Tin Giáo Hội Hoàn Vũ
Tin Giáo Hội Hoàn Vũ
TGPSG/Vatican News -- Cuộc hành hương của Đức Giáo hoàng Lêô XIV đến 4 quốc gia châu Phi làm nổi bật sức mạnh của những dân tộc đã từ lâu mang gánh nặng của ách thực dân, đồng thời mời gọi chúng ta tham gia xây dựng một hiện tại và tương lai công bằng hơn, huynh đệ hơn và giàu lòng trắc ẩn hơn.
Hành trình của Đức Giáo hoàng tại châu Phi mời gọi chúng ta mở rộng đôi mắt và đổi mới con tim, thúc đẩy chúng ta hành động để nhân loại có thể biểu lộ một khuôn mặt chân thật hơn. Trong những ngày này, hàng ngàn người chờ đợi và đồng hành với Đức Thánh Cha, tụ họp dọc theo những con đường đất đỏ bụi bặm và các phố phường. Đằng sau các rào chắn thường là những mái nhà lợp tôn và những công trình cũ kỹ, mong manh; thế nhưng ánh mắt của người dân lại tràn đầy niềm vui, và nụ cười xuất hiện ngay khi ánh nhìn gặp một lời chào.
Nhiều người chờ đợi hàng giờ chỉ để thoáng thấy chiếc xe của Đức Giáo hoàng hay đoàn xe tháp tùng, hy vọng có được một bức ảnh hoặc một kỷ niệm đáng nhớ. Họ hát, nhảy múa, vẫy cờ và cành lá, giơ cao đôi tay.
Chuyến viếng thăm này là một hành trình đi vào những vết thương và niềm hy vọng của những dân tộc thường bị lãng quên, nhưng đồng thời cũng là lời mời gọi dành cho mọi người: thay đổi cách nhìn, không quay lưng, và xây dựng những mối dây huynh đệ cùng các tương quan chân thực mà không nhượng bộ trước sợ hãi hay sự buông xuôi.
Châu Phi mà Đức Giáo hoàng Lêô gặp gỡ cho thấy một sức sống và năng lực đáng kinh ngạc, cùng một tiềm năng rộng lớn cho tương lai. Đồng thời, gánh nặng của những hình thức ảnh hưởng thực dân vẫn còn rõ nét, khi các thế lực toàn cầu tiếp tục hạn chế và kiểm soát tiềm năng này.
Tại những nơi tài nguyên bị khai thác, đất đai bị tàn phá bởi chất thải độc hại, và xung đột, chia rẽ, tham nhũng được nuôi dưỡng, các thế lực chính trị và kinh tế đã chiếm đoạt không chỉ của cải, mà còn tước đoạt cả hiện tại và tương lai của toàn thể nhiều thế hệ.
Trong một thế giới bị ghi dấu bởi chiến tranh và bạo lực, Đấng kế vị Thánh Phêrô lại dấn thân xây dựng những nhịp cầu, cổ võ sự gặp gỡ, hòa giải, ý thức, hiệp nhất và hòa bình.
Điều này được thể hiện rõ, chẳng hạn tại thành phố Bamenda ở tây bắc Cameroon, nơi đã được tái kết nối với phần còn lại của đất nước trong chuyến viếng thăm. Do bạo lực liên quan đến cuộc khủng hoảng ly khai, khiến hàng ngàn người phải di dời và nhiều người thiệt mạng, các con đường hầu như biến mất, và sân bay đã không thể sử dụng trong suốt tám năm. Sự hiện diện của Đức Giáo hoàng đã góp phần khởi động lại không chỉ việc tái thiết cơ sở vật chất mà còn cả sự hồi sinh của niềm hy vọng.
Qua hành trình này, Đức Giáo hoàng cũng làm nổi bật những thực tại riêng biệt của các quốc gia mà ngài viếng thăm, thách thức xu hướng nhìn châu Phi như một thực thể đồng nhất thay vì một lục địa đa dạng. Ngài chỉ ra sự hiệp nhất trong đa dạng và phẩm giá chung của gia đình nhân loại, trong đó mỗi người đều là con cái của Thiên Chúa.
Ngài cho thấy sự phong phú của nhiều tiếng nói trong Giáo hội, được mời gọi chia sẻ sứ điệp Tin Mừng, sứ điệp mà khi được sống, sẽ khơi dậy sáng tạo và góp phần xây dựng những xã hội công bằng hơn, huynh đệ hơn và liên đới hơn.
Đức Giáo hoàng kêu gọi trách nhiệm chung và, từ châu Phi, ngài nói với toàn thế giới. Ngài đặt ra một câu hỏi căn bản mời gọi mỗi người tiến đến với tha nhân: gặp gỡ, tha thứ, nâng đỡ và cùng nhau bước đi, nhận trách nhiệm xây dựng một tương lai chung.
Trong một thế giới thường bị chi phối bởi chia rẽ, kiêu ngạo và đe dọa, Đức Thánh Cha giới thiệu dung mạo của Đức Kitô, Đấng mời gọi mỗi người hoán cải bằng cách sống cam kết ấy trong đời sống hằng ngày.
Qua hành trình này, Đức Lêô đang góp phần tái kết nối nhân loại, trả lại cho các dân tộc phẩm giá và tự do để phát triển, đồng thời thách thức những tham vọng thống trị và kiểm soát.
