phẩm thu được của những đoàn quân đã bị họ đánh tan tành. Họ đã triệt hạ Đồ ghê tởm do vua xây ở trên bàn thờ dâng lễ toàn thiêu tại Jerusalem, rồi xây tường luỹ cao chung quanh Thánh Điện giống như ngày xưa. Cả thành Bethzur của vua, họ cũng xây như vậy.'' Nghe tin ấy, vua rất đỗi kinh hoàng. Vua lâm bệnh liệt giường vì phiền não, lại cũng vì sự việc không diễn ra như lòng mong ước.
1.2/ Gieo gió sẽ gặt bão: Khi đối diện với thất bại, bệnh tật, và sự chết, con người mới biết suy nghĩ lại những việc gian ác họ đã làm. Vua Antiochus nhận ra tất cả của cải ông đã vơ vét được cách bất chính không đem lại hạnh phúc cho ông. Máu của những người vô tội đổ ra vì tham vọng ngông cuồng của ông giờ đây trở lại ám ảnh ông ngày đêm. Vua Antiochus nhận ra sự liên quan giữa bệnh tật ông đang chịu với những hành vi gian ác ông đã làm. Vua nói với các bạn hữu: "Hồi tưởng lại những hành vi tàn bạo đó, tôi biết chắc rằng chính vì thế mà tôi gặp phải bao nhiêu tai biến, và giờ đây sắp phải chết nơi đất khách quê người vì buồn phiền vô hạn."
Những suy xét của vua Antiochus phải là bài học cho những người ngông cuồng không chịu tuân theo luật tự nhiên của Đấng Tạo Hóa. Họ phải biết một luật luân lý hết sức nền tảng của con người họ phải tuân theo là "làm lành tránh dữ." Theo nguyên lý nhân quả, con người phải hứng chịu mọi hậu quả về các hành động họ làm khi còn sống trên dương gian này. Nếu làm những điều tốt lành, họ sẽ được thưởng công xứng đáng; nếu làm những sự gian ác, họ sẽ phải đền trả cách cân xứng. Hầu hết các tôn giáo lớn trên địa cầu đều chịu ảnh hưởng của nguyên lý này, cho dù mỗi tôn giáo một niềm tin khác nhau.
2/ Phúc Âm: Có sự sống lại hay không?
2.1/ Câu hỏi khó của Nhóm Sadducees nhằm chứng minh không có sự sống lại: Nhóm này chỉ tin vào Sách Luật Moses và không tin có sự sống lại. Đó là lý do tại sao họ đến và hỏi Chúa Giêsu: "Thưa Thầy, ông Moses có viết cho chúng ta điều luật này: Nếu anh hay em của người nào chết đi, đã có vợ mà không có con, thì người ấy phải lấy nàng, để sinh con nối dòng cho anh hay em mình (Deut 25:5). Vậy nhà kia có bảy anh em trai. Người anh cả lấy vợ, nhưng chưa có con thì đã chết. Người thứ hai, rồi người thứ ba đã lấy người vợ goá ấy. Cứ như vậy, bảy anh em đều chết đi mà không để lại đứa con nào. Cuối cùng, người đàn bà ấy cũng chết. Vậy trong ngày sống lại, người đàn bà ấy sẽ là vợ ai, vì cả bảy đều đã lấy nàng làm vợ?" Câu hỏi của họ tuy dựa trên Lề Luật, nhưng không thực sự xảy ra trong cuộc đời. Tuy nhiên, nếu có sự sống lại, nàng sẽ thuộc về ai trong 7 người anh em?
2.2/ Câu trả lời của Chúa Giêsu: Chúa Giêsu tách rời 2 vấn đề của họ: chuyện vợ chồng và sự sống lại; đồng thời Ngài sửa sai niềm tin của họ:
(1) Chuyện vợ chồng: "Con cái đời này cưới vợ lấy chồng, chứ những ai được xét là đáng hưởng phúc đời sau và sống lại từ cõi chết, thì không cưới vợ cũng chẳng lấy chồng." Vợ chồng chỉ xảy ra khi còn ở dương gian; tất cả là anh chị em trong cuộc sống mai sau. Con người không có nhu cầu để cưới vợ lấy chồng trên Thiên Đàng như Hồi-Giáo tin.
