Sống Lời Chúa Hôm Nay
- Viết bởi Linh mục Anthony Đinh Minh Tiên, OP
Chúa Nhật 27 Thường Niên, Năm B
Bài đọc: Gen 2:18-24; Heb 2:9-11; Mk 10:2-16.
GIỚI THIỆU CHỦ ĐỀ: Lý tưởng của Thiên Chúa và khuyết điểm của con người.
Khi Thiên Chúa truyền cho con người làm điều gì, con người có thể hay có khả năng làm điều đó; vì Ngài không thể truyền cho con người làm điều gì họ không thể làm. Có nhiều lý do khiến con người không làm điều Thiên Chúa truyền: (1) Con người không muốn làm điều Thiên Chúa truyền, mà chỉ muốn làm điều con người muốn, vì nó phù hợp với con người hơn. (2) Con người có khả năng làm; nhưng không chịu cố gắng làm vì lười biếng, sợ khó khăn, sợ gian khổ, hay sợ chết. (3) Có những điều con người chỉ có thể làm được với ân sủng Thiên Chúa ban qua các Bí-tích.
Các Bài Đọc hôm nay đặt trọng tâm trong sự trung thành của ơn gọi gia đình, điều mà nhiều người cho là không thể thực hiện được. Trong Bài Đọc I, tác giả Sách Sáng Thế xác nhận ơn gọi hôn nhân nằm trong kế-hoạch của Thiên Chúa cho con người ngay từ đầu. Thiên Chúa không muốn cho con người sống đơn độc một mình; nhưng muốn con người có một người bạn đồng hành. Ngài đã dùng một xương lấy ra từ cạnh sườn con người, và lấp đầy thịt vào để tạo nên người đàn bà. Ngài dẫn người đàn bà đến trước mặt người đàn ông, và người đàn ông đã nói: "Này đây là xương bởi xương tôi, thịt bởi thịt tôi! Nàng sẽ được gọi là đàn bà, vì đã được rút từ đàn ông ra." Họ là cặp vợ chồng đầu tiên; và từ đó đến nay, các đàn ông lìa cha mẹ mà gắn bó với vợ mình, và cả hai thành một thịt. Trong Bài Đọc II, sức mạnh và ơn thánh giúp con người có thể làm điều Thiên Chúa truyền đến từ Đức Kitô. Qua Cuộc Thương Khó và cái chết của Ngài, con người được tha tội và thánh hóa nhờ các Bí-tích Đức Kitô đã thiết lập. Con người phải xử dụng nguồn năng lực này, để có thể sống theo Lề Luật của Thiên Chúa và những lời dạy dỗ của Đức Kitô. Trong Phúc Âm Marcô, khi mấy Biệt-phái đến hỏi thử Chúa Giêsu về việc có được ly dị vợ không; dù Chúa Giêsu biết Moses cho phép ly dị vì sự cứng lòng của dân chúng, Ngài vẫn xác quyết ý định của Thiên Chúa khi dựng nên con người ngay từ thuở ban đầu là không được. Lý do: "Sự gì Thiên Chúa đã phối hợp, loài người không được phân ly."
KHAI TRIỂN BÀI ĐỌC:
1/ Bài đọc I: Giao ước hôn nhân nằm trong ý định của Thiên Chúa ngay từ đầu.
1.1/ Ý định của Thiên Chúa cho con người: Đây là trình thuật thứ hai về việc tạo dựng; tác giả chú trọng đặc biệt đến sự kết hiệp giữa người nam và người nữ trong ơn gọi gia đình.
+ Thiên Chúa không muốn con người ở một mình: Trước tiên chúng ta cần chú ý: đây là thánh ý của Thiên Chúa, chứ không phải do ý con người muốn. Con người đầu tiên không than phiền Thiên Chúa vì không có đàn bà; nhưng chính Thiên Chúa nhận ra con người ở một mình là không tốt. Thiên Chúa muốn tìm cho con người một "trợ giúp tương xứng với nó."
+ Chữ người trợ giúp (bôêthos trong LXX, và hêzer trong MT) cũng gây ra nhiều bàn cãi. Có người cho đàn bà chỉ là người trợ giúp của đàn ông; vì thế, các bà không bao giờ được coi là ngang hàng với các ông. Cách cắt nghĩa này không có cơ sở, vì Chúa Giêsu và Chúa Thánh Thần cũng được gọi là Đấng Trợ Giúp con người. Các Ngài phải có uy quyền hơn thì mới trợ giúp con người được.
+ Khó khăn không ở chỗ dùng danh từ người "trợ tá, bạn đồng hành;" nhưng ở chỗ cắt nghĩa cho đúng giới từ trong tiếng Do-thái (kenegdô) và Hy-lạp (kat' auton). Bản Việt-nam của Nhóm PVCGK dịch tương đối sát nghĩa là "tương xứng hay thích hợp;" nhưng tương xứng theo ý nghĩa nào: cách thể lý, trí tuệ, luân lý, hay tinh thần.
1.2/ Tìm một "trợ tá tương xứng" cho con người:
(1) Thiên Chúa thử các thú vật trước: ''Đức Chúa là Thiên Chúa lấy đất nặn ra mọi dã thú, mọi chim trời, và dẫn đến với con người, xem con người gọi chúng là gì: hễ con người gọi mỗi sinh vật là gì, thì tên nó sẽ là thế. Con người đặt tên cho mọi súc vật, mọi chim trời và mọi dã thú, nhưng con người không tìm được cho mình một trợ tá tương xứng.'' Loài vật cho dù có nhiều điểm thích hợp với con người như đẹp đẽ, hiền lành, dễ thương, trung thành; nhưng không thể nào so sánh với con người. Việc đặt tên theo truyền thống Do-thái có nghĩa người đặt tên có quyền trên người bị đặt tên.
(2) Thiên Chúa tạo dựng đàn bà: ''Đức Chúa là Thiên Chúa cho một giấc ngủ mê ập xuống trên con người, và con người thiếp đi. Rồi Chúa rút một cái xương sườn của con người ra, và lắp thịt thế vào. Đức Chúa là Thiên Chúa lấy cái xương sườn đã rút từ con người ra, làm thành một người đàn bà và dẫn đến với con người.''
(3) Phản ứng của người đàn ông: Con người nói: "Phen này, đây là xương bởi xương tôi, thịt bởi thịt tôi! Nàng sẽ được gọi là đàn bà, vì đã được rút từ đàn ông ra." Ông nhận ra ngay nàng là một phần của thân thể mình. Ông muốn sống gắn bó với nàng hơn bất kỳ ai khác. Trình thuật kết thúc với kết luận: ''Bởi thế, đàn ông sẽ lìa cha mẹ mà gắn bó với vợ mình, và cả hai thành một thịt.''
2/ Bài đọc II: Đức Giêsu trải qua gian khổ để dẫn đưa con người tới nguồn ơn cứu độ.
2.1/ Đức Kitô trải qua Cuộc Thương Khó để đền tội cho con người: Bản dịch của PVGK có thể gây hiểu lầm khi dùng chữ "con người;" bản Hy-lạp nói rõ là Chúa Giêsu: ''Nhưng Chúa Giêsu đã bị hạ thấp hơn các thiên thần trong một thời gian ngắn, thì chúng ta lại thấy được Thiên Chúa ban vinh quang danh dự làm mũ triều thiên, bởi vì Ngài đã cam chịu tử hình: Con Người đó, chính là Đức Giêsu. Thật vậy, Đức Giêsu đã phải nếm sự chết, là để cho mọi người được cứu độ, nhờ ơn Thiên Chúa.''
Để con người đạt được ơn cứu độ, trước tiên, Chúa Giêsu phải gánh tội và hình phạt cho con người, bằng cách chấp nhận đau khổ qua Cuộc Thương Khó của Ngài. Một khi đã được tha tội, con người được hòa giải với Thiên Chúa.
2.2/ Đức Kitô không chỉ tha tội; nhưng còn thánh hóa con người: Tác giả Thư Do-thái xác quyết điều này: ''Thật vậy, Đấng thánh hoá là Đức Giêsu, và những ai được thánh hoá đều do một nguồn gốc. Vì thế, Người đã không hổ thẹn gọi họ là anh em.'' Mặc dù Chúa Giêsu đã gánh tội và ơn cứu độ giờ đây là của con người; nhưng họ vẫn phải chứng minh cho Thiên Chúa niềm tin vào Đức Kitô bằng cuộc sống chứng nhân; chẳng hạn, trung thành trong ơn gọi gia đình, tu sĩ, hay linh mục. Để có sức mạnh làm những điều này, Đức Kitô thiết lập các Bí-tích.
Nhiều người ngày nay đã quên hay không biết sự cần thiết của các Bí-tích trong cuộc đời; nhất là hai Bí-tích: (1) Thánh Thể: Đây là Bí-tích ban sức mạnh để con người có thể đương đầu với các cám dỗ, khó khăn, và thử thách trong cuộc đời. (2) Hòa Giải: giúp con người nhận ra các tội lỗi mình đã xúc phạm đến Thiên Chúa và đến tha nhân; đồng thời nó cũng giúp con người dễ thông cảm, tha thứ, và giải quyết các xung đột trong đời sống gia đình.
3/ Phúc Âm: Vấn đề ly dị và có con.
3.1/ Yếu đuối của con người: Có mấy người Pharisees đến gần Đức Giêsu và hỏi rằng: "Thưa Thầy, chồng có được phép rẫy vợ không?" Họ hỏi thế là để thử Người.
(1) Luật của Moses: Chúa Giêsu hỏi: "Thế ông Moses đã truyền dạy các ông điều gì?" Họ trả lời: "Ông Moses đã cho phép viết giấy ly dị mà rẫy vợ." Đức Giêsu nói rõ lý do có luật này của Moses:: "Chính vì các ông lòng chai dạ đá, nên ông Moses mới viết điều răn đó cho các ông.''
(2) Tại sao Giáo Hội cho phép ly dị, nếu đó là Luật Thiên Chúa? Chúng ta cần phân biệt hai điều: Thứ nhất, lý tưởng mà Thiên Chúa muốn con người đạt tới. Lý tưởng này không bao giờ thay đổi; và thực tế cũng chứng minh nhiều người đã đạt tới lý tưởng này. Nhiều cặp vợ chồng đã trung thành với nhau đến khi chết, dù phải trải qua bao gian khổ. Thứ hai, yếu đuối và tội lỗi làm con người không đạt tới lý tưởng của Thiên Chúa. Khi con người không đạt được lý tưởng, không có nghĩa là lý tưởng của Thiên Chúa muốn không thể thực hiện được, hay Lề Luật của Thiên Chúa sai; nhưng con người phải khiêm nhường thống hối vì yếu đuối tội lỗi của mình. Hội Thánh gỡ dây hôn phối là vì những tội lỗi, yếu đuối, và cứng lòng của con người. Có nhiều lý do để gỡ; một cách tổng quát là không chịu học hỏi hay coi thường Bí-tích Hôn Phối như:
- Cha mẹ ép buộc con cái phải lấy người chúng không muốn, vì cha mẹ tham quyền cao, chức trọng, hay lợi nhuận vật chất. Trường hợp này, con cái thiếu tự do để kết hôn.
- Con người kết hôn bừa bãi: Đa số trường hợp Giáo Hội giải quyết là trường hợp "lack of form," có nghĩa: không theo Lề Luật của Giáo Hội, không thành Bí-tích. Chẳng hạn, làm hôn thú giả vì muốn xuất ngoại, vì tham tiền, hay vì bất cứ lý do nào khác.
- Vợ chồng không chịu tìm hiểu nhau kỹ lưỡng trước khi kết hôn: lấy người đã có gia đình, lấy người bị ngăn trở không được kết hôn, lấy người không cùng tôn giáo.
- Vợ chồng không sống đức tin và không chịu lãnh nhận ơn thánh từ các Bí-tích: Làm sao có khôn ngoan, sức mạnh để vượt qua khó khăn trong cuộc sống?
- Con người không có sức chịu đau khổ: Trường hợp của những người bị người phối ngẫu ly dị. Với ơn thánh, con người có thể vượt qua sự cô đơn và những đòi hỏi của thân xác.
3.2/ Vấn đề với con trẻ: Người ta dẫn trẻ em đến với Đức Giêsu, để Người đặt tay trên chúng. Nhưng các môn đệ la rầy chúng. Thấy vậy, Người bực mình nói với các ông: "Cứ để trẻ em đến với Thầy, đừng ngăn cấm chúng, vì Nước Thiên Chúa là của những ai giống như chúng. Thầy bảo thật anh em: Ai không đón nhận Nước Thiên Chúa với tâm hồn một trẻ em, thì sẽ chẳng được vào." Rồi Người ôm lấy các trẻ em và đặt tay chúc lành cho chúng.
Một vấn đề khó khăn nữa mà các vợ chồng ngày nay hay than phiền là không muốn có con, hay chỉ muốn có 2, 3 con; một số lý do họ nêu ra:
(1) Sợ con trẻ gây phiền hà: Đây là lý do các môn đệ sợ ngăn cản chúng đến với Chúa Giêsu. Người lớn hôm nay sợ trẻ con hàn nhà làm họ phải thu dọn tối ngày, sợ con trẻ ồn ào làm mất sự yên tĩnh, sợ chúng khóc đêm làm mất giấc ngủ, sợ chúng phá phách làm hư hại đồ dùng trong nhà.
(2) Sợ phải săn sóc con trẻ: Con trẻ không tự săn sóc chúng, mà chỉ trông cậy hoàn toàn vào người lớn. Nhiều cặp vợ chồng sợ phải tốn thời gian để chăm sóc trẻ em sẽ không còn giờ lo cho bản thân họ.
(3) Những ngụy biện của con người ngày nay để không có nhiều con trẻ: Sinh nhiều quá lấy chỗ đâu mà sống; khả năng tài chánh không có để lo cho con; sợ con trẻ hư, nên thà đừng có tốt cho chúng hơn.