Vatican News
Trưa ngày 20/4/2026, sau khi dừng lại cầu nguyện và viếng Thánh Thể tại Nhà thờ Chính tòa Đức Mẹ Hồn xác Lên trời, Đức Thánh Cha Lêô XIV đi xe papamobile đến Quảng trường ở thành phố Saurimo để cử hành Thánh lễ trước sự hiện diện tham dự của khoảng 30.000 tín hữu
Trong bài giảng, dựa trên lời Đức Giêsu nhắc nhở dân chúng hãy tìm kiếm Chúa để có lương thực thường tồn đem lại phúc trường sinh, Đức Thánh Cha cảnh giác những động cơ sai lầm khi tìm kiếm Đức Kitô, xem Người như một phương tiện để đạt được một mục đích. Ngài nói: “Điều này xảy ra khi đức tin đích thực bị thay thế bằng những thực hành mê tín, trong đó Thiên Chúa trở thành một ngẫu tượng, chỉ được tìm đến khi chúng ta cần, và bao lâu chúng ta còn cần”.
Đức Thánh Cha nói:
Anh chị em thân mến,
trên khắp thế giới, Giáo hội sống như một dân lữ hành bước theo Đức Kitô, người anh và Đấng Cứu Độ của chúng ta: Người, Đấng Phục Sinh, soi sáng con đường dẫn chúng ta đến cùng Chúa Cha và, nhờ quyền năng của Thánh Thần, thánh hóa chúng ta, để chúng ta biến đổi lối sống của mình theo tình yêu của Người. Đây chính là Tin Tin Vui, là Phúc Âm chảy như dòng máu trong huyết quản, nâng đỡ chúng ta trên hành trình. Một hành trình hôm nay đã đưa tôi đến đây, ở giữa anh chị em! Trong niềm vui và vẻ đẹp của cộng đoàn, quy tụ nhân danh Đức Giêsu, chúng ta hãy lắng nghe với tâm hồn rộng mở Lời cứu độ của Người, bởi Lời ấy giúp chúng ta suy tư về lý do và mục đích khiến chúng ta bước theo Chúa.
Chúng ta tìm Chúa vì lòng biết ơn hay vì lợi ích, vì tính toán hay vì tình yêu?
Thật vậy, khi Con Thiên Chúa nhập thể làm người, Người thực hiện những hành động đầy ý nghĩa để tỏ lộ ý muốn của Chúa Cha: Người chiếu ánh sáng trong bóng tối khi mở mắt cho người mù, ban tiếng nói cho kẻ bị áp bức khi mở lưỡi cho người câm, làm no thỏa cơn đói công lý của chúng ta khi hóa bánh ra nhiều cho người nghèo và người yếu thế. Những ai nghe nói về các việc ấy đều bắt đầu đi tìm Đức Giêsu. Đồng thời, Chúa nhìn thấy trong lòng chúng ta và hỏi liệu chúng ta tìm Người vì lòng biết ơn hay vì lợi ích, vì tính toán hay vì tình yêu. Thật vậy, Người nói với đám đông theo Người: “Các ông đi tìm tôi không phải vì các ông đã thấy dấu lạ, nhưng vì các ông đã được ăn bánh no nê” (Ga 6,26). Những lời của Người vạch trần ý hướng của những ai không mong gặp gỡ một con người, nhưng chỉ muốn tiêu thụ mọi thứ. Đám đông nhìn Đức Giêsu như một phương tiện để đạt được một mục đích, như một người cung cấp dịch vụ. Nếu Người không cho họ thứ gì để ăn, thì những hành động và lời giảng dạy của Người cũng không còn hấp dẫn họ.
Những động cơ sai lầm khi tìm kiếm Đức Kitô
Điều này xảy ra khi đức tin đích thực bị thay thế bằng những thực hành mê tín, trong đó Thiên Chúa trở thành một ngẫu tượng, chỉ được tìm đến khi chúng ta cần, và bao lâu chúng ta còn cần. Ngay cả những ân sủng cao đẹp nhất của Chúa, Đấng luôn chăm sóc dân Người, cũng bị biến thành đòi hỏi, phần thưởng hay công cụ mặc cả, và bị hiểu sai bởi chính những người lãnh nhận. Trình thuật Tin Mừng giúp chúng ta hiểu rằng có những động cơ sai lầm khi tìm kiếm Đức Kitô, đặc biệt khi Người bị coi như một “thầy pháp” hay một bùa may mắn. Ngay cả mục tiêu mà đám đông ấy theo đuổi cũng không thích hợp: họ không tìm một vị Thầy họ yêu mến, nhưng là một thủ lãnh để tôn sùng vì lợi ích riêng.
Chúa không muốn những nô lệ hay khách hàng
Thái độ của Đức Giêsu đối với chúng ta hoàn toàn khác: Người không từ chối sự tìm kiếm thiếu chân thành này, nhưng mời gọi hoán cải. Người không xua đuổi đám đông, nhưng mời gọi mỗi người xét lại điều đang rung động trong lòng họ. Đức Kitô kêu gọi chúng ta đến với tự do: Người không muốn những nô lệ hay khách hàng, nhưng tìm kiếm những anh chị em để Người hiến trọn chính mình cho họ. Để đáp lại tình yêu này bằng đức tin, chỉ nghe nói về Đức Giêsu thôi chưa đủ: cần đón nhận ý nghĩa lời Người. Chỉ thấy những gì Người làm thôi cũng không đủ: cần bước theo và noi theo gương của Người. Chỉ khi chúng ta nhận ra ý muốn của Đấng Cứu Độ, Đấng hiến mình cho chúng ta, trong dấu chỉ tấm bánh được chia sẻ, thì khi đó chúng ta mới tiến gần hơn với cuộc gặp gỡ đích thực với Đức Giêsu, cuộc gặp gỡ trở thành môn đệ của Người, trở thành sứ vụ và phục vụ.