(2) Cuộc sống trường sinh: "Quả thật, họ không thể chết nữa, vì được ngang hàng với các thiên thần. Họ là con cái Thiên Chúa, vì là con cái sự sống lại."
(3) Chúa dùng Luật họ tin để bắt bẻ sự tin sai của họ: "Còn về vấn đề kẻ chết trỗi dậy, thì chính ông Moses cũng đã cho thấy trong đoạn văn nói về bụi gai (Exo 3:1-6), khi ông gọi Đức Chúa là Thiên Chúa của tổ phụ Abraham, Thiên Chúa của tổ phụ Isaac, và Thiên Chúa của tổ phụ Jacob. Mà Người không phải là Thiên Chúa của kẻ chết, nhưng là, vì đối với Người, tất cả đều đang sống." Nếu họ tin "Thiên Chúa là Chúa của kẻ sống," họ phải tin các tổ phụ Abraham, Isaac, và Jacob vẫn đang sống; nói cách khác, họ phải tin có sự sống lại.
ÁP DỤNG TRONG CUỘC SỐNG:
- Chúng ta phải chịu trách nhiệm cho mọi hành động của mình khi còn sống trên dương gian; vì thế, chúng ta phải luôn hành động theo Luật Chúa dạy và luật tự nhiên.
- Căn bản của niềm tin vào sự sống lại là chính Chúa Giêsu. Chúng ta phải để niềm tin này nuôi dưỡng và soi sáng mọi công việc chúng ta làm, và phải biết sống làm sao ở đời này để xứng đáng thừa hưởng cuộc sống mai sau.
Linh mục Anthony Đinh Minh Tiên, OP
- Viết bởi Linh mục Anthony Đinh Minh Tiên, OP
Thứ Sáu Tuần 33 TN1, Năm lẻ
Bài đọc: I Mac 4:36-37, 52-59; Lk 19:45-48.
GIỚI THIỆU CHỦ ĐỀ: Thanh tẩy Đền Thờ
Những cám dỗ của thế gian và sự bận rộn của cuộc sống làm con người nhiều khi không còn nhận ra được đâu là sự thật, sự thánh thiêng, và ý nghĩa của cuộc đời. Hậu quả xảy ra là thay vì con người phải chủ động điều khiển cuộc đời mình, con người lại để cho cuộc đời điều khiển. Ví dụ: để cho giới con buôn hướng dẫn tòan bộ cuộc đời: mua nhà đắt tiền, xe cộ phải như thế nào mới xứng đáng, khi đi ăn phải ở nhà hàng nào mới sang trọng, uống rượu phải rượu XO nào mới sang trọng mà không cần biết chai rượu đó đã trị giá cả ngày lương lao động của mình. Vì quen xài sang nên phải kiếm ra nhiều tiền để xài, chẳng cần xét xem cách kiếm tiền có chính đáng hay không? Bác sĩ khám bệnh nhân nghèo qua loa 5-10 phút rồi chém đẹp bằng những giá cả bằng cả tuần lương của họ. Ngày Chủ Nhật cần để nghỉ ngơi và thờ phượng Chúa, nhiều người cũng dùng luôn để kiếm tiền tiêu xài, mà không cần biết đến những thiệt hại cho sức khỏe và cho đời sống tâm linh của mình.
Các Bài đọc hôm nay mời gọi chúng ta nhìn sâu vào đền thờ tâm hồn để nhận ra những bụt thần cần được quét sạch và nhu cầu cần thánh hóa để trở nên đền thờ cho Thiên Chúa ngự. Trong Bài đọc I, Judah và các anh em con ông Mattathias kêu gọi dân chúng tiến lên thanh tẩy Đền Thờ khỏi mọi ô uế của Dân Ngoại đã làm cho nhơ nhớp, để xứng đáng làm nơi ngự trị cho Thiên Chúa. Trong Phúc Âm, Chúa Giêsu vào Đền Thờ xua đuổi những kẻ đã biến Nhà Cầu Nguyện của Cha Ngài thành hang trộm cướp.