Đàng sau những lý do này là chủ nghĩa cá nhân và tính ích kỷ. Con người hôm nay sợ phải tốn thời gian săn sóc và dạy dỗ con trẻ, sẽ không còn giờ để săn sóc mình và đi đây đó. Họ sợ sinh con vóc dáng sẽ xấu đi. Họ sợ tốn tiền cho con sẽ không còn thời giờ lo cho mình.
ÁP DỤNG TRONG CUỘC SỐNG:
- Khi Thiên Chúa truyền chúng ta làm điều gì, chúng ta có khả năng làm chuyện đó. Chúng ta cần phải tin tưởng và làm theo những gì Chúa dạy, tập luyện để sống nhân đức, và tận dụng các ơn thánh Thiên Chúa ban qua các Bí-tích.
- Chúng ta cần học hỏi để biết cách lãnh nhận và hiệu quả của các Bí-tích mang lại; nhất là phải biết thường xuyên lãnh nhận các Bí-tích mỗi khi có thể.
Linh mục Anthony Đinh Minh Tiên, OP
- Viết bởi Linh mục Anthony Đinh Minh Tiên, OP
Thứ Bảy Tuần 26 TN1
Bài đọc: Bar 4:5-12, 27-29; Lc 10:17-24.
GIỚI THIỆU CHỦ ĐỀ: Hãy học hỏi nơi Kinh Thánh để hiểu biết các mầu nhiệm Nước Trời.
Trong vũ trụ có quá nhiều bí nhiệm: có những bí nhiệm con người cần phải học hỏi và cần thời gian để nhận ra, như trái đất xoay chung quanh mặt trời, các định luật về chuyển động của Newton; nhưng cũng có những mầu nhiệm con người không thể hiểu nổi nếu Thiên Chúa không mặc khải, như mầu nhiệm Chúa Ba Ngôi, Ngôi Hai Cứu Chuộc, hai bản thể của Đức Kitô... Khi con người không hiểu hay chưa hiểu, các mầu nhiệm tự nó vẫn có trong vũ trụ; chứ không phải chỉ khi con người hiểu biết, các mầu nhiệm mới bắt đầu có.
Các Bài Đọc hôm nay tập trung trong việc hiểu biết các mầu nhiệm của Thiên Chúa. Trong Bài Đọc I, tiên-tri Baruch muốn con cái Israel hiểu biết về mầu nhiệm đau khổ: khi Thiên Chúa để quân thù tiêu diệt quốc gia, phá hủy Đền Thờ, và mang dân chúng lưu đày, không phải vì Ngài không thương dân, không phải vì Ngài không có quyền để cứu dân; nhưng là để dân có cơ hội nhận ra tội lỗi của mình và ăn năn trở lại với Thiên Chúa. Nếu không có đau khổ, con cái Israel sẽ không nhận ra tình thương Thiên Chúa, sẽ sống xa Ngài, và sẽ phải chịu đau khổ đời đời. Trong Phúc Âm, các môn đệ vui mừng khi thấy mình có uy quyền chữa lành và khuất phục ma quỷ; Chúa Giêsu muốn hướng lòng các ông về mầu nhiệm Nước Trời. Các ông nên vui mừng hơn vì các ông đã hiểu được mầu nhiệm Nước Trời, và tên các ông được ghi trên trời.
KHAI TRIỂN BÀI ĐỌC:
1/ Bài đọc I: Hãy cố gắng hiểu mầu nhiệm đau khổ trong cuộc đời.
1.1/ Tại sao con cái Israel bị lưu đày? Lưu đày là cơ hội cho con cái Israel nhận ra hai điều:
(1) Tội của họ đã xúc phạm đến Thiên Chúa: Tiên-tri Baruch nêu rõ lý do của lưu đày: "Các ngươi có bị trao cho quân thù âu cũng vì đã chọc giận Thiên Chúa. Quả thật, khi tế lễ cho ma quỷ thay vì cho Thiên Chúa, các ngươi đã khiêu khích Đấng tạo dựng nên mình." Thiên Chúa để những đau khổ xảy ra không phải vì Ngài không yêu thương họ; nhưng để họ nhận ra những tội lỗi họ đã xúc phạm đến Thiên Chúa. Tiên-tri Baruch cũng như các tiên-tri khác khuyên dân chúng để họ đừng thất vọng, đánh mất niềm tin nơi Thiên Chúa; nhưng biết nhận ra tội lỗi và ăn năn trở lại: ''Can đảm lên nào, hỡi dân Ta! Hỡi những kẻ mang danh Israel! Các ngươi có bị bán cho dân ngoại, không phải là để bị diệt vong.''
(2) Tình thương Thiên Chúa dành cho họ: Thiên Chúa sửa phạt dân chúng không phải vì ghét bỏ họ; ngược lại, Ngài sửa dạy vì Ngài yêu thương họ. Tiên-tri Baruch ví Thiên Chúa như một người Cha và Jerusalem như một người mẹ, phải đau khổ thế nào khi phải sửa phạt con cái mình: ''Thiên Chúa vĩnh cửu, Đấng nuôi dưỡng các ngươi, các ngươi đành quên lãng; còn Jerusalem, mẹ sinh thành các ngươi, các ngươi làm cho mẹ phải buồn sầu; buồn vì chứng kiến cơn thịnh nộ của Thiên Chúa giáng xuống trên đoàn con, và mẹ đã than thở: Hãy nghe đây, các thành lân cận của Sion, Thiên Chúa đã giáng xuống trên tôi một nỗi buồn thê thảm.''
1.2/ Phải nỗ lực quay trở về với Thiên Chúa: Một khi con cái Israel đã nhận ra tội lỗi của họ, họ cần phải quay về với tình yêu Thiên Chúa và với tình mẹ Jerusalem: ''Các con ơi, can đảm lên nào! Hãy cứ kêu lên cùng Thiên Chúa, vì Đấng đã giáng hoạ sẽ lại nhớ đến các con. Xưa các con chỉ nghĩ đến chuyện xa lìa Thiên Chúa, thì một khi trở về, các con phải nỗ lực gấp mười mà tìm kiếm Chúa. Vì Đấng đã giáng hoạ xuống các con, chính Người sẽ giải thoát mà ban cho các con niềm vui vĩnh cửu.'' Đau khổ chỉ dành cho những đứa con chưa nhận ra tình yêu Thiên Chúa, tình yêu cha mẹ, và tình yêu của những người chung quanh; một khi con người đã hiểu biết và sống đúng mối liên hệ với Thiên Chúa và với tha nhân, đau khổ không còn cần thiết nữa.
2/ Phúc Âm: Cha đã giấu kín không cho bậc khôn ngoan thông thái biết những điều này, nhưng lại mặc khải cho những người bé mọn.
2.1/ Vui mừng thực sự vì tên anh em đã được ghi trên trời: Nhóm Bảy Mươi (Hai) trở về, tường thuật những gì họ đã thực hiện, và hớn hở nói với Chúa Giêsu: "Thưa Thầy, nghe đến danh Thầy, cả ma quỷ cũng phải khuất phục chúng con."
Phản ứng lạc quan và vui mừng của các môn đệ khi thành công là điều có thể hiểu được; nhưng Chúa Giêsu cảnh cáo các ông phải đề phòng sự lạc quan này: "Thầy đã thấy Satan như một tia chớp từ trời sa xuống. Đây, Thầy đã ban cho anh em quyền năng để đạp lên rắn rết, bọ cạp và mọi thế lực Kẻ Thù, mà chẳng có gì làm hại được anh em. Tuy nhiên, anh em chớ mừng vì quỷ thần phải khuất phục anh em, nhưng hãy mừng vì tên anh em đã được ghi trên trời."
Chúa Giêsu chỉ rõ cho các ông thấy đâu là lý do chính của sự vui mừng, vì các ông được bảo đảm phần rỗi linh hồn. Tự hào về những thành công theo cách thức thế gian rất nguy hiểm, vì Satan có thể dùng tính tự hào này mà phá hủy công trình của Thiên Chúa và kéo các ông xa Chúa.
2.2/ Mầu nhiệm Nước Trời chỉ được hiểu bởi những kẻ bé mọn: Trình thuật kể: ''Ngay giờ ấy, được Thánh Thần tác động, Đức Giêsu hớn hở vui mừng và nói: "Lạy Cha là Chúa Tể trời đất, con xin ngợi khen Cha, vì Cha đã giấu kín không cho bậc khôn ngoan thông thái biết những điều này, nhưng lại mặc khải cho những người bé mọn. Vâng, lạy Cha, vì đó là điều đẹp ý Cha. Cha tôi đã giao phó mọi sự cho tôi. Và không ai biết người Con là ai, trừ Chúa Cha, cũng như không ai biết Chúa Cha là ai, trừ người Con, và kẻ mà người Con muốn mặc khải cho.""
(1) Bé mọn là điều kiện cần thiết để hiểu mầu nhiệm: Danh từ "bé mọn" không chỉ được dùng để chỉ trẻ thơ, mà còn chỉ những người chưa có kinh nghiệm nhiều trên đời. Khác với quan niệm của người thế gian cho rằng phải khôn ngoan thông thái để hiểu biết những điều kỳ diệu trong trời đất; Chúa Giêsu đòi khán giả của Ngài phải có lòng khiêm nhường, cởi mở, và theo sự hướng dẫn của Thánh Thần để hiểu các mầu nhiệm. Một tâm hồn kiêu ngạo, khép kín, và chỉ tin nơi trí tuệ của mình sẽ không thể hiểu được những mầu nhiệm của Thiên Chúa.
(2) Người khôn ngoan thông thái không nhận ra: Nhiều người có thể dựa vào lời Chúa Giêsu nói ở đây để biện hộ cho Thuyết Tiền Định; vì nếu Chúa giấu hay Chúa không mặc khải, làm sao con người có thể biết được. Chúng ta biết đây chỉ là một lối nói của người Do-thái, khi họ quy định mọi sự về cho Thiên Chúa. Chúa rao giảng Tin Mừng là cho tất cả mọi người; nhưng không phải mọi khán giả đều hiểu được những gì Chúa nói. Dụ ngôn Người Gieo Giống là một điển hình; nếu khán giả không chịu dọn dẹp, chuẩn bị tinh thần đón nhận Lời Chúa, làm sao họ có thể hiểu và sinh lợi ích được?
(3) Không phải mọi người đều có cơ hội như các môn đệ: Rồi Đức Giêsu quay lại với các môn đệ và bảo riêng: "Phúc thay mắt nào được thấy điều anh em thấy! Quả vậy, Thầy bảo cho anh em biết: nhiều ngôn sứ và nhiều vua chúa đã muốn thấy điều anh em đang thấy, mà không được thấy, muốn nghe điều anh em đang nghe, mà không được nghe." Các môn đệ được may mắn sống đồng thời với Chúa, nhưng chúng ta cũng được may mắn nghe những gì các thánh ký tường thuật. Nếu Chúa cho nhiều, Ngài cũng đòi lại nhiều.
ÁP DỤNG TRONG CUỘC SỐNG:
- Chúng ta cần khiêm nhường học hỏi để hiểu biết những mầu nhiệm trong trời đất. Một thái độ kiêu hãnh sẽ ngăn cản chúng ta trong việc hiểu biết những mầu nhiệm của Thiên Chúa.
- Hiểu biết mầu nhiệm mới chỉ là bước đầu, chúng ta cần phải sống theo mầu nhiệm mặc khải, chúng mới sinh lợi ích cho cuộc đời chúng ta.
Linh mục Anthony Đinh Minh Tiên, OP
- Viết bởi Linh mục Anthony Đinh Minh Tiên, OP
Thứ Sáu Tuần 26 TN1
Bài đọc: Bar 1:15-22; Mt 18:1-5, 10.
GIỚI THIỆU CHỦ ĐỀ: Các thiên thần sẽ gìn giữ bạn trên khắp nẻo đường.
Nhìn lại sự quan phòng của Thiên Chúa, con người không thể kêu trách Ngài được điều gì; vì Ngài đã làm mọi sự để con người có thể sống bình an và hạnh phúc. Ngài đã ban hành Lề Luật để con người biết sống đúng mối liên hệ với Thiên Chúa và với tha nhân. Khi con người bất tuân Lề Luật, Ngài sai ngôn-sứ đến để khiển trách và kêu gọi con người quay về nẻo chính đường ngay; trước khi sửa phạt con người. Hơn nữa, Thiên Chúa còn ban cho mỗi tín hữu một thiên thần bản mệnh để cùng đồng hành, săn sóc, và bảo vệ con người.
Các Bài Đọc hôm nay chú trọng đặc biệt đến sự quan phòng của Thiên Chúa và sự cứng lòng trong tội lỗi của con người. Trong Bài Đọc I, tiên-tri Baruc phải thú nhận những gì Thiên Chúa sửa phạt con cái Israel là xứng đáng với tội lỗi của họ. Trong Phúc Âm, Chúa Giêsu dạy dỗ các môn đệ phải tránh khuynh hướng muốn được quyền cao chức trọng theo kiểu loài người, nhưng phải biết khiêm nhường như trẻ nhỏ và phục vụ những người cô thân cô thế. Hơn nữa, người môn đệ phải tuyệt đối tránh đối xử bất công với những hạng người này, vì thiên thần của họ hằng bảo vệ họ trước ngai của Thiên Chúa.
KHAI TRIỂN BÀI ĐỌC:
1/ Bài đọc I: Chúng tôi đã không vâng nghe tiếng Đức Chúa là Thiên Chúa chúng tôi.