Chúa dạy chúng ta cách đúng đắn để tìm kiếm bánh sự sống
Như thế, lời cảnh báo của Chúa dành cho đám đông trở thành một lời mời gọi: “Các ông hãy ra công làm việc không phải vì lương thực mau hư nát, nhưng để có lương thực thường tồn đem lại phúc trường sinh” (Ga 6,27). Qua những lời này, Đức Kitô chỉ cho chúng ta ân ban đích thực của Người: Người không kêu gọi chúng ta dửng dưng với lương thực hằng ngày mà chính Người ban dồi dào và dạy chúng ta cầu xin trong lời cầu nguyện. Người dạy chúng ta cách đúng đắn để tìm kiếm bánh sự sống, lương thực nâng đỡ chúng ta mãi mãi. Khát vọng của đám đông như thế được đáp lại bằng một câu trả lời còn lớn lao và bất ngờ hơn: Đức Giêsu không ban cho chúng ta thứ lương thực sẽ cạn, nhưng là tấm bánh không làm chúng ta hư mất, bởi đó là lương thực của sự sống đời đời.
Đức Kitô đang sống! Người là Đấng Cứu Độ của chúng ta
Ân sủng của Người soi sáng hiện tại của chúng ta: ngày nay, chúng ta thấy nhiều khát vọng của con người bị bạo lực làm thất vọng, bị kẻ mạnh khai thác và bị của cải đánh lừa. Khi bất công làm băng hoại con tim, lương thực của mọi người trở thành tài sản của một số ít. Trước những sự dữ này, Đức Kitô lắng nghe tiếng kêu của các dân tộc và canh tân lịch sử của chúng ta: Người nâng chúng ta dậy từ mọi sa ngã, Người an ủi chúng ta trong mọi đau khổ, Người khích lệ chúng ta trong sứ vụ. Như bánh hằng sống mà Người luôn ban cho chúng ta là Thánh Thể, lịch sử của Người không có kết thúc, và vì thế Người loại bỏ sự tận cùng, tức là cái chết, khỏi lịch sử của chúng ta, lịch sử mà Đấng Phục Sinh mở ra bằng quyền năng Thánh Thần. Đức Kitô đang sống! Người là Đấng Cứu Độ của chúng ta. Đây là Phúc Âm chúng ta loan báo, làm cho mọi dân tộc trên trái đất trở thành anh em. Đây là lời loan báo biến tội lỗi thành ơn tha thứ. Đây là đức tin cứu độ sự sống!
Chúng ta không được tạo thành để chết. Chúng ta không được sinh ra để trở thành nô lệ
Vì thế, chứng tá Phục Sinh trước hết nói về Đức Kitô, Đấng đã chịu đóng đinh và đã sống lại, nhưng chính vì thế cũng nói về chúng ta: trong Người vang lên lời loan báo về sự phục sinh của chúng ta. Chúng ta không được tạo thành để chết. Chúng ta không được sinh ra để trở thành nô lệ, cũng không để bị hư nát thân xác hay tâm hồn: mọi hình thức áp bức, bạo lực, khai thác và dối trá đều phủ nhận sự phục sinh của Đức Kitô, ân ban cao cả của sự tự do của chúng ta. Sự giải thoát khỏi sự dữ và cái chết này không chỉ xảy ra vào ngày tận thế, nhưng ngay trong lịch sử hằng ngày. Chúng ta phải làm gì để đón nhận ân ban ấy? Chính Phúc Âm dạy chúng ta: “Việc Thiên Chúa muốn các ông làm là tin vào Đấng Người đã sai đến” (Ga 6,29). Vâng, chúng con tin! Hôm nay, cùng nhau, chúng con tuyên xưng điều đó cách mạnh mẽ và với lòng biết ơn hướng về Chúa, lạy Đức Giêsu. Chúng con muốn bước theo và phục vụ Chúa nơi tha nhân: Lời của Chúa là quy tắc sống, là tiêu chuẩn chân lý cho chúng con.
Chúa luôn bước đi cùng nhịp với chúng ta
“Hạnh phúc thay ai biết vâng theo luật pháp Chúa Trời” (x. Tv 119/118,1): chúng ta đã hát như thế trong Thánh vịnh. Anh chị em thân mến, chính Chúa vạch ra con đường cho hành trình này, chứ không phải những nhu cầu cấp bách hay trào lưu nhất thời. Vì thế, khi bước theo Đức Giêsu, hành trình của Giáo hội luôn là một “công nghị của sự phục sinh và hy vọng” (Tông huấn Ecclesia in Africa, 13), như thánh Gioan Phaolô II đã khẳng định trong Tông huấn dành cho Phi Châu: chúng ta hãy tiếp tục tiến bước theo hướng đi khôn ngoan này! Với Phúc Âm trong lòng, anh chị em sẽ có can đảm trước khó khăn và thất vọng: con đường Thiên Chúa mở ra cho chúng ta không bao giờ mất đi. Thật vậy, Chúa luôn bước đi cùng nhịp với chúng ta, để chúng ta có thể tiến bước trên đường của Người: chính Đức Kitô ban định hướng và sức mạnh cho hành trình, một hành trình mà chúng ta muốn ngày càng học sống đúng như bản chất của nó, nghĩa là mang tính hiệp hành.
Giáo hội cũng loan báo Tin Mừng qua chứng tá đời sống
Đặc biệt, “Giáo hội loan báo Tin Mừng không chỉ qua việc công bố lời đã lãnh nhận từ Chúa, nhưng còn qua chứng tá đời sống, nhờ đó các môn đệ Đức Kitô làm chứng cho đức tin, đức cậy và đức mến nơi họ” (ibid., 55). Khi chia sẻ Thánh Thể, bánh ban sự sống đời đời, chúng ta được mời gọi phục vụ dân tộc của mình với lòng tận hiến, để nâng con người đứng dậy sau mọi sa ngã, tái xây dựng những gì bạo lực phá hủy, và vui tươi chia sẻ tình huynh đệ. Qua chúng ta, sức năng động của ân sủng Thiên Chúa sinh hoa trái tốt đẹp, nhất là trong nghịch cảnh, như gương của thánh Stêphanô, vị tử đạo tiên khởi (x. Cv 6,8-15).