KHAI TRIỂN BÀI ĐỌC:
1/ Bài đọc I: Chúng ta hãy lên thanh tẩy và cung hiến Nơi Thánh.
1.1/ Phải nhận ra sự ô uế và các hậu quả của nó: Trong Bài Đọc I hôm qua, cha của Judah và các anh em ông là Mattathias đã tức giận vì các quan chức đã dâng lễ tế thần và cúng thịt heo trên bàn thờ dùng để dâng lễ vật cho Thiên Chúa. Ông đã không cầm được lòng nhiệt thành khi thấy một người Do-thái tiến lên dâng hương cho các thần, nên đã giết anh ta cùng viên quan chức, sau đó đã đưa gia đình và các người nhiệt thành vào sống trong sa mạc để chuẩn bị kháng chiến.
Sau một thời gian, lực lượng của ông đủ mạnh, và với sự phù trợ của Thiên Chúa, ông và các con đã chiến thắng quân đội của vua Antiochus. Ông đã qua đời và trao lực lượng quân đội vào tay Judah và các anh em của ông. Khi đã giải phóng Jerusalem, điều đầu tiên Judah và các anh muốn làm là tổ chức thanh tẩy Đền Thờ, nơi đã bị các Dân Ngoại làm cho ra ô uế: "Này, kẻ thù của chúng ta đã bị đập tan, chúng ta hãy lên thanh tẩy và cung hiến Nơi Thánh." Tất cả đoàn quân tập hợp lại và lên núi Sion. Họ cử hành lễ cung hiến bàn thờ trong tám ngày liên tục, hoan hỷ dâng lễ toàn thiêu, hy lễ hiệp thông và tạ ơn. Họ lấy các triều thiên bằng vàng và những tấm biển mà trang trí mặt tiền Đền Thờ, đồng thời cũng sửa sang các lối ra vào, các phòng ốc và làm lại các cửa phòng.
1.2/ Phải thường xuyên thanh tẩy và thánh hóa Đền Thờ: Dân chúng vui mừng không kể xiết và quên hẳn nỗi nhục nhằn dân ngoại đã gây ra. Ông Judah cùng với anh em và toàn thể đại hội Israel quyết định là hằng năm, trong thời gian tám ngày từ hai mươi lăm tháng Chislev, phải cử hành lễ cung hiến bàn thờ thật tưng bừng rộn rã. Đây là nguồn gốc của ngày lễ Hannukah, mà người Do-thái vẫn cử hành vào tháng 12 mỗi năm.
Điều này phải làm cho các đền thờ dành cho việc thờ phượng Thiên Chúa, nhưng còn cần hơn nữa cho việc thanh tẩy đền thờ trong tâm hồn mỗi người. Lý do Thiên Chúa là Đấng rất thánh thiện: nơi nào Ngài hiện diện là không có sự hiện diện của ma quỉ và sự phá hoại của chúng; ngược lại, nơi nào không có sự hiện diện của Thiên Chúa, ma quỉ sẽ tác oai tác quái, và bắt con người làm nô lệ cho chúng.
2/ Phúc Âm: Thanh tẩy Đền Thờ
2.1/ Đừng biến Đền Thờ thành sào huyệt của bọn cướp: Đền Thờ là Nhà Cầu Nguyện. Các thượng tế và tư tế là những người chịu trách nhiệm gìn giữ vẻ thánh thiêng cho Đền Thờ, nhưng họ đã để lợi lộc vật chất lên trên việc thờ phượng Chúa. Họ lợi dụng Đền Thờ để làm giầu, lợi dụng lòng tin để cướp của dân chúng. Có 2 cách họ có thể lợi dụng để kiếm lời:
(1) Đổi tiền: Jerusalem là nơi giao lưu của nhiều quốc gia: Do Thái, Hy-Lạp, Rôma, Syria. Họ lập những quầy đổi tiền và tính phân lời trên số tiền muốn đổi. Những quầy đổi tiền như thế vẫn còn gặp thấy nhiều trong Thành Jerusalem ngày nay.