Tiên-tri Baruch là một kinh-sư, người đồng thời với tiên-tri Jeremiah. Nhiều người còn cho ông là thư ký của Jeremiah. Cả hai sống trong một giai đoạn rất khó khăn của vương quốc Judah, khi cả nước bị rơi vào tay vua Babylon, Đền Thờ bị phá hủy, và rất nhiều người cùng với vua quan bị lưu đày qua Babylon. Trình thuật của ông hôm nay là một lời thú tội, sau khi đã cẩn thận xét mình về mối tương quan giữa Thiên Chúa và con cái Israel.
1.1/ Tình thương Thiên Chúa và sự dạy dỗ của Ngài: Khi nhìn lại quá khứ, Baruch nhận ra tình thương của Thiên Chúa dành cho con cái Israel quá cao vời: Ngài đã đưa ra khỏi đất nô lệ Ai-cập, dẫn đưa họ vào miền Đất Hứa tràn đầy sữa và mật mà Ngài đã hứa với các tổ-phụ. Ngài đã thân hành ban cho dân Thập Giới qua trung gian Moses, để dân chúng biết sống đúng mối liên hệ vơi Thiên Chúa và với tha nhân. Khi vua quan và dân chúng đi trật đường, Ngài đã gởi các tiên-tri tới để sửa dạy; không phải chỉ một người hay một lần, mà rất nhiều người và nhiều lần. Họ không những không chịu nghe, mà còn xỉ nhục và đánh đập các tiên-tri nữa.
1.2/ Tội lỗi và hình phạt: Trong khi Thiên Chúa thương yêu, dạy bảo, và tìm mọi cách để làm cho con cái Israel ăn năn trở về; họ vẫn cứng lòng và ngoan cố trong tội.
(1) Tội lỗi con người: Tiên-tri Baruch thú nhận: ''Tất cả chúng tôi đã phạm tội trước nhan Đức Chúa.'' Một số tội ông liệt kê ra như sau:
+ Tội không vâng phục: Chúng tôi đã không nghe tiếng Đức Chúa là Thiên Chúa, không vâng giữ các mệnh lệnh Đức Chúa đã đề ra.
+ Tội cứng lòng không chịu nghe lời các ngôn sứ sửa dạy: Chúng tôi đã không tuân giữ mọi lời các ngôn sứ Người đã sai đến với chúng tôi.
+ Hai tội chính của con cái Israel được nhắc đi nhắc lại trong sách các tiên-tri: (1) Bỏ Thiên Chúa để chạy theo các thần ngoại bang; và (2) sống bất công với tha nhân.
(2) Hình phạt: Thiên Chúa, qua ông Moses, đã báo trước hình phạt xảy ra nếu không chịu giữ các điều răn là phải chết. Giờ đây, khi toàn dân phải hổ ngươi bẽ mặt trong chốn lưu đày là xứng đáng với tội lỗi của mình; họ không được than trách Thiên Chúa.
2/ Phúc Âm: Các thiên thần của họ ở trên trời không ngừng chiêm ngưỡng nhan Cha Thầy.
2.1/ Phục vụ trẻ nhỏ là điều kiện vào Nước Trời: Mong ước được nổi tiếng nhất, được trở thành người quan trọng nhất, là ước mơ của nhiều người trong thế gian. Mong ước này cũng xảy ra nơi các môn đệ của Chúa Giêsu, khi các ông lại gần hỏi Ngài rằng: "Thưa Thầy, ai là người lớn nhất trong Nước Trời?"
Đức Giêsu liền gọi một em nhỏ đến, đặt vào giữa các ông và bảo: "Thầy bảo thật anh em: nếu anh em không trở lại mà nên như trẻ nhỏ, thì sẽ chẳng được vào Nước Trời. Vậy ai tự hạ, coi mình như em nhỏ này, người ấy sẽ là người lớn nhất Nước Trời. Còn ai tiếp đón một em nhỏ như em này vì danh Thầy, là tiếp đón chính Thầy.'' Qua câu rả lời của Chúa Giêsu, chúng ta nhận ra hai điều quan trọng:
(1) Phải khiêm nhường, tự hạ, mới được vào Nước Trời: Trẻ thơ không mong được quyền cao chức trọng, chúng bằng lòng với sự yêu thương, chăm sóc, và bảo vệ của cha mẹ chúng. Người môn đệ của Đức Kitô cũng thế, tại sao cần phải có quyền cao chức trọng khi đã được Thiên Chúa yêu thương, dạy dỗ, và quan phòng cho mọi sự! Mong ước được nổi tiếng chẳng những không giúp gì cho người môn đệ, mà còn làm cho người môn đệ dần dần xa Chúa. Mọi người chúng ta đã quá rõ lý do sự sa ngã của Lucifer và của cặp vợ chồng đầu tiên rồi.
(2) Phải phục vụ trẻ nhỏ vì danh Chúa: Một tính xấu nữa nơi con người là muốn được phục vụ, chứ không muốn phải phục vụ người khác. Chúa Giêsu dạy các môn đệ của Ngài phải khử trừ thói xấu này bằng cách xả thân phục vụ trẻ nhỏ, và những người cô thân cô thế vì danh Đức Kitô. Những người này không có gì để trả lại cho các môn đệ; đó chính là động lực mà Chúa Giêsu muốn các môn đệ phục vụ: để Thiên Chúa trả công cho anh em.
2.2/ Mỗi người tín hữu đều có một thiên thần bản mệnh: Niềm tin vào thiên thần bản mệnh được Giáo Hội dựa trên những gì Chúa Giêsu tuyên bố hôm nay: "Anh em hãy coi chừng, chớ khinh một ai trong những kẻ bé mọn này; quả thật, Thầy nói cho anh em biết: các thiên thần của họ ở trên trời không ngừng chiêm ngưỡng nhan Cha Thầy, Đấng ngự trên trời.''
(1) Mọi người đều được Thiên Chúa bảo vệ: Thiên Chúa dùng các thiên thần để giúp Ngài trong việc điều khiển thế giới và con người. Mỗi tín hữu, không cần biết nhỏ bé và tầm thường đến đâu, đều có một thiên thần để bảo ban, dạy dỗ, và phù hộ trong cuộc đời. Mỗi tín hữu phải biết lắng nghe tiếng thiên thần của mình, để có thể tránh hậu quả tai hại xảy ra trong cuộc đời.
(2) Động đến họ là động đến Thiên Chúa: Nhiều người có khuynh hướng ức hiếp kẻ cô thân cô thế, vì nghĩ họ không có đủ khôn ngoan và sức mạnh chống lại mình. Những lời của Chúa Giêsu tuyên bố hôm nay là lời cảnh cáo cho những ai suy nghĩ như thế. Cho dẫu họ có thể ức hiếp người cô thân cô thế ở đời này, nhưng họ sẽ không thoát nổi lời tố cáo của thiên thần bản mệnh trước tòa án của Thiên Chúa.
ÁP DỤNG TRONG CUỘC SỐNG:
- Chúng ta hãy vâng nghe những lời chỉ dạy của Thiên Chúa qua Thập Giới và hướng dẫn của Giáo Hội; để có thể tránh tội lỗi và hình phạt gây ra bởi tội.
- Chúng ta hãy luôn ý thức sự hiện diện và lắng nghe tiếng của thiên thần bản mệnh, để tránh được chước cám dỗ của ma quỉ và nhưng nguy hiểm của cuộc đời.
- Chúng ta hãy bằng lòng với sự yêu thương, dạy dỗ, và bảo vệ của Thiên Chúa. Mơ ước được quyền cao chức trọng chẳng sinh lợi ích gì cho phần rỗi linh hồn của chúng ta.
Linh mục Anthony Đinh Minh Tiên, OP
- Viết bởi Linh mục Anthony Đinh Minh Tiên, OP
Thứ Năm Tuần 26 TN1, Năm B
Bài đọc: Neh 8:1-4a, 5-6, 7b-12; Lk 10:1-12.
GIỚI THIỆU CHỦ ĐỀ: Nhiệt thành với việc truyền giáo cho dân chúng.
Thánh Têrêsa Hài Đồng Giêsu mà chúng ta mừng hôm nay, được Giáo Hội đặt làm quan thầy của những người truyền giáo; vì chị rất thương yêu và quan tâm đến linh hồn của những người chưa nhận biết Đức Kitô. Chị ao ước được giống như thánh Phaolô, đi các nơi để rao giảng Tin Mừng và thiết lập các giáo đoàn; nhưng vì sức khỏe và khả năng không cho phép, chị nài xin Thiên Chúa chấp nhận tình yêu thương của chị dành cho những nhà truyền giáo và những người chưa nhận biết Thiên Chúa. Chị xin dâng mỗi một mũi kim khâu vá của chị để xin Thiên Chúa cứu một linh hồn.
Các Bài Đọc hôm nay cho chúng ta thấy sự khẩn thiết của Lời Chúa trong việc dạy dỗ dân chúng biết Thiên Chúa, và trong việc hoán cải lòng dân trở về với Thiên Chúa. Trong Bài Đọc I, thống đốc Nehemiah và tư tế Ezra, sau khi đã dựng lại Đền Thờ và xây dựng tường thành chung quanh, đã nghĩ ngay đến việc dạy dỗ Lề Luật cho dân chúng trong Kinh Thánh. Họ tập họp tất cả con cái Israel lại, những người có đủ trí khôn để hiểu Lời Chúa, để học hỏi Kinh Thánh suốt từ sáng tới trưa. Hậu quả là dân chúng nhận ra và khóc than tội lỗi của họ đã phản bội tình yêu Thiên Chúa dành cho họ. Trong Phúc Âm, Chúa Giêsu không chỉ sai đi Nhóm Mười Hai, mà còn sai đi Nhóm Bảy Mươi; để họ chuẩn bị trước cho Chúa Giêsu đến gặp gỡ dân chúng. Ngài dặn họ đừng để bất cứ điều gì ngăn cản Triều Đại của Thiên Chúa đến với con người.
KHAI TRIỂN BÀI ĐỌC:
1/ Bài đọc I: Ông đọc sách Luật trước mặt đàn ông, đàn bà, và tất cả các trẻ em đã tới tuổi khôn.
1.1/ Sự quan trọng của Lời Chúa: Là những nhà lãnh đạo khôn ngoan, Nehemiah và Erza biết điều gì cần thiết cho dân chúng: Họ không thể sống đúng nếu không biết đúng; để biết đúng, họ phải học hỏi sự dạy dỗ của Thiên Chúa trong Sách Thánh (Lề Luật). Thói quen nghe Lời Chúa đã bị mất từ khi con cái Israel bị lưu đày; giờ đây, trong ngày Lễ Khánh Thành Đền Thờ, họ phải tập luyện lại thói quen này. Vì thế, "muôn người như một, tụ họp ở quảng trường trước cửa Nước. Họ xin ông Ezra là kinh sư đem sách Luật Moses ra. Đó là Luật Đức Chúa đã truyền cho Israel.
Hôm ấy là ngày mồng một tháng thứ bảy, ông Ezra cũng là tư tế đem sách Luật ra trước mặt cộng đồng gồm đàn ông, đàn bà và tất cả các trẻ em đã tới tuổi khôn. Ông đứng ở quảng trường phía trước cửa Nước, đọc sách Luật trước mặt đàn ông, đàn bà và tất cả các trẻ em đã tới tuổi khôn. Ông đọc từ sáng sớm tới trưa, và toàn dân lắng tai nghe sách Luật."
1.2/ Các thầy Lêvi giải thích Lề Luật cho dân: Sau khi đã nghe tư tế Ezra long trọng công bố Lời Chúa và chúc tụng Đức Chúa là Thiên Chúa vĩ đại, và toàn dân giơ tay lên đáp rằng: "Amen! Amen!" Rồi họ sấp mặt sát đất mà thờ lạy Đức Chúa. Lời Chúa không phải cứ nghe là hiểu ngay. Để giúp dân chúng hiểu thấu Lời Chúa, các thầy Lêvi liên tục giải thích Lề Luật cho dân, trong khi dân vẫn đứng tại chỗ. Trình thuật nói rõ, vì "ông Ezra và các thầy Lêvi đọc rõ ràng và giải thích sách Luật của Thiên Chúa, nhờ thế mà toàn dân hiểu được những gì các ông đọc."
(1) Dân chúng hối hận và khóc lóc, vì họ đã xúc phạm đến Thiên Chúa: Mục đích của việc rao giảng Kinh Thánh là giúp dân nhận ra hai điều: Thứ nhất, tình thương của Thiên Chúa dành cho họ. Ngài luôn quan tâm đến cuộc sống của họ, nhất là trong thời gian lưu đày. Thứ hai, giúp dân nhận ra tội lỗi của họ đã xúc phạm đến Thiên Chúa và tha nhân; tội lỗi là lý do của việc lưu đày và mọi sự khốn khổ mà dân phải chịu. Ăn năn thống hối là hậu quả của việc rao giảng Tin Mừng. Nếu không có ăn năn thống hối, lời rao giảng chưa đạt được mục đích.
(2) Dân chúng vui mừng và sẵn sàng chia cơm sẻ áo trong ngày thánh hiến Đền Thờ: Việc ăn năn thống hối dẫn tới việc đền bù các tội lỗi dân chúng đã phạm. Hai tội chính mà con cái Israel đã làm là quay lưng lại với Thiên Chúa và đối xử bất công với tha nhân. Sau khi đã nhận ra tội và hòa giải với Thiên Chúa, con cái Israel cần phải hòa giải tội bất công với nhau bằng cách san sẻ cơm bánh cho những anh chị em nghèo đói. Ông Ezra khuyên bảo dân chúng: "Anh em hãy về ăn thịt béo, uống rượu ngon và gửi phần cho những người không sẵn của ăn, vì hôm nay là ngày thánh hiến cho Chúa chúng ta. Anh em đừng buồn bã, vì niềm vui của Đức Chúa là thành trì bảo vệ anh em."
2/ Phúc Âm: Triều Đại Thiên Chúa đã đến gần.