Anh chị em thân mến, chứng tá của các thánh tử đạo và các thánh khích lệ và thúc đẩy chúng ta bước đi trên con đường hy vọng, hòa giải và hòa bình, nơi ân ban của Thiên Chúa trở thành sự dấn thân của con người trong gia đình, trong cộng đoàn Kitô hữu và trong xã hội. Khi cùng nhau bước đi dưới ánh sáng Phúc Âm, Giáo hội tại Angola lớn lên trong sự phong nhiêu thiêng liêng bắt nguồn từ Thánh Thể và tiếp tục trong việc chăm sóc toàn diện mỗi con người và toàn dân. Đặc biệt, sức sống của các ơn gọi mà anh chị em đang cảm nghiệm là dấu chỉ của việc đáp lại ân ban của Chúa, Đấng luôn ban dư dật cho những ai đón nhận với tâm hồn trong sạch. Nhờ Bánh Sự Sống mới mà chúng ta cùng chia sẻ hôm nay, chúng ta có thể tiếp tục cuộc hành trình hướng tới Nước Thiên Chúa của toàn thể Giáo hội, nơi ánh sáng là đức tin và huyết mạch là lòng bác ái.
Kết thúc Thánh lễ, Đức Thánh Cha từ giã Saurimo và trở về thủ đô Luanda.
Vatican News
Hành trình của Đức Thánh Cha bắt đầu rất sớm từ Toà Sứ thần Toà Thánh với quãng đường 27,4 km đến Sân bay quốc tế Luanda. Sau đó, chuyên cơ TAAG A220 đã đưa Đức Thánh Cha cùng phái đoàn bay khoảng 945 km hướng về phía Đông Bắc. Sau gần 1 giờ rưỡi bay, Đức Thánh Cha đã đặt chân đến Saurimo – thành phố nằm ở độ cao hơn 1.000 mét so với mực nước biển, vốn là thủ phủ của tỉnh Lunda Sul và là vùng đất giàu bản sắc văn hóa của người Lunda-Cokwe.
Sau khi di chuyển thêm 11,5 km bằng ô tô từ sân bay Saurimo “Deolinda Rodrigues”, Đức Thánh Cha đã tới thăm một Nhà đón tiếp người cao tuổi. Tại đây, ngài được chào đón bởi Giám đốc cơ sở, đại diện Bộ Y tế Angola, 62 cụ già (gồm 26 cụ ông và 36 cụ bà) cùng các nhân viên và tình nguyện viên phục vụ.
Trong lời chào mừng, vị Giám đốc cơ sở bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc trước sự hiện diện của Đức Thánh Cha, đồng thời gọi mái ấm là “nơi cứu cuộc đời” của những người “đã từng phải đối mặt với đủ loại tổn thương do bị gia đình bỏ rơi”. Bà cho biết “Chính quyền tỉnh Lunda-Sul đã xây dựng cơ sở này làm nơi trú ẩn cho những người già bị ngược đãi, khinh rẻ, thậm chí bị cáo buộc là phù thủy”. Vị Giám đốc cũng tạ ơn Thiên Chúa đã “soi sáng trái tim của những người thiện chí để tạo nên trung tâm đón tiếp những người bị suy giảm thể chất và tinh thần này”. Với việc Đức Thánh Cha viếng thăm, bà cảm nhận mái ấm đã “được chúc phúc vì được tình yêu của Thiên Chúa chạm đến”, đồng thời cầu chúc ngài sức khỏe và trường thọ để dẫn dắt Hội Thánh của Chúa.
Thay mặt cho các thành viên tại mái ấm, một người cao tuổi cũng bày tỏ niềm vui đầy biết ơn vì được gặp gỡ Đức Thánh Cha “như sứ giả của Chúa”. Chuyến thăm của Đức Thánh Cha là lý do mang lại “niềm vui lớn lao và làm tăng thêm hy vọng sống” cho họ - những con chiên trong đoàn chiên của ngài.
Trong lời đáp từ, Đức Thánh Cha cảm ơn mọi người ở mái ấm vì sự đón tiếp đầy đức tin đã chạm đến trái tim ngài và là nguồn an ủi lớn lao cho sứ mạng của ngài. Đức Thánh Cha bày tỏ ấn tượng đặc biệt trước từ “Lar” (Mái ấm hoặc Nhà) mà cơ sở sử dụng, đồng thời khẳng định tình yêu thương chính là dấu chỉ rõ nét nhất của Thiên Chúa. Ngài nói:
Tôi rất ấn tượng khi nghe anh chị em gọi nơi này là ‘lar’, một từ gợi lên ý nghĩa gia đình. Tôi tạ ơn Thiên Chúa vì điều đó, và tôi hy vọng tất cả anh chị em thực sự có thể sống ở đây trong một bầu khí gia đình, trong chừng mực có thể.
Chúa Giêsu rất thích ở tại nhà của những người bạn của Ngài. Tin Mừng kể rằng Ngài đã đến nhà của ông Phêrô ở Ca-phác-na-um, nơi một ngày nọ Ngài đã chữa lành mẹ vợ của ông. Tin Mừng cũng nhắc chúng ta về tình bạn của Ngài với Maria, Mátta và Ladarô: tại nhà của họ ở Bethania, Ngài được đón tiếp như là Thầy và là Chúa, đồng thời cũng đầy sự thân thuộc.
Vì vậy, anh chị em thân mến, tôi thích nghĩ rằng Chúa Giêsu cũng đang ở đây, trong ngôi nhà này. Đúng vậy, Ngài ở giữa anh chị em mỗi khi anh chị em cố gắng yêu thương và giúp đỡ lẫn nhau như anh chị em một nhà. Mỗi khi, sau một hiểu lầm hay một xúc phạm nhỏ, anh chị em biết tha thứ và hòa giải với nhau. Mỗi khi một vài người hay tất cả anh chị em cùng cầu nguyện với lòng đơn sơ và khiêm hạ.