(2) Bán những vật hy sinh: Bất cứ người Do-Thái nào vào Đền Thờ cũng phải dâng lễ vật hy sinh để đền tội. Họ có thể mua những con vật bên ngòai với giá rẻ hơn nhiều; nhưng họ phải qua sự kiểm sóat của các tư tế, để những người này xác nhận nếu vật hy sinh hội đủ điều kiện như Luật qui định. Để chắc chắn có vật hy sinh hội đủ điều kiện, đa số dân chúng phải bấm bụng mua những con vật này bên trong Thành (của các tư tế hay người nhà của họ) với giá cắt cổ.
Lý do chính Chúa Giêsu tức giận vì họ đã lợi dụng tôn giáo để bắt chẹt dân nghèo, nên Ngài vào Đền Thờ, bắt đầu đuổi những kẻ đang buôn bán và nói với họ: "Đã có lời chép rằng: Nhà Ta sẽ là Nhà Cầu Nguyện, thế mà các ngươi đã biến thành sào huyệt của bọn cướp!"
2.2/ Sự cay đắng của Lời Chúa: Chúa Giêsu rất can đảm khi làm công việc này vì nó động đến quyền lợi của các nhà lãnh đạo. Vì không muốn mất uy quyền, danh vọng, và lợi lộc vật chất; các thượng-tế, kinh-sư, và các nhà lãnh đạo đã quay lưng với sự thật, và họ tìm cách giết Người.
- Đền Thờ được nói tới đây không chỉ thuần túy là Đền Thờ tại Jerusalem, nhưng được mở rộng tới tất cả Đền Thờ tại các nơi trên thế giới, tới cả Đền Thờ của gia đình và của mỗi cá nhân, vì như lời Thánh Phaolô, "thân xác anh em là Đền Thờ của Chúa Thánh Thần."
- Thanh tẩy Đền Thờ có nghĩa trả lại vị thế ưu việt cho Thiên Chúa trong Đền Thờ: đừng để bất cứ một người nào hay một điều gì lên trên Ngài, vì con người phải kính mến Thiên Chúa trên hết mọi sự. Thanh tẩy Đền Thờ cũng có nghĩa là sống công bằng bác ái với tha nhân, đừng lợi dụng bất cứ lý do gì để bóc lột và làm giầu trên mồ hôi nước mắt của tha nhân.
- Cách thanh tẩy Đền Thờ hữu hiệu nhất là hãy trực diện với Lời Chúa, hay như các thượng-tế và kinh-sư trước những Lời của Chúa Giêsu thách thức họ trong Phúc Âm. Mặc dầu cay đắng vì "sự thật luôn mất lòng;" nhưng đồng thời chỉ có "sự thật mới giải thóat." Như trình thuật hôm nay kể: "Vẫn còn những người nhìn ra sự thật. Tòan dân say mê nghe Người."
- Từ chối không chịu để cho Lời Chúa thanh tẩy, hay tệ hại hơn như các thượng-tế và kinh-sư hôm nay muốn bóp nghẹt hay tìm cách tiêu diệt sự thật là khai tử chính mình; là muốn sống theo sự giả trá và ở trong bóng tối của thế gian. Một đền thờ như thế, như lời Chúa nói từ đầu, không còn là Đền Thờ của Thiên Chúa, nhưng là một sào huyệt của bọn cướp.
ÁP DỤNG TRONG CUỘC SỐNG:
- Chúng ta cần phải thường xuyên thanh tẩy tâm hồn để luôn xứng đáng là Đền Thờ cho Thiên Chúa ngự. Chúng ta cần xét lại những động lực thúc đẩy chúng ta làm việc thờ phượng: Có phải vì lòng kính mến Chúa hay vì danh dự, uy quyền, và các mối lợi vật chất?
- Lời Chúa là khí cụ tốt nhất cho việc thanh tẩy tâm hồn. Đọc và suy gẫm Lời Chúa đêm ngày sẽ soi sáng trí lòng chúng ta để nhận ra những bụt thần và tội lỗi trong tâm hồn trước khi có thể thanh tẩy chúng.