2.1/ Hãy làm cho Triều Đại Thiên Chúa mau đến: Ý định muôn đời của Thiên Chúa là làm sao cho mọi người nhận biết và tin vào Đức Kitô, để được hưởng ơn cứu độ. Ý định này không thể hoàn tất bởi một mình Đức Kitô; nhưng là do nỗ lực góp phần của tất cả mọi người. Chính Chúa Giêsu đã chỉ định bảy mươi hai người khác, và sai các ông cứ từng hai người một đi trước, vào tất cả các thành, các nơi mà chính Người sẽ đến. Nhiệm vụ của các ông cũng giống như Gioan Tẩy Giả, là chuẩn bị tâm hồn con người sẵn sàng để tiếp rước Đức Kitô.
Trước khi sai đi, Người dặn dò các ông những điều quan trọng: "Này Thầy sai anh em đi như chiên con đi vào giữa bầy sói. Đừng mang theo túi tiền, bao bị, giày dép. Cũng đừng chào hỏi ai dọc đường." Mục đích chính mà Chúa sai các môn đệ đi là để rao giảng Tin Mừng, các ông phải loại bỏ tất cả những gì ngăn cản việc rao giảng Tin Mừng, như các cám dỗ: tìm kiếm lợi nhuận của cải vật chất, ăn ngon mặc đẹp, ham uy quyền danh vọng, ngay cả việc tán gẫu nhảm.
2.2/ Phản ứng của những người nghe giảng Tin Mừng: Người loan báo Tin Mừng là người mang bình an cho dân chúng. Chúa Giêsu dặn các môn đệ: Vào bất cứ nhà nào, trước tiên anh em hãy nói: "Bình an cho nhà này!" Nếu ở đó, có ai đáng hưởng bình an, thì bình an của anh em sẽ ở lại với người ấy; bằng không thì bình an đó sẽ trở lại với anh em.
(1) Những người tiếp nhận: Trong sự quan phòng của Thiên Chúa, cả người rao giảng lẫn người nghe đều có liên hệ hỗ tương với nhau: nhà rao giảng mang Lời Chúa và sự bình an đến cho dân chúng; để đền bù lại, dân chúng lo sức khỏe cho nhà rao giảng bằng cách cung cấp lương thực và những nhu cầu vật chất. Mỗi người một phần vụ giúp cho việc loan truyền Tin Mừng. Vì lý do này mà Chúa dặn các môn đệ: ''Hãy ở lại nhà ấy, và người ta cho ăn uống thức gì, thì anh em dùng thức đó, vì làm thợ thì đáng được trả công. Đừng đi hết nhà nọ đến nhà kia. Vào bất cứ thành nào mà được người ta tiếp đón, thì cứ ăn những gì người ta dọn cho anh em. Hãy chữa những người đau yếu trong thành, và nói với họ: "Triều Đại Thiên Chúa đã đến gần các ông."''
(2) Những người từ chối: ''Nhưng vào bất cứ thành nào mà người ta không tiếp đón, thì anh em ra các quảng trường mà nói: "Ngay cả bụi trong thành các ông dính chân chúng tôi, chúng tôi cũng xin giũ trả lại các ông. Tuy nhiên các ông phải biết điều này: Triều Đại Thiên Chúa đã đến gần." Thầy nói cho anh em hay: trong ngày ấy, thành Sodom còn được xử khoan hồng hơn thành đó." Từ chối nhà rao giảng Tin Mừng là phải lãnh nhận hậu quả nặng hơn hậu quả của dân thành Sodom. Theo Sáng Thế Ký, thành Sodom đã bị lửa từ trời xuống thiêu rụi thành tro bụi.
ÁP DỤNG TRONG CUỘC SỐNG:
- Chúng ta sống đời này không phải để vơ vét của cải để trở nên giầu có; nhưng để cứu rỗi phần linh hồn của chúng ta và của mọi người qua việc học hỏi và rao truyền Tin Mừng.
- Của cải Thiên Chúa ban là để cho mọi người hưởng dùng. Chúng ta đừng đối xử bất công để dành của cải; nhưng phải sẵn lòng san sẻ cho các anh chị em đang túng thiếu.
Linh mục Anthony Đinh Minh Tiên, OP
- Viết bởi Linh mục Anthony Đinh Minh Tiên, OP
Thứ Tư Tuần 26 TN1
Bài đọc: Neh 2:1-8; Lk 9:57-62.
GIỚI THIỆU CHỦ ĐỀ: Phải đặt việc của Thiên Chúa lên trên hết.
Tính ích kỷ và hưởng thụ làm con người xao lãng bổn phận đối với Thiên Chúa và với tha nhân. Hậu quả là con người sống xa Thiên Chúa và đối xử bất công với đồng loại của mình. Để giúp con người loại bỏ tính ích kỷ và hưởng thụ, con người cần học hỏi để biết mục đích của cuộc đời và những điều kiện cần thiết để đạt được mục đích này.
Các Bài Đọc hôm nay dạy con người phải biết dẹp bỏ tính ích kỷ và hưởng thụ cá nhân để lo việc chung và việc của Thiên Chúa. Trong Bài Đọc I, mặc dù Nehemiah có đầy đủ mọi sự nơi đất khách quê người, lòng ông vẫn sầu buồn mỗi khi nghĩ tới thành thánh Jerusalem hoang tàn đổ nát, nơi mà tổ tiên của ông đã được chôn cất. Ông xin Đức Vua cho về để xây cất lại phần mộ của tổ tiên và dựng lại tường Thành. Trong Phúc Âm, Chúa Giêsu liệt kê 3 thái độ cần có của người môn đệ của Ngài: Thứ nhất, phải biết sống cuộc đời đơn giản để có thời gian và phương tiện làm việc của Chúa. Thứ hai, đừng quá bận tâm đến những người trong gia đình. Thiên Chúa có uy quyền để lo cho thân nhân của những môn đệ của Chúa. Sau cùng, một khi đã theo Đức Kitô, người môn đệ không được tiếc của nhìn lại; nếu không quyết liệt, người môn đệ sẽ dần dần bị cám dỗ để quay đầu trở lại với những lôi cuốn của thế gian.
KHAI TRIỂN BÀI ĐỌC:
1/ Bài đọc I: Thần vui sao được, khi mà thành đô, nơi tổ tiên của thần an nghỉ, đã ra hoang tàn, và cửa thành bị thiêu huỷ.
1.1/ Nỗi buồn của Nehemiah: Ông là người Do-thái tha hương, và là quan Ngự Tửu trong triều đình của vua Artasersex. Nhiệm vụ của quan Ngự Tửu là phải nếm trước mọi thứ ăn uống trước khi nhà vua dùng, để bảo đảm thức ăn ngon và an toàn cho nhà vua. Ông có đủ mọi phương
tiện và của cải vật chất để sống an toàn nơi xứ lạ quê người; nhưng ông đau buồn mỗi khi nghĩ về Thành Jerusalem hoang tàn đổ nát, nơi mà tổ tiên của ông đã tốn bao công lao để xây dựng lên, và giờ đang nằm trong đống gạch vụn đó.
Khi vua Artasersex nhận ra nỗi ưu tư của ông, nhà vua hỏi: "Sao mặt khanh buồn rầu thế? Khanh có đau ốm gì đâu! Hẳn trong lòng phải có chuyện chi buồn lắm!" Nehemiah vô cùng sợ hãi, bèn tâu vua: "Đức vua vạn vạn tuế! Sắc mặt của thần không buồn sao được, khi mà thành đô, nơi tổ tiên của thần an nghỉ, đã ra hoang tàn, và cửa thành bị thiêu huỷ." Vua hỏi: "Vậy khanh muốn gì?" Sau khi Nehemiah cầu xin Thiên Chúa các tầng trời, ông thưa với vua: "Nếu đẹp lòng đức vua và nếu bề tôi của ngài là người vừa ý ngài, thì xin cử thần đi Judah, đến thành có phần mộ của tổ tiên thần để xây dựng lại." Vua bằng lòng cho ông đi, và ông xin hẹn với vua một kỳ hạn sẽ trở lại.
1.2/ Thiên Chúa đã lo liệu mọi việc cho Nehemiah: Ông mạnh dạn xin với vua: "Nếu đẹp lòng đức vua, thì xin hạ lệnh cấp chiếu thư cho thần đem tới các trưởng Vùng bên kia sông Euphrates, để họ cho phép thần đi qua đó đến tận Judah. Cũng xin một chiếu thư cho ông Asaph, quản đốc ngự lâm, để ông cấp gỗ cho thần làm khung cửa đồn luỹ ở sát Đền Thờ, làm tường thành và làm nhà cho thần đến ở." Vua ban cho ông như sở nguyện, vì bàn tay nhân lành của Thiên Chúa che chở ông. Nehemiah và tư tế Ezra đã xây dựng tường Thành Jerusalem trong một thời gian kỷ lục.
2/ Phúc Âm: Cứ để kẻ chết chôn kẻ chết của họ. Còn anh hãy đi loan báo Triều Đại Thiên Chúa.
Trình thuật hôm nay đưa ra ba ví dụ chứng minh sự khẩn thiết của việc từ bỏ mọi sự, đi theo Đức Kitô, để rao giảng Tin Mừng. Để theo Đức Kitô, người môn đệ phải có những thái độ sau đây:
2.1/ Phải biết sống đơn giản để có thời gian cho Thiên Chúa: Đang khi Thầy trò đi đường thì có kẻ thưa Người rằng: "Thưa Thầy, Thầy đi đâu, tôi cũng xin đi theo." Người trả lời: "Con chồn có hang, chim trời có tổ, nhưng Con Người không có chỗ tựa đầu." Chúa Giêsu tuy rất giầu có, nhưng Ngài chọn lối sống khó nghèo để làm gương cho các môn đệ.
+ Khi con người dành quá nhiều thời gian để làm việc nhiều để có nhiều tiền của, con người sẽ không còn thời gian để làm việc của Thiên Chúa.
+ Khi con người có quá nhiều của cải, họ sẽ ngần ngại theo Chúa.
+ Khi người môn đệ có nhiều của cải, anh sẽ không dám lên đường đi rao giảng Tin Mừng. Người có ít hành lý là người sẽ đi được xa nhất, và dễ dàng lên đường đi bất cứ đâu để rao giảng Tin Mừng.
2.2/ Việc theo Thiên Chúa phải là việc ưu tiên trước hết: Đức Giêsu nói với một người khác: "Anh hãy theo tôi!" Người ấy thưa: "Thưa Thầy, xin cho phép tôi về chôn cất cha tôi trước đã." Đức Giêsu bảo: "Cứ để kẻ chết chôn kẻ chết của họ. Còn anh, anh hãy đi loan báo Triều Đại Thiên Chúa."
+ Có một sự nghịch lý trong câu trả lời của Chúa Giêsu: Làm sao kẻ chết có thể chôn kẻ chết? Đây chỉ là một lối nói của người Do-thái. Chúa Giêsu có ý muốn nói khi nào Chúa gọi, hãy can đảm bỏ mọi sự để theo Ngài. Nếu một người đợi cho cha chết rồi mới đi theo Chúa, điều này chứng tỏ họ yêu quí cha hơn Thiên Chúa. Làm như thế, họ không xứng đáng để theo Ngài.
+ Chúa Giêsu có dạy bất hiếu? Không! nhưng Ngài muốn con người phải đặt việc loan báo Tin Mừng lên hàng đầu. Chúa có uy quyền để lo liệu đầy đủ cho cha của người môn đệ.
+ Phải nắm lấy cơ hội và quyết định ngay khi nó tới, vì kinh nghiệm dạy khi một người cứ lần nữa, do dự; họ sẽ không dám đi theo Chúa.
2.3/ Đã theo Thiên Chúa, đừng quay đầu trở lại: Một người khác nữa lại nói: "Thưa Thầy, tôi xin theo Thầy, nhưng xin cho phép tôi từ biệt gia đình trước đã." Đức Giêsu bảo: "Ai đã tra tay cầm cày mà còn ngoái lại đàng sau, thì không thích hợp với Nước Thiên Chúa."
+ Đây là kinh nghiệm thiết thực cho những người cầy ruộng: Khi cầy ruộng bằng trâu bò, họ phải nhìn thẳng phía trước; nếu ngoái cổ nhìn về phía sau, luống cày sẽ không thẳng.
+ Trong Sách Sáng Thế, có một câu truyện xảy ra cho vợ ông Lot. Khi Bà tiếc của và không vâng lời thiên thần truyền, Bà ngoái cổ nhìn phía sau, liền bị hóa thành tượng muối.
+ Người môn đệ đã bỏ mọi sự theo Đức Kitô cũng đừng tiếc nuối gì cả, cứ việc thẳng tiến về phía trước. Nếu không, anh sẽ từ từ thu thập lại những thứ anh đã bỏ, và hậu quả còn tệ hại hơn khi anh chưa từ bỏ.
ÁP DỤNG TRONG CUỘC SỐNG:
- Chúng ta phải đặt việc của Thiên Chúa lên trên công việc của cá nhân, như chúng ta đã từng cầu xin cho Danh Chúa cả sáng, Nước Chúa trị đến, và ý Chúa được thể hiện.
- Việc cần thiết nhất chúng ta phải làm là góp phần trong việc rao giảng và loan truyền Tin Mừng, để làm sao cho mọi người tin vào Đức Kitô và được hưởng ơn cứu độ đời đời.
Linh mục Anthony Đinh Minh Tiên, OP
- Viết bởi Linh mục Anthony Đinh Minh Tiên, OP
Kính Tổng Lãnh Thiên Thần Micae, Gabriel, Raphael
Bài đọc: Dan 7:9-10, 13-14; Jn 1:47-51.
GIỚI THIỆU CHỦ ĐỀ: Hãy đón nhận Đức Kitô là Vua hiển trị muôn đời.