Tôi bày tỏ sự cảm kích đối với chính quyền Angola vì những sáng kiến dành cho những người cao tuổi túng thiếu nhất, cũng như với tất cả các cộng tác viên và tình nguyện viên. Việc chăm sóc những người yếu thế là một dấu chỉ rất quan trọng về chất lượng đời sống xã hội của một quốc gia. Và chúng ta đừng quên: người cao tuổi không chỉ cần được hỗ trợ, trước hết họ cần được lắng nghe, bởi vì họ gìn giữ sự khôn ngoan của một dân tộc. Và chúng ta nợ họ lòng biết ơn, vì họ đã đối mặt với những khó khăn lớn lao vì lợi ích của cộng đồng.
Anh chị em thân mến, tôi sẽ mang trong tim kỷ niệm về cuộc gặp gỡ này với anh chị em. Xin Đức Trinh Nữ Maria, Đấng đã đong đầy đức tin và tình yêu cho Ngôi nhà Nazarét, luôn trông nom cộng đoàn này. Và xin cho phép lành của tôi cũng đồng hành cùng anh chị em.
Sau lời chào thăm, Đức Thánh Cha đã trao tặng mái ấm bức tượng “Thánh Giuse và Chúa Hài Đồng”. Món quà mang ý nghĩa an ủi sâu sắc, nhắc nhớ rằng trong truyền thống Kitô giáo, Thánh Giuse là quan thầy của ơn chết lành và là lời mời gọi sống đức tin kiên vững vì mỗi giai đoạn của cuộc đời đều vô cùng quý giá trước mặt Thiên Chúa.
Kết thúc buổi gặp gỡ, Đức Thánh Cha đã dừng chân cầu nguyện và chầu Thánh Thể tại Nhà thờ Chính tòa Đức Mẹ Hồn Xác Lên Trời trước khi đến cử hành Thánh lễ tại quảng trường Saurimo vào lúc 11:15 trưa cùng ngày (giờ địa phương).
Lúc 15 giờ 30 Chúa nhật ngày 19 tháng Tư vừa qua, Đức Thánh cha Lêô XIV đã ra phi trường quốc tế Luanda, cách Tòa Sứ thần gần bốn cây số rưỡi, để đáp trực thăng đến Đền thánh Đức Mẹ Mamãn Muxima, cách đó 110 cây số.
Phúc Nhạc | RVA
Sau nửa giờ bay, Đức Thánh cha đã tới khu vực Icolo e Bengo. Tại đây, có Đền thánh Mamã Muxima, có nghĩa là “Mẹ của Trái Tim” trong tiếng Kimbundu, một trong những ngôn ngữ được sử dụng rộng rãi ở miền bắc Angola. Thị trấn này được người Bồ Đào Nha xây dựng vào thế kỷ XVII trên một ngọn đồi nhìn ra sông Kwanza, con sông lớn nhất Angola.
Trong gần 300 năm, nơi này là điểm tập trung của các nô lệ bị đưa ra bờ biển để bắt đầu hành trình không trở lại sang châu Mỹ. Đền thánh có kiến trúc đơn giản theo phong cách Bồ Đào Nha; nó bị người Hà Lan đốt cháy vào năm 1641, sau đó được xây dựng lại và cải tạo.
Tại đây, người ta tôn kính một tượng Đức Mẹ Vô Nhiễm Nguyên Tội rất cổ kính, được các tín hữu đặc biệt sùng kính. Mỗi năm, từ tháng Tám đến tháng Chín, các cuộc hành hương toàn quốc được tổ chức với sự tham gia của hàng nghìn người, họ bày tỏ lòng tôn kính đối với Đức Maria bằng cách đi bằng đầu gối trong nhà thờ và tham gia cuộc rước nến ban đêm đầy ấn tượng.
Kinh Mân côi
Đến khu vực Đền thánh vào lúc 16 giờ 30, Đức Thánh cha được Đức cha Emilio Sumbelelo, Giám mục Giáo phận Viana sở tại, đón tiếp và cùng ngồi xe Golf tiến qua quảng trường, chào thăm đông đảo các tín hữu tu tập trước Đền thánh. Đi vào bên trong thánh đường, Đức Thánh cha đã cầu nguyện Trước Mình Thánh Chúa và tượng Đức Mẹ Mân côi, dâng hoa lên Đức Mẹ, rồi tiến ra quảng trường bên ngoài. Sau lời chào mừng của Đức giám mục Giáo phận Viana, Đức Thánh cha cùng cộng đoàn đọc kinh và suy niệm các mầu nhiệm Mân côi bằng các thứ tiếng khác nhau.
Huấn từ của Đức Thánh cha
Ngỏ lời với các tín hữu, Đức Thánh cha bày tỏ vui mừng vì được hiệp thông cầu nguyện với cộng đoàn, đặc biệt là các bạn trẻ và các thành viên Hội đạo binh Đức Mẹ (Legio Mariae). Ngài nhấn mạnh giá trị của Kinh Mân côi - một kinh nguyện đơn sơ nhưng sâu sắc, đã gắn bó lâu đời với đời sống Giáo hội. Theo lời thánh Gioan Phaolô II, đây là lời cầu nguyện giúp người Kitô hữu giữ được sự tươi mới của đức tin và mạnh mẽ loan báo Chúa Kitô cho thế giới.
Nhìn vào cộng đoàn Angola, Đức Thánh cha nhận thấy một Giáo hội sống động, trẻ trung, đầy nhiệt huyết và được thúc đẩy bởi Chúa Thánh Thần. Ngài đặc biệt nhắc đến Đền thánh Mamã Muxima - nơi qua nhiều thế kỷ đã trở thành điểm tựa thiêng liêng cho biết bao người trong những lúc vui cũng như lúc đau khổ. Đức Mẹ được gọi là “Mẹ của trái tim”, luôn lắng nghe, đón nhận và cầu bầu cho mọi người, kể cả những ai không thể trực tiếp đến hành hương.