- Chúng ta phải chấp nhận sự cay đắng của Lời Chúa mới có thể thanh tẩy tâm hồn được. Quay lưng lại Lời Chúa hay tìm cách bóp nghẹt Sự Thật là làm cho Đền Thờ trở thành nơi ở của Satan và tội lỗi.
Linh mục Anthony Đinh Minh Tiên, OP
- Viết bởi Linh mục Anthony Đinh Minh Tiên, OP
Thứ Năm Tuần 33 TN1, Năm lẻ
Bài đọc: I Mac 2:15-29; Lk 19:41-44.
GIỚI THIỆU CHỦ ĐỀ: Niềm tin vững mạnh sẽ không bị lung lay bởi cám dỗ của thế gian.
Rất nhiều người trong thế giới hôm nay chủ trương tương đối hóa sự thật. Đối với họ, không có sự thật nào tuyệt đối, ngay cả niềm tin vào Thiên Chúa. Vì thế, khi nào hoàn cảnh thuận tiện cho việc giữ đạo thì giữ; khi nào hoàn cảnh không thuận tiện, chắc Chúa cũng thông cảm! Một thái độ tin tưởng như thế sẽ từ từ đưa đến chỗ bỏ đạo ngay khi cơn bách hại tới. Ngược lại cũng có những người không bao giờ tương đối hóa niềm tin và sự thật. Họ chỉ thờ một Chúa và sẵn sàng sống chết cho sự thật.
Các Bài Đọc hôm nay cho chúng ta những mẫu người sẵn lòng hy sinh chết cho sự thật, dẫu phải đương đầu với biết bao gian nan khốn khó. Trong Bài Đọc I, tác giả Sách Maccabees tiếp tục trình bày một mẫu gương anh hùng trong việc giữ đạo là ông Mattathias và bảy người con của ông. Vì lòng nhiệt thành bảo vệ niềm tin, ông đã không nao núng trước cám dỗ ban quyền hành chức tước của viên quan chức; ông giết người phản bội Thiên Chúa ngay trước bàn thờ, và tập họp nhóm người sống chết cho Thiên Chúa đưa vào sống trong sa mạc để sinh sống. Trong Phúc Âm, Chúa Giêsu biết rõ những khốn khổ sẽ xảy ra cho dân thành Jerusalem, vì họ không nhận ra Ngài đến đem bình an thật sự cho họ.
KHAI TRIỂN BÀI ĐỌC:
1/ Bài đọc I: Tôi, các con tôi và anh em tôi, chúng tôi vẫn trung thành với Giao Ước.
1.1/ Thái độ của ông Mattathias trước cám dỗ của thế gian: Tác giả tường thuật: "Các viên chức của vua Antiochus, những người có nhiệm vụ cưỡng bức người Do-thái chối đạo, đã tới thành Modein để tế thần. Nhiều người Israel đã đến theo chúng. Nhưng ông Mattathias và các con thì họp lại thành nhóm riêng.'' Ông Mattathias và các con phải đương đầu với những áp lực sau:
(1) Phần đông con cái Israel đã bỏ đạo và tế thần: Người không có niềm tin vững chắc sẽ dễ dàng bị hốt hoảng khi thấy phần đông dân chúng bỏ đạo. Họ sẽ nghi ngờ những gì mình tin không biết có thật hay không. Điều này đã không xảy ra cho người có một niềm tin vững vàng như ông tuyên xưng: "Cho dù tất cả các dân tộc trong vương quốc của vua có nghe lời vua và ai cũng chối bỏ việc thờ phượng của cha ông mình và tuân theo lệnh vua, thì tôi, các con tôi và anh em tôi, chúng tôi vẫn trung thành với Giao Ước của cha ông chúng tôi. Không đời nào chúng tôi bỏ Lề Luật và các tập tục! Chúng tôi sẽ không tuân theo lệnh vua mà bỏ việc thờ phượng của chúng tôi để xiêu bên phải, vẹo bên trái."