Con người mong ước những giá trị vĩnh cửu; nhưng trong thế gian chỉ nhìn thấy những tạm bợ và hời hợt bên ngoài. Chẳng hạn trong việc điều khiển quốc gia, hết nhà lãnh đạo này tới nhà lãnh đạo kia, ai cũng hứa sẽ thay đổi tình thế và làm cho dân chúng được an cư lạc nghiệp hơn; nhưng rồi tình hình đất nước cũng chẳng khá hơn. Nếu dân chúng may mắn gặp được người lãnh đạo tài giỏi, đức độ; thì lại bị ám sát hay cũng chỉ lãnh đạo được ít năm rồi chết. Làm sao con người có thể kiếm được một vị vua tài đức vẹn toàn, sống mãi không chết, có uy quyền trên toàn vũ trụ này; hay đây chỉ là ước mơ không bao giờ hiện thực?
Các Bài Đọc hôm nay cho thấy đây là ước mơ có thể thực hiện được, nếu con người đặt trọn vẹn tin tưởng nơi Vua Kitô, Người Con Một của Thiên Chúa. Trong Bài Đọc I, tiên-tri Daniel tường thuật thị kiến trong Ngày Phán Xét trên trời. Thiên Chúa là Chúa Tể trời đất sẽ trao tất cả vào tay Con Người; Con Người này chính là Đức Kitô. Ngài sẽ phán xét mọi người, và Thiên Chúa sẽ đặt Ngài làm Vua cai trị dân chúng đến muôn đời. Vương quốc của Ngài sẽ vạn đại trường tồn, và con dân của Ngài sẽ được bình an, ấm no, hạnh phúc đến muôn đời. Trong Phúc Âm, sau khi Nathanael tuyên nhận Chúa Giêsu là Con Thiên Chúa, là Vua Israel, Ngài báo trước cho ông biết ông sẽ thấy ngày vinh quang của Ngài, khi các thiên thần của Thiên Chúa lên lên xuống xuống trên Con Người.
KHAI TRIỂN BÀI ĐỌC:
1/ Bài đọc I: Quyền thống trị của Người là quyền vĩnh cửu, vương quốc của Người sẽ chẳng hề suy vong.
1.1/ Thị kiến về Ngày Phán Xét: Tiên-tri Daniel sống trong thời Hậu Lưu Đày (165 BC), và niềm mơ ước của con cái Israel, có một Đấng Thiên Sai uy quyền đến giải phóng dân chúng khỏi ách nô lệ của ngoại bang, ngày càng mãnh liệt. Toàn dân mong ước một vị anh quân như thế, vì họ đã quá chán nản với sự cai trị của các vua Israel và Judah. Họ cũng đã quá mệt mỏi vì phải sống dưới ách nô lệ của các đế quốc Babylon, Persia, Media, và Hy-lạp. Họ mong một vị anh quân như Vua David, sẽ đến để thống nhất lãnh thổ Palestine, dùng uy quyền để dẹp tan ngoại xâm, và lên ngôi cai trị dân chúng trong một thời gian dài. Thị kiến của tiên-tri Daniel trong trình thuật hôm nay, không chỉ giới hạn Đấng Thiên Sai trong ước mơ của dân chúng; nhưng còn mở rộng tới một Đấng Thiên Sai sẽ làm Vua cai trị đến muôn đời.
(1) Đấng Lão Thành an tọa trên ngai: "Tôi đang nhìn thì thấy đặt những chiếc ngai và một Đấng Lão Thành an toạ. Áo Người trắng như tuyết, tóc trên đầu Người tựa lông chiên tinh tuyền.
Ngai của Người toàn là ngọn lửa, bánh xe của ngai cũng rừng rực lửa hồng. Từ trước nhan Người, một sông lửa cuồn cuộn chảy ra.'' Những chi tiết diễn tả về Đấng Lão Thành và uy quyền của Ngài giúp con người nhận ra Đấng Lão Thành chính là Thiên Chúa.
(2) Các người hiện diện nơi tòa án: "Ngàn ngàn hầu hạ Người, vạn vạn túc trực trước Thánh Nhan. Toà bắt đầu xử, sổ sách được mở ra." Trong sự quan phòng của Thiên Chúa, Ngài dùng các thiên thần để giúp Ngài cai trị thế giới. Các thiên thần có nhiệm vụ tường trình những gì xảy ra nơi thế giới con người, và chuyển thông ân sủng từ Thiên Chúa xuống cho con người. Sự hiện diện của thiên thần trong Ngày Phán Xét là chuyện đương nhiên, vì họ là những nhân chứng sống động của con người. Những người bị xử là loài người, bao gồm những người đã chết qua các thời đại, và những người còn sống sót sau cùng.
1.2/ Thị kiến về Con Người: Đấng sẽ xét xử loài là chính Con Người (The Son of Man). Danh xưng này có nguồn gốc từ Sách Daniel hôm nay, và được Đức Kitô xử dụng để áp dụng vào chính Ngài. Điều đang chú ý là tuy Ngài mang hình ảnh của con người; nhưng lại ngự giá từ mây trời mà đến.
(1) Người nhận uy quyền và vinh quang từ Đấng Lão Thành: Người tiến lại gần bên Đấng Lão Thành và Đấng Lão Thành trao cho Người quyền thống trị, vinh quang và vương vị.
(2) Người sẽ thống trị toàn cõi địa cầu: Khác với vua chúa trần gian chỉ làm vua một vùng, Ngài cai trị tất cả mọi dân tộc, "muôn người thuộc mọi dân tộc, quốc gia và ngôn ngữ đều phải phụng sự Người.''
(3) Người sẽ cai trị muôn đời: Để cai trị muôn đời,
+ Người phải sống muôn đời: Vua chúa trần gian chỉ cai trị trong một thời gian vì họ đều phải chết. Người sẽ cai trị muôn đời vì Ngài sẽ không bao giờ phải chết.
+ Vương quốc của Người sẽ tồn tại muôn đời: Khác với vương quốc của vua chúa trần gian luôn thay ngôi đổi chủ, vương quốc của Người tồn tại muôn đời và sẽ chẳng hề suy vong. Điều này chứng tỏ sức mạnh và uy quyền của Người.
+ Quyền thống trị của Người: là quyền vĩnh cửu, không bao giờ mai một.
2/ Phúc Âm: Các thiên thần của Thiên Chúa lên lên xuống xuống trên Con Người.
2.1/ Đức Kitô là Con Thiên Chúa, là Vua Israel: Khi Đức Giêsu thấy ông Nathanael tiến về phía mình, Ngài liền nói về ông rằng: "Đây đích thật là một người Israel, lòng dạ không có gì gian dối." Ông Nathanael hỏi Người: "Làm sao Ngài lại biết tôi?" Đức Giêsu trả lời: "Trước khi Philíp gọi anh, lúc anh đang ở dưới cây vả, tôi đã thấy anh rồi."
Nathanael ngạc nhiên không chỉ vì Chúa Giêsu có uy quyền nhìn thấy sự việc xảy ra từ xa; nhưng Ngài biết những gì đã xảy ra trong cuộc đời của ông. Điều này thúc đẩy ông tuyên xứng thần tính của Chúa Giêsu: "Thưa Thầy, chính Thầy là Con Thiên Chúa, chính Thầy là Vua Israel!"
2.2/ Các thiên thần của Thiên Chúa phục vụ Đức Kitô: Đức Giêsu lại bảo Nathanael: "Thật, tôi bảo thật các anh, các anh sẽ thấy trời rộng mở, và các thiên thần của Thiên Chúa lên lên xuống xuống trên Con Người."
Cụm từ "các thiên thần của Thiên Chúa lên lên xuống xuống" gợi lại thị kiến chiếc thang mà Jacob đã nhìn thấy trong một giấc mơ tại Bethel (Gen 28:12): Một đầu của chiếc thang này chạm đất nơi Jacob đang nằm ngủ, một đầu chạm tới trời cao, nơi Thiên Chúa ngự trị, và các thiên thần của Thiên Chúa đang lên lên xuống xuống trên chiếc thang đó. Truyền thống Do-thái tin tưởng các thiên thần là những sứ giả của Thiên Chúa. Họ giúp Thiên Chúa điều khiển vũ trụ bằng cách chuyển giao những gì con người mong muốn lên Thiên Chúa, và chuyển giao sứ điệp cùng ơn thánh từ Thiên Chúa xuống cho con người. Trong cuộc đàm thoại giữa Chúa Giêsu với Nathanael hôm nay, Chúa Giêsu có ý muốn nói: Ngài là chiếc thang nối giữa trời và đất; trên thang đó, các thiên thần của Thiên Chúa sẽ lên lên xuống xuống để phục vụ con người.
ÁP DỤNG TRONG CUỘC SỐNG:
- Chúng ta hãy đặt trọn vẹn tin tưởng nơi Đức Kitô, và nhận Ngài làm Vua cai trị chúng ta ngay khi còn ở đời tạm này, vì chỉ có Ngài mới thỏa mãn mọi khát vọng vĩnh cửu của chúng ta.
- Chúng ta đừng dại dột chạy theo những hào nhoáng và tạm bợ của thế gian; vì chúng không thể thỏa mãn chúng ta ở đời này, và cũng chẳng bảo đảm cho chúng ta cuộc sống an toàn và hạnh phúc cho tương lai.
Linh mục Anthony Đinh Minh Tiên, OP
- Viết bởi Linh mục Anthony Đinh Minh Tiên, OP
Thứ Hai Tuần 26 TN1
Bài đọc: Zec 8:1-8; Lk 9:46-50.
GIỚI THIỆU CHỦ ĐỀ: Hãy biết quên mình để phục vụ tha nhân
Các Bài Đọc hôm nay chú trọng đến việc quên mình để phục vụ tha nhân. Trong Bài Đọc I, tiên-tri Zechariah khuyên con cái Israel tin tưởng nơi tình yêu Thiên Chúa, để vững tâm xây dựng một Jerusalem thái bình. Trong Phúc Âm, Chúa Giêsu chỉ cho các môn đệ biết con đường để trở thành người lớn nhất trong Nước Trời: Hãy trở nên nhỏ nhất và phục vụ các trẻ thơ.
KHAI TRIỂN BÀI ĐỌC:
1/ Bài đọc I: Thị kiến về tương lai an bình của Jerusalem.
1.1/ Thành Trung Tín sẽ được thiết lập trên Núi Thánh của Thiên Chúa: Bản dịch của Nhóm PVCGK lẫn lộn hai thời quá khứ và tương lai trong câu hai và câu ba; nên không lột tả được ý nghĩa của lời sấm của tiên tri Zechariah. Hai câu này cần được dịch và phân tích như sau:
(1) Câu hai là những gì đã xảy ra trong quá khứ: "Vì Sion, Ta đã phát ghen dữ dội, Ta đã nổi giận đến tột cùng vì nó.'' Bản LXX dùng hai động từ ở thời quá khứ (aorist); bản MT dùng động từ ở thời quá khứ (piel). Câu này gợi lại cho dân chúng biết lý do của việc phải đi lưu đày, họ đã làm cho Đức Chúa tức giận tột độ vì lối sống không cần Thiên Chúa và bất công với tha nhân.
(2) Câu ba là những gì sẽ xảy đến trong tương lai: Đức Chúa phán thế này: ''Ta sẽ trở lại Sion, Ta sẽ ngự lại ở Jerusalem. Jerusalem sẽ được gọi là Thành Trung Tín, và núi của Đức Chúa các đạo binh là Núi Thánh.'' Cả hai, Bản LXX và MT đều dùng ba động từ ở thời tương lai. Câu này muốn nhắn nhủ dân chúng: một khi họ đã nhận ra lỗi lầm và ăn năn trở lại với Thiên Chúa, Ngài sẽ nối lại tình xưa nghĩa cũ với họ. Thành Jerusalem và Núi Sion là hai biểu tượng cho mối liên hệ tốt đẹp này: Jerusalem sẽ được gọi là Thành Trung Tín, và Núi Sion sẽ được gọi là Núi Thánh, nơi cư ngụ của Đức Chúa các đạo binh.
1.2/ Thành Jerusalem sẽ là nơi cư ngụ của Dân Chúa trong cảnh thái bình.
(1) Dấu chỉ của thời thanh bình: Đức Chúa các đạo binh phán thế này: "Trên những đường phố của Jerusalem, các cụ ông cụ bà ra ngồi nghỉ; ai nấy tay chống gậy vì tuổi thọ đã cao. Tại các đường phố trong thành, đông đảo thiếu nhi nam nữ tới vui đùa.''
Trong thời chiến tranh, ít có người đạt tới tuổi thọ, vì bị chết trong khi thi hành nghĩa vụ quân sự; nhưng sẽ có nhiều các cụ ông, cụ bà xuất hiện trong thời thái bình trên các đường phố của Jerusalem, hay ngồi chơi cờ và nói chuyện trong các công viên. Một dấu chỉ nữa của thời hòa bình là sự xuất hiện của nhi đồng chơi giỡn trên các đường phố. Trong thời chiến, cha mẹ không có con được, vì chồng phải lên đường bảo vệ giang sơn; nhưng khi chiến tranh chấm dứt, nhiều trẻ thơ sẽ xuất hiện và chơi giỡn trên các nẻo đường.