Đức Thánh cha cũng nhắc nhở rằng: “Qua việc suy niệm các mầu nhiệm Mân côi, đặc biệt là các mầu nhiệm vinh hiển, người tín hữu được mời gọi chiêm ngắm chiến thắng của Chúa Kitô Phục Sinh trên sự chết và nhận ra ơn gọi của mình: hướng về trời cao và mang ánh sáng của Chúa đến cho thế giới. Mẹ Maria được trình bày như mẫu gương hoàn hảo - một người mẹ biết ghi nhớ, suy niệm và sống trọn vẹn tình yêu dành cho Thiên Chúa và tha nhân.
Đức Thánh cha cũng nhấn mạnh rằng việc lần chuỗi Mân côi không chỉ là cầu nguyện mà còn là cam kết sống yêu thương cụ thể. Như một người mẹ yêu thương mọi con cái, người Kitô hữu cũng được mời gọi yêu thương tất cả mọi người, đặc biệt là những người nghèo khổ và yếu thế. Điều này bao gồm việc chăm lo cho người đói ăn, người bệnh được chữa trị, trẻ em được giáo dục và người già được sống an vui. Mẹ Maria không chỉ quan tâm đến đời sống thiêng liêng mà còn đến những nhu cầu thiết thực của con người, và mời gọi chúng ta làm điều tương tự.
Đức Thánh cha đặc biệt hướng đến giới trẻ, kêu gọi họ dấn thân xây dựng một thế giới mới tốt đẹp hơn - một thế giới không còn chiến tranh, bất công, nghèo đói hay gian dối. Việc xây dựng đền thánh mới được xem như một dấu chỉ cụ thể của hy vọng và trách nhiệm mà Đức Mẹ trao phó cho họ. Người trẻ được mời gọi trở thành những người kiến tạo hòa bình và công lý, lấy Tin mừng làm nền tảng cho hành động.
Thông điệp cốt lõi của bài huấn dụ của Đức Thánh cha là: tình yêu phải chiến thắng mọi sự, chứ không phải chiến tranh hay hận thù. Từ đền thánh này, mỗi người được sai đi như những “sứ giả” mang tình yêu của Đức Maria và phúc lành của Thiên Chúa đến cho mọi người.
Kết thúc, Đức Thánh cha mời gọi mọi người dâng hiến bản thân cho Đức Maria, xin Mẹ chuyển cầu để nhận lãnh ơn lành của Chúa, và sống tinh thần yêu thương, phục vụ trong đời sống hằng ngày.
Sau khi ban phép lành kết thúc, Đức Thánh cha chào từ biệt chính quyền địa phương và mọi người, rồi đáp máy bay trực thăng trở về thủ đô Luanda.
Lúc 9 giờ sáng Chúa nhật, ngày 19 tháng Tư vừa qua, Đức Thánh cha Lêô XIV đã rời Tòa Sứ thần Tòa Thánh, nơi ngài nghỉ đêm, để tới thành phố Quilamba, một khu đô thị thuộc tỉnh Luanda, và cách Tòa Sứ thần hơn 26 Km. Khu vực này mới được khánh thành ngày 11 tháng Bảy năm 2011 và được một công ty Trung Quốc thiết kế.
G. Trần Đức Anh, O.P. | RVA
Khu đô thị này nổi tiếng vì là nơi có Sân vận động Quốc gia tên là “11 de Novembro”, được sử dụng trong Cúp bóng đá châu Phi năm 2010. Dự án kiến thiết khu dân cư được hình thành để phát triển theo ba giai đoạn, với tổng cộng 82.000 căn hộ và diện tích tổng thể 54 cây số vuông. Bản thiết kế ban đầu được công bố vào ngày 31 tháng Tám năm 2008, và sau đó được Tổng thống José Eduardo dos Santos chính thức khánh thành ngày 11 tháng Bảy năm 2011.
Bản đồ khu đô thị Quilamba, lúc đó vẫn đang trong quá trình xây dựng hoàn chỉnh. Ban đầu, khu này dự kiến sẽ cung cấp chỗ ở cho 19.000 người trong 115 tòa nhà hoặc cao ốc, với tổng cộng 3.180 căn hộ, cùng với các trường học, tổ chức tài chính và các khu vực công cộng tích hợp. Theo ông Manuel Vicente, Chủ tịch Hội đồng Quản trị của Công ty Sonangol, giai đoạn đầu của dự án bao gồm 10 cây số đường lộ, 48 siêu thị, công viên giải trí, các tuyến đường sắt và xe buýt, cũng như các cơ sở khác trong trung tâm khu đô thị. Mục tiêu ban đầu của dự án bao gồm 710 tòa nhà, 24 trung tâm giáo dục mầm non, 9 trường tiểu học, 8 trường trung học và tổng cộng 50 km đường.
Cấu trúc
Khu đô thị Quilamba được chia thành bốn khu vực, mỗi khu đều có một trường mẫu giáo đặc biệt hiện đại, với hệ thống điều hòa không khí trong toàn bộ các phòng học. Một đường chạy điền kinh và một sân bóng đá tiêu chuẩn thể hiện rõ định hướng thể thao của khu đô thị. Hai nhà máy điện cung cấp năng lượng cho khu vực, và nước uống đã được xử lý, trong khi nước không uống được được xử lý hoàn toàn hoặc dùng cho các mục đích phi sinh hoạt.
Khu đô thị không có bất kỳ rào cản kiến trúc nào, giúp người khuyết tật có thể di chuyển độc lập và an toàn. Ngoài ra, khu vực còn có một bệnh viện công, một số phòng khám tư và mười hai trung tâm y tế khác thuộc hệ thống quốc gia.