(2) Cám dỗ về uy quyền, chức tước, và bổng lộc: Đây là cám dỗ dễ làm cho những người ham mê những lôi cuốn của thế gian rơi vào. Các viên chức của vua lên tiếng nói với ông Mattathias: "Ông là thủ lãnh, là người có danh giá, là bậc vị vọng trong thành này, lại được con cái và anh em ủng hộ. Vậy xin mời ông tiến lên làm người đầu tiên thi hành chỉ dụ của đức vua, giống như tất cả các dân tộc, các người Judah và những người còn ở lại Jerusalem đã làm. Rồi ông và các con sẽ được kể vào số bạn hữu đức vua, sẽ được danh giá, được nhiều vàng bạc và bổng lộc." Nhưng được lợi cả thế gian mà phải mất linh hồn, hỏi được lợi ích gì?
(3) Có thể phải hy sinh mạng sống: Cám dỗ này được coi là nguy hiểm nhất vì nó đe dọa bản năng sinh tồn của con người. Một người chỉ có thể vượt qua cám dỗ này, nếu anh tin lời của Chúa Giêsu hay bà mẹ của các con nhà Maccabees là Thiên Chúa sẽ trả lại mạng sống cho con người cùng với vinh quang đời đời, cộng với tình yêu anh dành cho Thiên Chúa và Đức Kitô.
1.2/ Phản ứng nhiệt thành của ông Mattathias: Ông vừa dứt lời thì có một người Do-thái công khai tiến ra tế thần trên bàn thờ ở Modein theo như chỉ dụ của vua. Trước cảnh tượng đó, ông Mattathias bừng lửa nhiệt thành, ruột gan ông sôi sục, lòng đạo đức khiến ông nổi giận đùng đùng: ông nhào tới hạ sát hắn ngay tại bàn thờ. Ông cũng giết luôn viên chức của vua có nhiệm vụ cưỡng bức người Do-thái tế thần. Rồi ông phá đổ bàn thờ. Rồi ông Mattathias rảo khắp thành và hô lớn tiếng: "Ai nhiệt thành với Lề Luật và tuân giữ Giao Ước, hãy theo tôi!" Sau đó, ông và các con trốn lên núi, bỏ lại trong thành tất cả tài sản. Bấy giờ, nhiều người Do-thái muốn sống công minh chính trực đã xuống hoang địa và lập cư tại đó.
Chúng ta đừng vội kết án hành động của ông, vì chính Chúa Giêsu cũng lấy roi đánh đuổi những người buôn bán ra khỏi Đền Thờ. Ngài không thể cầm lòng khi thấy con người làm nhơ bẩn Nhà Cha của Ngài. Hơn nữa, Luật cho phép con người phải tự vệ khi người khác muốn giết mình. Ông Mattathias và các con sẽ bị vua Antiochus giết nếu không chịu tế thần như vua muốn.
2/ Phúc Âm: Chúa Giêsu khóc thương Thành Jerusalem.
2.1/ Chúa Giêsu khóc: Mang thân xác con người, Chúa Giêsu có đầy đủ cảm xúc như một con người. Tin Mừng đã tường thuật 2 lần Chúa khóc:
(1) Vì thương Thành Jerusalem như trình thuật hôm nay (Lk 19:41). Trong Cuộc Thương Khó, chặng thứ 8 của 14 Đàng Thánh Giá, Chúa Giêsu đứng lại yên ủi dân Thành Jerusalem vì họ khóc thương Ngài. Chúa Giêsu yên ủi họ: "Đừng khóc thương Ta, nhưng hãy khóc thương các ngươi và con cháu của các ngươi" (Lk 23:28). Chúa Giêsu biết rõ mục đích tại sao Ngài chịu đau khổ, nhưng dân Thành không biết. Điều có lẽ Chúa muốn nhấn mạnh cho họ biết ở đây là họ hãy khóc thương cho chính họ và cho con cháu của họ; vì tội lỗi của họ và con cháu mà Chúa đã phải gánh lấy Cuộc Thương Khó mà Ngài đang chịu.