(2) Ước mơ hòa bình có thể thực hiện: Trong thời gian đầu khi mới hồi hương từ nơi lưu đày, ít người nghĩ đến cảnh thái bình thịnh trị của Jerusalem, vì chung quanh toàn là những hoang tàn, đổ nát, và đe dọa. Tiên-tri Zechariah phải trấn an dân bằng lời sấm của Đức Chúa các đạo binh: "Nếu đó là điều không thể đối với số dân còn sót lại trong những ngày này; thì cũng là điều không thể được với Ta chăng?'' Những gì được coi là không thể đối với sức con người; nhưng luôn là có thể đối với uy quyền của Thiên Chúa. Ngài sẽ thúc đẩy tâm hồn con cái Israel đang cư ngụ rải rác khắp nơi, để họ kéo về cư ngụ tại Jerusalem, để nối lại mối liên hệ với Thiên Chúa trong chân lý và công chính: ''Ta sẽ cứu dân Ta ra khỏi miền đất phía Đông và miền khỏi miền đất phía Tây. Ta sẽ dẫn chúng về và cho cư ngụ giữa Jerusalem. Chúng sẽ là dân của Ta; Ta sẽ là Thiên Chúa của chúng trong sự thật và chính trực.''
2/ Phúc Âm: Ai nhỏ nhất trong tất cả anh em, kẻ ấy là người lớn nhất.
2.1/ Tính yêu chuộng danh vọng, quyền bính, và lợi lộc vật chất: Trình thuật hôm nay xảy ra ngay sau lời tiên báo thứ hai của Chúa Giêsu về Cuộc Thương Khó sắp đến, các tông-đồ tranh luận với nhau để tìm ra, ''trong các ông, ai là người lớn nhất?''
Vấn nạn này không chỉ xảy ra trong hàng ngũ các tông-đồ, nhưng xảy ra ở mọi nơi và mọi thời. Theo bản ngã, con người muốn được:
+ Danh vọng: được nổi tiếng hay được mọi người biết tới. Chúng ta không bàn tới những người "hữu xạ tự nhiên hương," họ xứng đáng được biết tới và khen ngợi vì việc làm của họ. Có những người đã bất tài còn vô đức, nhưng lại muốn được nổi tiếng bằng cách: chỉ làm những việc quan trọng, chỉ làm khi có sự hiện diện của người khác, hay khi làm thì đánh chống khua chiêng để mọi người chú ý. Đó là chưa kể đến việc tìm cách dìm người khác xuống để mình được nổi bật hơn, hay xuyên tạc những ý hướng ngay lành của tha nhân.
+ Quyền bính: thích được truyền lệnh, nhưng không muốn vâng lời hay làm theo ý của người khác. Chúng ta không bàn tới những người phải dùng quyền hành để cai trị dân chúng trong công bằng và yêu thương. Có những người muốn dùng quyền hành để bắt người khác phục vụ họ, để ức chế người khác, hay để mưu cầu lợi nhuận cho bản thân hay cho gia đình.
+ Lợi lộc: Ẩn giấu đàng sau hai bản ngã trên là lòng ham muốn lợi nhuận vật chất. Chúng ta không bàn tới những người cố gắng làm việc, phần thưởng vật chất đến với họ là điều tự nhiên. Có những người muốn ăn trên ngồi chốc hay vơ vét lợi nhuận vật chất cách bất công như: ăn hối lộ, đút lót để có cơ hội ăn hối lộ, lạm dụng quyền để tước đoạt tài sản của người khác...
2.2/ Cách chân thật và khôn ngoan để trở thành lớn nhất: Đức Giêsu biết điều các ông đang tự hỏi trong lòng, liền đem một em nhỏ đặt bên cạnh mình và nói với các ông: "Ai tiếp đón em nhỏ này vì danh Thầy, là tiếp đón chính Thầy; và ai tiếp đón Thầy, là tiếp đón Đấng đã sai Thầy. Thật vậy, ai nhỏ nhất trong tất cả anh em, kẻ ấy là người lớn nhất."
Trẻ em không có gì để trả lại cho người lớn: Các em chưa có danh vọng, quyền bính, và của cải để ban cho người lớn; ngược lại, các em hầu như hoàn toàn trông cậy vào sự chăm sóc và dạy dỗ của cha mẹ, anh chị em, thầy cô, và những người có trách nhiệm. Một số lý do thúc đẩy chúng ta phục vụ các em:
(1) Thiên Chúa sẽ trả thay cho các em: Chúa Giêsu rất rõ ràng trong việc đồng nhất việc phục vụ trẻ nhỏ hay những người cô thân cô thế là phục vụ chính Ngài và Thiên Chúa; ngược lại, khi ai từ chối phục vụ những người này là từ chối phục vụ chính Ngài và Cha của Ngài. Nếu con người phục vụ để mong người khác trả công, khi người khác trả rồi, Thiên Chúa sẽ không cần trả lại nữa. Nhưng nếu con người phục vụ những người không có cơ hội trả lại, Thiên Chúa sẽ trả thay cho họ. Khi Thiên Chúa trả, phần thưởng chắc chắn sẽ xứng đáng và cao quí hơn những gì lòng người dám ước mong. Nếu muốn Thiên Chúa trả, hãy làm cho những người không có gì để trả.
(2) Đã nhận nhưng không, hãy cho cách nhưng không: Con người khi vào cuộc trần này chẳng mang theo được gì vào; nhưng hoàn toàn là do công ơn Thiên Chúa, cha mẹ, và những người đi trước. Vì không trả lại được gì cho Thiên Chúa (Ngài chẳng cần gì nơi con người), ít người có cơ hội trả lại cho cha mẹ và những người đi trước; điều con người có thể làm được là giúp cho thế hệ tương lai để các em lớn lên mạnh khỏe, biết yêu thương Thiên Chúa, và giúp ích mọi người.
ÁP DỤNG TRONG CUỘC SỐNG:
- Chúng ta phải sống đúng mối liên hệ với Thiên Chúa và với tha nhân để có bình an và hạnh phúc thực sự; nếu không, chiến tranh, lưu đày, và đau khổ chắc chắn sẽ xảy ra.
- Vì đã lãnh nhận tình yêu và yêu thương chăm sóc từ Thiên Chúa, cha mẹ, và các thế hệ đi trước, chúng ta cũng phải biết hy sinh và phục vụ cho thế hệ tương lai.
Linh mục Anthony Đinh Minh Tiên, OP
- Viết bởi Linh mục Anthony Đinh Minh Tiên, OP
Chúa Nhật 26 Thường Niên, Năm B
Bài đọc: Num 11:25-29; Jas 5:1-6; Mk 9:38-43, 45, 47-48.
GIỚI THIỆU CHỦ ĐỀ: Phải diệt trừ mọi ghen tị và tham lam.
Tính phe đảng, ghen tị, và tham lam, làm con người dễ quên đi mục đích và khai trừ những ai không có cùng quan niệm hay không thuộc nhóm của mình. Người tín hữu phải nhớ điều quan trọng hàng đầu là làm cho Tin Mừng được lan rộng khắp nơi; còn cách thức làm sao để thực hiện điều này là tùy vào ơn riêng Thiên Chúa ban cho mỗi người. Cần tránh thái độ chỉ có người của mình hay cách của mình mới quan trọng. Đừng ghen tị khi người khác được bằng mình hay hơn mình. Vì một người không thể làm hết, và cũng không có sức để chịu đựng tất cả; do đó, Thiên Chúa cần nhiều thợ nhiệt thành để làm việc trong vườn nho của Ngài.
Các Bài Đọc hôm nay muốn dạy con người phải diệt trừ tính phe đảng, ghen tị, và tham lam. Trong Bài Đọc I, ông Moses ước mong ơn Thánh Thần được ban cho mọi con cái Israel, để họ đừng than phiền, kêu trách Thiên Chúa, và kêu trách ông nữa. Trong Bài Đọc II, thánh Giacôbê quan niệm của cải trong trời đất là của Thiên Chúa ban cho mọi người; không ai có quyền vơ vét và tích trữ của cải cho mình đến nỗi để người khác phải chịu thiệt thòi và túng thiếu. Trong Phúc Âm, khi Gioan nói với Chúa Giêsu ông ngăn cấm một người đã lấy danh Chúa Giêsu trừ quỉ, vì người đó không ở trong nhóm môn đệ của Chúa. Ngài trả lời ông: đừng ngăn cản họ vì "ai không chống đối chúng ta là thuộc về chúng ta."
KHAI TRIỂN BÀI ĐỌC:
1/ Bài đọc I: Thánh Thần Thiên Chúa hoạt động ở mọi nơi và trong mọi người.
1.1/ Thần Khí được ban cho cả bảy mươi kỳ mục, Eldad và Medad.
(1) Bảy mươi kỳ mục: Tổng số dân chúng khi ra khỏi Ai-cập cả gần triệu người. Họ tiếp tục đòi hỏi, than phiền, và trách mắng ông Moses về việc thiếu bánh ăn, nước uống, thịt, rau cải... Ông Moses đã quá mệt mỏi khi nghe những lời than phiền của dân chúng, nên ông tâm sự với Đức Chúa, ông không thể tiếp tục vác gánh nặng từ dân nữa. Thiên Chúa hiểu nỗi đau khổ và gánh nặng của Moses; nên Ngài bảo ông chọn 70 kỳ-mục (những người lớn tuổi trong dân) để họ cùng chia sẻ gánh nặng với ông (Num 11:17). Trình thuật hôm nay tường thuật: "Đức Chúa ngự xuống giữa đám mây và nói chuyện với ông Moses. Người lấy một phần Thần Khí đang đậu trên ông mà đặt trên bảy mươi kỳ mục."
(2) Endad và Medad: Thánh Thần của Thiên Chúa không chỉ hoạt động trên 70 kỳ-mục; nhưng bấy giờ có hai người ở lại trong trại, một người tên là Eldad, một người tên là Medad. Các ông đã được ghi trong danh sách kỳ mục, nhưng đã không đến Lều. Thánh Thần đậu xuống trên các ông và các ông bắt đầu phát ngôn trong trại.
1.2/ Sự ghen tị của ông Joshua: Khi thấy những điều này xảy ra, một người thanh niên chạy đi báo tin cho ông Moses rằng: "Ông Endad và ông Medad đang phát ngôn trong trại!"
(1) Phản ứng của ông Joshua: Ông Joshua con ông Nun, từng theo hầu ông Moses từ hồi còn nhỏ, lên tiếng nói với ông Moses: "Thưa thầy, xin thầy ngăn cản họ!"
(2) Phản ứng của ông Moses: Ông Moses hiểu Thánh Thần, cũng giống như Thiên Chúa, hoạt động và điều khiển mọi người trong mọi nơi, chứ không phải chỉ trên những người Moses đã chọn; nên ông trả lời ông Joshua: "Anh ghen dùm tôi à? Phải chi Đức Chúa ban Thánh Thần trên toàn dân của Người để họ đều là ngôn sứ!"
Chúng ta thường có khuynh hướng giới hạn hoạt động của Thiên Chúa hay của Thánh Thần nơi một số người hay chỉ trong Giáo Hội; nhưng hoạt động của Thiên Chúa cũng như của Thánh Thần bao trùm cả vũ trụ này. Kinh Thánh nhiều lần chứng minh quyền lực Thiên Chúa hoạt động trên các vua Dân Ngoại như Ai-cập, Assyria, Babylon, và Ba-tư... khiến họ phải thi hành thánh ý Ngài; và Thánh Thần hoạt động trên những người Dân Ngoại chưa chịu Phép Rửa, như gia đình Cornelius, viên sĩ quan người Rôma (Acts 10).
2/ Bài đọc II: Của cải Thiên Chúa ban trong vũ trụ, phải được chia sẻ cho mọi người.
2.1/ Kẻ tham lam sẽ phải đền tội: Một khuynh hướng xấu xa nơi con người là lòng tham lam vô đáy. Kẻ tham lam muốn thu tích của cải cho mình bằng mọi cách, mà không cần biết mình sẽ gây đau khổ và thiệt hại cho người khác thế nào. Thánh Giacôbê đã chứng kiến kẻ giầu bóc lột người nghèo trong cộng đồng của ngài, nên ngài tuyên cáo họ: ''Giờ đây, hỡi những kẻ giàu có, các người hãy than van rên rỉ về những tai hoạ sắp đổ xuống trên đầu các ngươi. Tài sản của các ngươi đã hư nát, quần áo của các ngươi đã bị mối ăn. Vàng bạc của các ngươi đã bị rỉ sét; và chính rỉ sét ấy là bằng chứng buộc tội các người; nó sẽ như lửa thiêu huỷ xác thịt các ngươi. Các ngươi đã lo tích trữ trong những ngày sau hết này."
2.2/ Những tội gây ra bởi lòng tham lam của con người: Kẻ tham lam không chỉ phạm tội vơ vét của cải; nhưng còn kéo theo nhiều tội khác nữa.
+ Lỗi đức công bằng: ''Các ngươi đã gian lận mà giữ lại tiền lương của những thợ đi cắt lúa trong ruộng của các ngươi. Kìa, tiền lương ấy đang kêu lên oán trách các ngươi, và tiếng kêu của những thợ gặt ấy đã thấu đến tai Chúa các đạo binh."
+ Tiêu xài xa hoa vào những việc bất chính: Trong khi người nghèo không có của ăn, kẻ giàu có phung phí tiền bạc trong những sòng bạc và những cuộc truy hoan. Thánh Giacôbê trách cứ hành động bất công của họ: ''Trên cõi đất này, các ngươi đã sống xa hoa, đã buông theo khoái lạc, lòng các ngươi đã được no đầy thoả mãn trong ngày sát hại.''
+ Giết hại người công chính: Để thỏa mãn lòng tham, kẻ gian ác loại trừ tất cả những ai dám ngăn cản, phê bình, hay tố cáo lối sống của họ: ''Các ngươi đã kết án, đã giết hại người công chính, và họ đã chẳng cưỡng lại các ngươi.''
3/ Phúc Âm: Ai không chống lại chúng ta là ủng hộ chúng ta.
3.1/ Cần có tâm hồn rộng lượng bao dung: Một hôm, ông Gioan nói với Đức Giêsu: "Thưa Thầy, chúng con thấy có người lấy danh Thầy mà trừ quỷ. Chúng con đã cố ngăn cản, vì người ấy không theo chúng ta." Sở dĩ, môn đệ Gioan nói những lời này, vì ông muốn đặc quyền trừ quỉ chỉ giới hạn trong thành phần môn đệ của Chúa Giêsu; vì nếu bất cứ ai cũng làm được, nhóm môn đệ của Chúa Giêsu sẽ không còn gì đặc biệt nữa.