Dự kiến khu vực này sẽ lắp đặt nhiều thùng rác để cho phép phân loại rác chưa được phân loại trước đó. Bên ngoài khu dân cư có các không gian dành cho đầu tư tư nhân, mở cho những ai muốn xây dựng các công trình công cộng hoặc tư nhân; trong số các dự án đang triển khai có thư viện thành phố đầu tiên và một số trung tâm thương mại bổ sung.
Ngoài ra, tại Quilamba sẽ xây dựng các công trình đóng vai trò quan trọng trong đời sống chính trị - xã hội của khu vực, như Tòa án cấp huyện và Sở của Tỉnh Luanda, phối hợp với cơ quan chính tại thủ đô Angola.
Quilamba có cánh đồng rộng lớn và ban tổ chức đã chọn địa điểm này làm nơi Đức Thánh cha Lêô XIV cử hành thánh lễ. Hơn 100.000 tín hữu từ thủ đô Luanda và nhiều nơi khác đã tụ họp về đây để tham dự thánh lễ với Đức Thánh cha.
Đồng tế với Đức Thánh cha, có các hồng y và giám mục thuộc đoàn tùy tùng, 26 giám mục thuộc 20 giáo phận toàn quốc Angola cùng với hàng trăm linh mục.
Bài giảng của Đức Thánh cha
Trong bài giảng, đi từ bài Tin mừng thuật lại cuộc gặp gỡ của Chúa Giêsu Phục sinh với hai môn đệ thất vọng trên đường tiến về làng Emmaus, cũng như từ lịch sử đau thương của đất nước Angola (nửa triệu người chết trong chiến tranh giành độc lập), Đức Thánh cha nhấn mạnh đến chủ đề chính yếu là niềm hy vọng: sự hiện diện của Chúa Kitô Phục Sinh và lời mời gọi xây dựng một tương lai mới dựa trên đức tin và tình liên đới. Mở đầu, ngài bày tỏ lòng biết ơn vì được cử hành Thánh Thể cùng cộng đoàn và cảm kích trước sự đón tiếp nồng hậu.
Dựa trên trích đoạn Tin mừng về hai môn đệ trên đường Emmaus, Đức Thánh cha mời gọi mọi người suy niệm về hành trình đức tin của chính mình. Hai môn đệ rời Giêrusalem với tâm trạng buồn bã, thất vọng vì cái chết của Chúa Giêsu. Họ nói chuyện với nhau về những biến cố đã xảy ra, nhưng lại bị giam hãm trong nỗi đau và mất hy vọng.
Đức Thánh cha liên kết hình ảnh này với lịch sử Angola - một đất nước đẹp nhưng bị tổn thương bởi chiến tranh, chia rẽ và nghèo đói. Những đau khổ kéo dài có thể khiến con người rơi vào tình trạng giống hai môn đệ: vẫn bước đi nhưng không còn hy vọng, không biết bắt đầu lại từ đâu. Đây là nguy cơ lớn khi con người bị quá khứ đau thương chi phối.
Tuy nhiên, Tin mừng mang đến một sứ điệp quan trọng: Chúa Giêsu đã sống lại và luôn đồng hành với con người, đặc biệt trong những lúc khó khăn. Ngài đến gần hai môn đệ, lắng nghe họ, giải thích Kinh Thánh và giúp họ hiểu rằng họ không đơn độc. Khi Chúa bẻ bánh, mắt họ mở ra và nhận ra Ngài. Đây là dấu chỉ cho thấy Chúa hiện diện trong đời sống hằng ngày, đặc biệt qua Lời Chúa và Bí tích Thánh Thể.
Từ đó, Đức Thánh cha chỉ ra con đường để tái khởi đầu. Trước hết là tin tưởng rằng Chúa luôn ở bên, đồng hành và cảm thông với con người. Sự hiện diện này được cảm nghiệm qua cầu nguyện, lắng nghe Lời Chúa và tham dự Thánh Thể. Ngài cũng cảnh báo về những hình thức tôn giáo pha trộn mê tín, có thể làm lệch hướng đời sống đức tin, và kêu gọi tín hữu trung thành với giáo huấn của Giáo hội.
Bên cạnh đó, đức tin đòi hỏi một dấn thân cụ thể. Như Chúa Giêsu được nhận ra khi bẻ bánh, tín hữu Kitô cũng được mời gọi trở thành “tấm bánh được bẻ ra” cho người khác - nghĩa là sống tinh thần hy sinh, phục vụ và yêu thương. Điều này đặc biệt quan trọng trong bối cảnh Angola còn nhiều khó khăn về kinh tế, xã hội và các hình thức nghèo đói. Giáo hội cần hiện diện như một cộng đoàn biết lắng nghe, chữa lành và khơi lại hy vọng. Đức Thánh cha kêu gọi mọi thành phần trong Giáo hội - từ giám mục, linh mục, tu sĩ đến giáo dân - sống tinh thần dấn thân, xây dựng tình huynh đệ, tha thứ và liên đới. Qua đó, họ góp phần chữa lành những vết thương của quá khứ và xây dựng một xã hội mới, nơi không còn hận thù, bạo lực và tham nhũng, nhưng thay vào đó là công lý và chia sẻ.
Đức Thánh cha nhấn mạnh rằng nhờ ơn Chúa Kitô Phục Sinh, mỗi người có thể trở thành tác nhân biến đổi xã hội. Thánh Thể nhắc nhở mọi người rằng họ là một thân thể hiệp nhất, cùng hướng đến việc xây dựng một tương lai tốt đẹp hơn, đặc biệt cho giới trẻ - những người đang cần hy vọng.