(2) Vì tiếc thương Lazarô (Jn 11:35)? Nhiều người tin Chúa khóc vì thương Lazarô không còn sống nữa; nhưng suy nghĩ này cần được xét lại vì không có căn bản vững chắc. Có lẽ việc ông đừng trở lại thế gian có lẽ hạnh phúc cho ông hơn vì ít lâu nữa ông sẽ cùng được chung phần vinh quang với Chúa, và kẻ thù không có lý do để giết Chúa Giêsu. Ngài khóc là vì thấy sự chết gây đau khổ cho con người. Ngài muốn Mary và mọi người hiểu: "Ai sống và tin vào Ngài, sẽ không chết bao giờ" (Jn 11:25). Nếu ai cũng hiểu như thế, cái chết sẽ là một niềm vui.
2.2/ Hai lý do tại sao Chúa khóc:
(1) Vì dân Thành Jerusalem không nhận ra Chúa: Lưng chừng Đồi Olive, ngày nay có một nguyện đường gọi là Nguyện Đường Chúa Khóc. Truyền thống tin chính tại đây, Chúa Giêsu đã nhìn thấy tòan bộ Đền Thánh Jerusalem và sự huy hòang của nó, và Ngài đã khóc vì thương dân Thành. Lý do Ngài khóc vì tội nghiệp họ đã không nhận ra Đấng đem bình an: "Phải chi ngày hôm nay ngươi cũng nhận ra những gì đem lại bình an cho ngươi! Nhưng hiện giờ, điều ấy còn bị che khuất mắt ngươi không thấy được." Nguyên ngữ Jerusalem ghép bởi 2 chữ: động từ yrw, có nghĩa là "thiết lập," và danh từ salem, có nghĩa là "bình an." Chúa Giêsu là Đấng từ Trời xuống thiết lập bình an và chính Ngài đang ở giữa họ; nhưng họ đã không nhận ra Ngài.
(2) Vì Thành sẽ bị phá hủy tan tành: "Thật vậy, sẽ tới những ngày quân thù đắp luỹ chung quanh, bao vây và công hãm ngươi tư bề. Chúng sẽ đè bẹp ngươi và con cái đang ở giữa ngươi, và sẽ không để hòn đá nào trên hòn đá nào, vì ngươi đã không nhận biết thời giờ ngươi được Thiên Chúa viếng thăm." Lời tiên tri này ứng nghiệm năm 70 AD, khi quân đội Rôma đem quân vây hãm và phá hủy bình địa Đền Thờ và Thành. Cho tới ngày nay Đền Thờ vẫn chưa được xây lại và vết tích của hoang tàn đổ nát vẫn còn cho các du khách viếng Jerusalem.
ÁP DỤNG TRONG CUỘC SỐNG:
- Chúng ta hãy có lập trường rõ rệt trong cuộc sống: Phải kính mến và thờ phượng Thiên Chúa trên hết mọi sự; không làm tôi hai chủ cho dẫu phải hy sinh tất cả để trung thành với Ngài.
- Con người khóc vì tiếc và vì thương. Cái khóc của con người có thể sai vì lý do tiếc hay thương có thể sai. Cái khóc của Chúa Giêsu luôn luôn đúng vì lý do tại sao Ngài khóc là sự thật. Chúng ta cần tìm hiểu rõ lý do tại sao mình khóc hay thương tiếc.
Linh mục Anthony Đinh Minh Tiên, OP
- 18/11 Chúng ta phải trả lại cho Thiên Chúa cả vốn lẫn lời
- 17/11 Quên mình là tìm thấy
- 16/11 Lòng trung hiếu với Thiên Chúa
- 15/11 Ngày Đức Kitô đến lần thứ hai
- 14/11 Tình thương tha thứ vô biên của Thiên Chúa
- 13/11 Tìm kiếm những giá trị vĩnh cửu
- 12/11 Đức Khôn Ngoan của Thiên Chúa
- 11/11 Con Thiên Chúa xuống thế để ở với con người
- 10/11 – Quy tắc cư xử trong Giáo hội.
- 09/11 – Ðền thờ mẹ của tất cả mọi nhà thờ.