(1) Cần loại trừ tính phe đảng, độc tài: Đức Giêsu bảo: "Đừng ngăn cản người ta, vì không ai lấy danh nghĩa Thầy mà làm phép lạ, rồi ngay sau đó lại có thể nói xấu về Thầy. Quả thật, ai không chống lại chúng ta là ủng hộ chúng ta." Nguyên lý Chúa đưa ra là một người không thể mâu thuẫn với chính mình: hoặc có hoặc không, chứ không thể chọn cả hai một lượt. Để một người trừ được quỉ, họ phải có một đức tin vững mạnh nơi Chúa Giêsu và phải nhân danh Ngài mà nói, thì mới trừ được. Nếu một người không có đức tin, và không nhân danh Chúa, họ không bao giờ họ có thể trừ được quỉ. Đức tin có được hay mất đi phải có thời gian lâu dài; chứ không một sớm một chiều mà có hay mất được. Vì thế, khi họ trừ được quỉ là họ đã có đức tin vào Thiên Chúa, tại sao cần phải ngăn cấm họ.
Hơn nữa, mục đích của Chúa Giêsu khi chọn các môn đệ là để huấn luyện các ông loan truyền Tin Mừng, chứ không chú trọng đến danh nghĩa và quyền lợi của cá nhân hay của nhóm. Ngài ban cho các ông quyền trừ quỉ để khơi dậy niềm tin, chứ không phải là đặc quyền để bảo vệ. Tính phe đảng nhiều khi làm con người không còn biết chú trọng đến mục đích, nhưng chú trọng đến tiếng tăm, quyền lợi, và dễ dàng khai trừ người khác.
(2) Con người có tự do để chấp nhận sự thật: Chúng ta cần biết rộng lượng để chấp nhận tự do của con người. Khi rao giảng Tin Mừng, Chúa Giêsu chỉ có thể trình bày sự thật để thuyết phục con người tin vào Ngài, đồng thời kèm theo những phép lạ; nhưng nếu họ cứng lòng, Chúa Giêsu không bắt họ phải tin vào Ngài. Chúng ta cũng thế, chúng ta cũng chỉ có thể trình bày sự thật, hay phân tích cái lợi và cái hại của việc không sống theo sự thật, rồi để tha nhân có quyết định muốn theo hay không. Chúng ta không thể bắt người khác làm theo ý mình.
(3) Trên con đường tìm kiếm sự thật, có nhiều cách để dẫn con người đến sự thật và khơi dậy niềm tin của con người vào Thiên Chúa; chứ không phải chỉ có một cách. Hãy để Thiên Chúa làm việc trong tha nhân và cho họ có thời gian để nhận ra sự thật. Cần tránh thái độ võ đoán: chỉ có cách của chúng ta mới làm cho con người nhận ra sự thật hay mới được cứu độ.
3.2/ Bác ái và gương sáng là hai cách hiệu quả để rao giảng Tin Mừng.
(1) Phải biết chia cơm sẻ áo cho mọi người: "Ai cho anh em uống một chén nước vì lẽ anh em thuộc về Đấng Kitô, thì Thầy bảo thật anh em, người đó sẽ không mất phần thưởng đâu.'' Đạo của Chúa Giêsu là đạo bác ái yêu thương. Người môn đệ của Chúa không thể mến Chúa mà không yêu người. Tiêu chuẩn Chúa dùng để phán xét người môn đệ là đức bác ái (x/c Mt 25). Nếu ai làm cho tha nhân là làm cho chính Chúa, người đó sẽ được hưởng cuộc sống đời đời.
(2) Phải làm gương lành cho người khác: "Ai làm cớ cho một trong những kẻ bé mọn đang tin đây phải sa ngã, thì thà buộc cối đá lớn vào cổ nó mà ném xuống biển còn hơn." Cùng một tư tưởng như trên: ai không làm cho tha nhân, là không làm cho chính Chúa. Hậu quả là họ sẽ không được hưởng hạnh phúc với Ngài. Nếu đã không làm điều tốt cho tha nhân, họ còn ngăn cản tha nhân đến với Chúa bằng gương xấu họ làm, chắc chắn họ phải sống xa Thiên Chúa.
3.3/ Phải đoạn tuyệt mọi tội lỗi: Năm câu kế tiếp có vấn đề về văn mạch: câu 44 và câu 46 được các nhà chú giải coi giống như câu 48: "nơi giòi bọ không hề chết và lửa không hề tắt." Năm câu được sắp xếp như sau: "Nếu tay anh làm cớ cho anh sa ngã, thì chặt nó đi; thà cụt một tay mà được vào cõi sống còn hơn là có đủ hai tay mà phải sa hoả ngục, phải vào lửa không hề tắt. Nếu chân anh làm cớ cho anh sa ngã, thì chặt nó đi; thà cụt một chân mà được vào cõi sống còn hơn là có đủ hai chân mà bị ném vào hoả ngục. Nếu mắt anh làm cớ cho anh sa ngã, thì móc nó đi; thà chột mắt mà được vào Nước Thiên Chúa còn hơn là có đủ hai mắt mà bị ném vào hoả ngục, nơi giòi bọ không hề chết và lửa không hề tắt." Có ít nhất hai cách để hiểu đoạn văn này:
(1) Theo những người theo chủ thuyết Fundamentalism, những người hiểu theo nghĩa đen, Chúa Giêsu muốn con người phải cắt bỏ các phần thân thể, nếu họ muốn được vào Nước Trời.
(2) Con người phải nhận ra nguy hiểm của tội: Tội lỗi làm con người có nguy cơ sa hỏa ngục; vì thế, cần phải tìm mọi cách để diệt trừ tội lỗi. Nếu hiểu theo nghĩa đen như trên, con người chắc chẳng còn gì để cắt hay loại bỏ nữa, vì con người vẫn thường xuyên phạm tội. Chúa Giêsu muốn con người nhận ra nguy hiểm của tội, vì tội có thể làm con người sa hỏa ngục, và không đạt được cuộc sống đời đời.
ÁP DỤNG TRONG CUỘC SỐNG:
- Thánh Thần của Thiên Chúa hoạt động ở mọi nơi và trong mọi người. Chúng ta đừng bao giờ giới hạn hoạt động của Thánh Thần nơi mình, nơi một cộng đoàn, hay chỉ trong Hội Thánh mà thôi.
- Mục tiêu quan trọng của cuộc đời là làm sao cho Nước Chúa trị đến, và ý Chúa được thể hiện dưới đất cũng như trên trời. Để được như thế, chúng ta cần sự cộng tác của tất cả mọi người.
- Của cải trong vũ trụ là của Thiên Chúa ban cho mọi người. Chúng ta đừng tham lam thu tích của cải để tích trữ cho mình; trong khi bao anh chị em phải đói khát.
- Chúng ta có bổn phận làm gương sáng cho mọi người bằng cuộc sống nhân đức. Chúng ta cũng phải cố gắng để tránh mọi tội và đừng tạo gương mù làm lung lạc đức tin của tha nhân.
Linh mục Anthony Đinh Minh Tiên, OP
- Viết bởi Linh mục Anthony Đinh Minh Tiên, OP
Thứ Bảy Tuần 25 TN1
Bài đọc: Zec 2:5-9, 14-15a; Lk 9:43b-45
GIỚI THIỆU CHỦ ĐỀ: Phải vượt gian khổ mới hy vọng đạt được vinh quang.
Nếu chúng ta nhìn lại cuộc đời mình sau ngày 30 tháng 4 năm 1975, chúng ta sẽ biết thế nào là sống nhờ hy vọng: nước mất, nhà tan, tù đày mà không biết có ngày được thả, vượt biển mà biết có thể chết bỏ mình trên biển khơi, những ngày khổ cực trong các trại tị nạn mà không biết bao giờ mới được định cư, khi đã được định cư lại bắt đầu làm lại cuộc đời với hai bàn tay trắng. Chúng ta chấp nhận tất cả với hy vọng cuộc đời mình sẽ tốt đẹp hơn sau khi đã vượt qua tất cả những gian khổ này. Giờ đây, ngồi suy xét lại, chúng ta nhận ra: quả thật, thành công trong cuộc đời chỉ dành cho những ai biết kiên trì vượt qua mọi gian khổ.
Các Bài Đọc hôm nay dạy con người hãy can đảm đương đầu với gian khổ và tìm cách khắc phục chúng. Trong Bài Đọc I, con cái Israel không có can đảm xây dựng lại Đền Thờ ngay sau khi hồi hương, vì họ còn phải đương đầu với biết bao gian khổ của cuộc sống để làm lại từ đầu. Tiên-tri Zechariah khuyến khích họ hãy mạnh dạn vượt qua gian khổ để xây dựng lại Đền Thờ để Thiên Chúa ở giữa họ; và hãy hy vọng vào những huy hoàng của thành thánh Jerusalem trong tương lai. Trong Phúc Âm, các môn đệ sợ không dám hỏi lại Chúa Giêsu về lời báo trước Cuộc Thương Khó, vì các ông sợ và không dám đương đầu với gian khổ. Chúa Giêsu muốn hướng lòng các ông về sự phục sinh vinh hiển trong tương lai.
KHAI TRIỂN BÀI ĐỌC:
1/ Bài đọc I: Thị kiến của tiên-tri Zechariah về Jerusalem
Lịch sử đàng sau thị kiến của tiên-tri Zechariah là thời gian sau Thời Lưu Đày, việc tái thiết Đền Thờ, và xây dựng lại quê hương. Giống như tiên-tri Haggai, Zechariah nhận ra sự quan trọng của việc tái thiết Đền Thờ Tại Jerusalem: Con cái Israel không thể sống mà không có Đền Thờ, vì đó là nơi Thiên Chúa hiện diện với họ, như Ngài đã hứa từ thời Xuất Hành. Lời hứa của Thiên Chúa sẽ bảo vệ dân được tiếp tục thi hành, cho đến ngày Đấng Thiên Sai ra đời.
1.1/ Jerusalem sẽ trở nên một thành lớn: Vào năm 587 BC, Jerusalem đã bị quân thù san phẳng: từ tường thành vây quanh tới chính Đền Thờ. Khi con cái Israel được các vua Ba-tư cho về hồi hương để tái thiết Đền Thờ, họ cảm thấy ngao ngán vì công trình đòi hỏi nhiều thời gian và hy sinh; trong khi họ chưa ổn định cuộc sống. Thị kiến của tiên-tri Zechariah hôm nay có mục đích cung cấp cho con cái Israel có hy vọng và nghị lực để xây dựng Đền Thờ: Jerusalem sẽ trở nên một thành lớn.
Zechariah tường thuật: "Tôi lại ngước mắt nhìn và thấy một thị kiến. Đây, có một người, tay cầm dây đo. Tôi hỏi người ấy: "Ông đi đâu?" Người ấy trả lời: "Đi đo Jerusalem xem thành ấy rộng bao nhiêu, dài bao nhiêu." Và đây, vị thần sứ từng nói với tôi tiến ra và một thần sứ khác tiến lại đón vị thần sứ ấy. Vị trước bảo vị sau: "Hãy chạy đi nói với người thanh niên kia rằng: Jerusalem phải là một thành rộng mở, sẽ có vô số người và súc vật đến cư ngụ ở đó.""
1.2/ Chính Thiên Chúa sẽ ở giữa và bảo vệ Jerusalem: Tường thành rất quan trọng cho thành thánh Jerusalem và Đền Thờ, vì nó ngăn cản sự xâm nhập của quân thù chung quanh. Còn tường thành là có an ninh; khi tường thành bị sụp đổ, thành và Đền Thờ cũng bị sụp đổ theo. Người Do-thái không chỉ xây dựng lại Đền Thờ, họ còn phải xây dựng cả tường thành chung quanh để bảo đảm an ninh cho Đền Thờ và dân chúng sống trong thành.
Tiên-tri Zechariah liên tưởng đến sự bảo vệ của Thiên Chúa trong biến cố Xuất Hành qua cột mây và cột lửa. Ông nói cho dân ý muốn của Thiên Chúa: "Phần Ta, sấm ngôn của Đức Chúa, Ta sẽ là tường luỹ bằng lửa bao quanh nó, và Ta sẽ là vinh quang ở giữa nó."
1.3/ Dân tộc trên khắp địa cầu sẽ tuôn về Jerusalem: Cho tới thời gian sau Lưu Đày, Jerusalem vẫn được coi hoàn toàn là của dân tộc Do-thái. Nhiều sấm ngôn của các tiên-tri trước và sau lưu đày nói về sự bành trướng của Jerusalem tới các Dân Ngoại; chứ không còn giới hạn cho người Do-thái nữa. Sấm ngôn của tiên tri Zechariah là một ví dụ điển hình, khi ông nói: "Hỡi con gái Sion, hãy vui sướng reo hò, vì này Ta đang đến để ở lại giữa ngươi, sấm ngôn của Đức Chúa. Ngày ấy, nhiều dân tộc sẽ gắn bó cùng Đức Chúa: Chúng sẽ thành dân thánh của Ta, và Ta sẽ cư ngụ ở giữa ngươi." Jerusalem là biểu tượng cho sự hiện diện của Thiên Chúa ở với con người. Dân Ngoại tuôn đến Jerusalem, vì họ cùng tin tưởng vào Thiên Chúa của dân tộc Do-thái.
2/ Phúc Âm: Mọi người đều kinh ngạc trước quyền năng cao cả của Thiên Chúa.
Trình thuật ngắn của Luca hôm nay là lần báo Cuộc Thương Khó thứ hai của Chúa Giêsu cho các môn đệ sau khi Ngài Biến Hình trên núi và chữa một cậu bé bị quỉ ám mà các môn đệ không chữa nổi.
2.1/ Chúa Giêsu phải chịu đau khổ: Sau khi đã trục xuất quỉ khỏi cậu bé, Chúa Giêsu tuyên bố với các môn đệ: "Phần anh em, hãy lắng tai nghe cho kỹ những lời sau đây: Con Người sắp bị nộp vào tay người đời." Chúa cho các môn đệ thấy vinh quang và uy quyền của Ngài là để cho các môn đệ có nghị lực để vượt qua gian khổ trong Cuộc Thương Khó sắp tới. Chúa lo lắng cho các ông, vì Chúa biết nếu không có hy vọng nâng đỡ, các ông sẽ dễ dàng bỏ cuộc khi nhìn thấy Chúa phải trải qua các gian khổ của Cuộc Thương Khó và cái chết của Ngài trên Thập Giá.
2.2/ Con người không dễ chấp nhận con đường đau khổ.
(1) Các môn đệ không hiểu lời Chúa Giêsu nói: "Nhưng các ông không hiểu lời đó, vì đối với các ông, lời đó còn bí ẩn, đến nỗi các ông không nhận ra ý nghĩa." Các môn đệ cũng giống như nhiều người chúng ta không hiểu: Tại sao một Thiên Chúa vinh quang, có uy quyền trên cả quỉ thần và mọi bệnh tật, không chọn con đường mà họ đang mong muốn là dùng uy quyền và sức mạnh; mà lại chọn con đường gian khổ để cứu chuộc con người!
(2) Các môn đệ không dám hỏi lại Người về lời ấy: Các ông không dám hỏi vì các ông sợ phải đương đầu với sự thật mà các ông không muốn chấp nhận. Các ông muốn Chúa Giêsu theo sự khôn ngoan và cách thức cứu độ của các ông; chứ các ông không muốn theo sự khôn ngoan và đường lối cứu độ của Thiên Chúa. Điều này được dẫn chứng bằng thái độ của Phêrô, khi ông dẫn Chúa Giêsu ra một nơi và khuyên Chúa: "Chớ gì những sự đó đừng xảy ra cho Thầy" (Mt 16:22).
ÁP DỤNG TRONG CUỘC SỐNG:
- Đức Kitô muốn chúng ta phải bỏ ý riêng mình và đi qua con đường đau khổ thì mới xứng đáng trở thành những môn đệ của Ngài.
- Chúng ta phải kiên nhẫn vượt gian khổ hiện tại, thì mới xứng đáng hưởng được vinh quang mà Thiên Chúa đã dành sẵn cho chúng ta sau này.
- Gian khổ chúng ta đang chịu đựng bây giờ không thể sánh được với vinh quang mà Đức Kitô đã mưu cầu cho chúng ta. Vì thế, hãy xin Thiên Chúa cho chúng ta sức mạnh để vượt qua mọi gian khổ trong cuộc đời.
Linh mục Anthony Đinh Minh Tiên, OP
- Viết bởi Linh mục Anthony Đinh Minh Tiên, OP
Thứ Sáu Tuần 25 TN1
Bài đọc: Hag 2:1-9; Lk 9:18-22
GIỚI THIỆU CHỦ ĐỀ: Xây dựng kết quả lâu dài hơn là những chấp vá tạm thời.
Khi phải đương đầu với những thách đố của cuộc sống, nhiều người thích những giải quyết dễ dãi, nhanh chóng, và tạm thời; nhưng những giải quyết như thế không đem lại cho con người những kết quả tốt đẹp và lâu bền. Rốt cuộc, họ lại phải bắt đầu lại từ đầu. Ví dụ, việc học sinh ngữ: thay vì phải bắt đầu với việc học văn phạm và nhớ từ ngữ, nhiều người lại bắt đầu ngay với việc nhớ các câu thông dụng. Vì thế, khi phải nói những "câu có sẵn," họ trả lời được; nhưng khi phải làm câu mới, họ không biết phải xếp đặt làm sao! Để đạt được kết quả lâu bền, con người cần tìm ra căn nguyên thật sự của vấn đề, và kiên nhẫn tìm cách thức thích hợp để giải quyết, cho dù phải tốn nhiều thời gian và phải chấp nhận gian khổ.
Các Bài Đọc hôm nay đưa ra hai ví dụ để giúp con người biết giải quyết tận gốc vấn đề. Trong Bài Đọc I, tiên-tri Haggai khuyên tất cả những người có trách nhiệm và dân chúng chú trọng đặc biệt đến việc xây dựng Đền Thờ, hơn là cố gắng ổn định đời sống; vì Đền Thờ là nơi Thiên Chúa ở với con người để dạy dỗ và ban ơn. Việc xây dựng Đền Thờ sau Thời Lưu Đày chắc chắn sẽ gặp khó khăn, nhưng họ phải cố gắng khắc phục hoàn cảnh, vì Đền Thờ sẽ mang lại nhiều lợi ích đến cho con cái Israel. Trong Phúc Âm, sau khi Phêrô tuyên xưng căn tính của Chúa Giêsu, Ngài báo trước Cuộc Thương Khó lần thứ nhất để các tông-đồ chuẩn bị đương đầu với đau khổ khi nó xảy đến; đồng thời, Ngài cũng báo trước Ngài sẽ sống lại vinh quang sau ba ngày trong huyệt mộ.
KHAI TRIỂN BÀI ĐỌC:
1/ Bài đọc I: Diễn từ thứ hai của tiên-tri Haggai
1.1/ Tiên-tri Haggai đốc thúc dân xây cất Đền Thờ Thiên Chúa.
(1) Lý do Đền Thờ bị phá hủy: Đền Thờ Jerusalem do vua Solomon xây dựng bị phá hủy là vì con cái Israel đã bỏ Thiên Chúa để chạy theo các thần ngoại và đối xử bất công với đồng loại của mình. Sau hơn 50 năm lưu đày, giờ đây họ được hồi hương trở về để tái thiết xứ sở. Phản ứng đầu tiên của dân chúng là chỉ biết nghĩ đến cá nhân và gia đình của họ; để tìm cách ổn định đời sống cách nhanh chóng hết sức có thể. Tiên-tri Haggai không suy nghĩ như dân chúng. Ông biết căn nguyên của vấn đề là phải sống đúng mối liên hệ với Thiên Chúa và với tha nhân. Việc xây dựng Đền Thờ cần thiết để qui tụ và dạy dỗ dân chúng; nếu không, họ sẽ mạnh ai nấy sống, và việc phải lưu đày lần nữa chắc chắn sẽ xảy ra.
(2) Phải biết nhìn lại quá khứ và suy xét: Tiên-tri Haggai mời gọi dân chúng nhìn lại Đền Thờ quá khứ: "Ai trong các ngươi trong số người còn sót lại đã từng được chứng kiến cảnh rực rỡ vinh quang của Đền Thờ ban sơ? Và bây giờ các ngươi thấy Đền Thờ như thế nào? Trước mắt các ngươi, nó chẳng còn là gì nữa đó sao?" Dĩ nhiên, Haggai không chỉ giới hạn việc xây dựng Đền Thờ bên ngoài; nhưng còn chú trọng đến việc xây dựng đền thờ trong tâm hồn, là biết sống đúng mối liên hệ với Thiên Chúa, và với anh chị em đồng loại.
1.2/ Vinh quang có được sau này là hậu quả của cố gắng khắc phục khó khăn bây giờ.
(1) Phải can đảm khắc phục hoàn cảnh khó khăn: Con cái Israel phải đương đầu với rất nhiều khó khăn khi hồi hương: công ăn, việc làm, nhà ở, chính quyền địa phương, kẻ thù chung quanh... Haggai biết tất cả những điều đó; nhưng ông nhìn thấy những lợi ích của Đền Thờ: sự hiện diện của Thiên Chúa, lòng đạo đức của dân chúng, và sự an toàn quốc gia. Vì thế, ông khuyên tất cả phải khắc phục khó khăn, để dốc toàn lực vào việc xây dựng Đền Thờ trước hết, các sự khác không quan trọng bằng Đền Thờ, và Thiên Chúa sẽ chúc lành cho họ sau. Ông nói: "Vậy bây giờ, hỡi Zerubbabel, hãy mạnh bạo lên! Này thượng tế Joshua, con ông Jehozadak, mạnh bạo lên nào! Toàn dân trong xứ hãy mạnh bạo lên! Sấm ngôn của Đức Chúa. Hãy bắt tay vào việc, vì chính Ta ở với các ngươi. Sấm ngôn của Đức Chúa các đạo binh."
(2) Vinh quang sẽ xảy đến trong tương lai: "Quả thật, Đức Chúa các đạo binh phán thế này: Chỉ còn một thời gian ngắn nữa thôi, Ta sẽ làm rung chuyển trời đất, biển khơi và đất liền. Ta sẽ làm cho tất cả các dân tộc phải chấn động và các kho tàng của các dân tộc sẽ đổ về, rồi Ta sẽ làm cho Đền Thờ này rực rỡ vinh quang. Đức Chúa các đạo binh phán. Bạc là của Ta, vàng là của Ta."
Lời sấm này không chú trọng đến của cải vật chất cho bằng tài sản tinh thần. Hai điều quan trọng và có liên quan Haggai muốn chú trọng ở đây là (1) Đấng Thiên Sai sẽ đến; và (2) Niềm tin vào Thiên Chúa của các dân tộc trên địa cầu. Niềm tin vào Thiên Chúa không chỉ còn giới hạn trong vòng con cái Israel; nhưng sẽ được mở rộng đến tất cả các quốc gia trên địa cầu, và Đền Thờ Jerusalem sẽ là trung tâm cho các dân tộc hướng về (Isaiah).
2/ Phúc Âm: Con Người phải chịu đau khổ nhiều... và ngày thứ ba Người sẽ trỗi dậy.
2.1/ Cần nhận ra căn tính của Đấng Thiên Sai: Hôm ấy, Đức Giêsu cầu nguyện một mình. Các môn đệ cũng ở đó với Người, và Người hỏi các ông rằng: "Dân chúng nói Thầy là ai?"
(1) Dân chúng không nhận ra căn tính của Chúa Giêsu: Có người cho Chúa Giêsu là
- Gioan Tẩy Giả, như tiểu vương Herode: vì Chúa dám nói thật và thẳng tay sửa sai.
- Có kẻ khác bảo là ông Elijah: vì lời Chúa có uy lực và Ngài làm nhiều phép lạ.
- Kẻ khác nữa lại cho là một trong các ngôn sứ thời xưa đã sống lại.
(2) Ông Phêrô tuyên xưng căn tính của Chúa Giêsu: Chúa Giêsu đặt câu hỏi cho các môn đệ: "Còn anh em, anh em bảo Thầy là ai?" Ông Phêrô thưa: "Thầy là Đấng Kitô của Thiên Chúa."
Mối liên hệ giữa con người với Thiên Chúa, hay mối liên hệ giữa người môn đệ với Đức Kitô là một mối liên hệ cá nhân. Người khác có thể nói cho chúng ta biết về Thiên Chúa. Họ có thể chỉ đường và tạo cơ hội cho chúng ta đến gặp gỡ Thiên Chúa; nhưng để sống mối liên hệ với Ngài, chúng ta cần bỏ thời gian để học hỏi, cầu nguyện, và sống mối liên hệ với Ngài.
2.2/ Cần nhận ra con đường cứu độ của Đấng Thiên Sai: Truyền thống Do-thái đang mong một Đấng Thiên Sai sẽ dùng uy quyền và sức mạnh để dẹp tan quân thù, lên ngôi cai trị, và phục hồi danh dự và uy quyền cho con cái Israel. Điều này không phải là ý muốn của Thiên Chúa. Ngài muốn Đấng Thiên Sai phải chấp nhận gian khổ và cái chết để cứu chuộc con người khỏi tội, và cho con người được sống muôn đời.
(1) Con người sẽ phải chịu đau khổ và bị giết chết: Chúa Giêsu báo trước Cuộc Thương Khó lần thứ nhất: "Con Người phải chịu đau khổ nhiều, bị các kỳ mục, thượng tế cùng kinh sư loại bỏ, bị giết chết, và ngày thứ ba sẽ trỗi dậy."
(2) Con Người sẽ sống lại hiển vinh ngày thứ ba: Đau khổ của Chúa Giêsu chỉ tạm thời; nhưng Ngài sẽ phục sinh vinh hiển vào ngày thứ ba.
ÁP DỤNG TRONG CUỘC SỐNG:
- Chúng ta cần đương đầu với sự thật của mọi vấn đề, với căn nguyên của chiến tranh và đau khổ; trước khi có thể giải quyết vấn đề, và xây dựng một cuộc đời tốt đẹp hơn.
- Để đạt được thắng lợi vinh quang, chúng ta cần có can đảm để chấp nhận đau khổ tạm thời. Nếu không chấp nhận đau khổ, làm sao có vinh quang?
Linh mục Anthony Đinh Minh Tiên, OP
- 24/9 Phải học hỏi để tìm ra sự thật quan trọng nhất mà thi hành
- 23/9 Phải nhận ra tình thương Thiên Chúa và tội lỗi của mình
- 22/9 Làm theo thánh ý Thiên Chúa
- 21/9 Hãy sống và làm cho mọi người trở thành con Thiên Chúa
- 20/9 Phải sống theo sự khôn ngoan của Thiên Chúa
- 19/9 Tin Thiên Chúa phải thực hành những gì Ngài dạy
- 18/9 Góp phần trong việc rao giảng Lời Chúa và loan truyền Tin Mừng
- 17/9 Hãy biết sống xứng đáng với ơn gọi của mình
- 16/9 Con người phải lấy sự thật để xét mình
- 15/9 Trung thành trong ơn gọi và bổn phận của mình