Sau cùng, Đức Thánh cha khích lệ cộng đoàn tín hữu Angola can đảm nhìn về tương lai với niềm tin và chủ động xây dựng hy vọng. Ngài nhấn mạnh rằng Chúa Giêsu luôn đồng hành và nâng đỡ họ trên hành trình này. Bài giảng của Đức Thánh cha kết thúc với lời phó thác mọi người cho Đức Maria, xin Mẹ nâng đỡ họ trong đức tin, hy vọng và tình yêu, để họ trở thành chứng nhân của sự phục sinh và kiến tạo một xã hội mới tốt đẹp hơn.
Cuối thánh lễ, Đức Tổng giám mục Filomeno do Nascimento Vieira Dias, Tổng giám mục Giáo phận Luanda sở tại đã đại diện mọi người cám ơn Đức Thánh cha.
Sau đó, Đức Thánh cha mời gọi cộng đoàn đã cùng đọc kinh Lạy Nữ Vương Thiên Đàng.
Trong bài huấn dụ ngắn trước khi đọc kinh, Đức Thánh cha nói: “Anh chị em thân mến,
Giờ đây chúng ta cùng hiệp lời cầu nguyện với Đức Maria trong kinh Nữ Vương Thiên Đàng, để cùng với Mẹ - là Mẹ và là bạn đồng hành trên hành trình - chia sẻ niềm vui Phục sinh.
Với bài ca hân hoan này, chúng ta không muốn xóa bỏ hay dập tắt tiếng kêu của những người đang đau khổ, nhưng đúng hơn là ôm lấy tiếng kêu ấy và hòa vào tiếng nói của chúng ta, trong một sự hòa hợp mới, để ngay cả trong đau khổ, ánh sáng của đức tin vẫn luôn sống động, và cùng với đó là niềm hy vọng vào một thế giới tốt đẹp hơn.
Chúa Kitô đã chiến thắng sự chết, và chính với niềm xác tín này, tất cả chúng ta - hiệp nhất với Người và trong Người như một thân thể duy nhất - hôm nay cũng như mỗi ngày đều dấn thân làm cho quanh mình trổ sinh những hoa trái của lễ Phục Sinh, đó là tình yêu, công lý đích thực và hòa bình, vượt trên mọi trở ngại và khó khăn.
Xin Mẹ của Chúa Giêsu, Mẹ của Con Tim, giúp chúng ta luôn cảm nhận cách sống động và mạnh mẽ, bên cạnh chúng ta, sự hiện diện của Con Mẹ đã phục sinh.
Sau đọc kinh Lạy Nữ Vương Thiên Đàng và ban phép lành kết thúc, Đức Thánh cha trở về Tòa Sứ thần để dùng bữa trưa và nghỉ ngơi.
Sau khi gặp Tổng thống Angola, Đức Thánh cha Lêô XIV đã tiến sang sảnh đường chính trong dinh để gặp gỡ các giới chức chính phủ và đại diện các tầng lớp xã hội, tổng cộng là 400 người.
G. Trần Đức Anh, O.P. | RVA
Diễn văn của Đức Thánh cha
Lên tiếng sau lời chào mừng của Tổng thống Angola, Đức Thánh cha đề cập đến một vấn đề chính là phẩm giá con người, niềm hy vọng, công ích, và con đường phát triển công bằng dựa trên đối thoại và liên đới.
Ngài bày tỏ niềm vui khi đến thăm Angola và cảm ơn Tổng thống cùng toàn thể nhân dân vì sự đón tiếp. Ngài đến như một người lữ hành mong nhận ra những dấu chỉ của Thiên Chúa nơi vùng đất này. Đức Thánh cha nhấn mạnh rằng Angola sở hữu những “kho tàng” vô giá, không thể mua bán hay đánh cắp, đặc biệt là niềm vui sâu xa của người dân - một niềm vui vẫn tồn tại dù trải qua đau khổ, thất vọng và thử thách. Đây là sức mạnh nội tâm giúp con người đứng vững, không bị lệ thuộc vào cám dỗ của vật chất.
Đức Thánh cha cảnh báo về thực trạng nhiều nơi trên thế giới, trong đó có châu Phi, bị nhìn nhận như nguồn tài nguyên để khai thác hơn là những cộng đồng cần được tôn trọng. Ngài kêu gọi phá vỡ “chuỗi lợi ích” biến con người và thiên nhiên thành hàng hóa. Đức Thánh cha khẳng định châu Phi là nguồn hy vọng cho thế giới, nơi người trẻ và người nghèo vẫn biết ước mơ, dấn thân và khát vọng xây dựng tương lai. Chính khát vọng này là động lực mạnh mẽ hơn bất kỳ chương trình chính trị nào.
Đức Thánh cha cũng lên án mô hình phát triển khai thác tài nguyên một cách vô trách nhiệm, gây ra đau khổ, bất công xã hội và tổn hại môi trường. Đồng thời, ngài nhắc lại lời cảnh báo của các vị tiền nhiệm về một nền văn minh chạy theo vật chất, tiêu thụ và khoái lạc nhưng thiếu chiều sâu nhân bản. Theo Đức Thánh cha, Angola và châu Phi có thể đóng góp một tầm nhìn khác: tôn trọng sự hài hòa trong đa dạng và đề cao các giá trị truyền thống.
Một điểm quan trọng trong bài diễn văn của Đức Thánh cha là lời kêu gọi vượt qua xung đột. Ngài nhấn mạnh rằng xung đột là điều không thể tránh, nhưng cần được đối diện và biến đổi thành cơ hội xây dựng. Ngài nhắc đến ba cách phản ứng trước xung đột: né tránh, bị cuốn vào, hoặc can đảm vượt qua để biến nó thành cơ hội cho tiến trình mới. Ngài khuyến khích các nhà lãnh đạo không sợ bất đồng, biết lắng nghe các thế hệ, và đặt lợi ích chung lên trên lợi ích phe nhóm.
Cũng trong diễn văn, Đức Thánh cha đề cao vai trò của niềm vui và hy vọng như những sức mạnh xã hội chứ không chỉ là cảm xúc cá nhân. Theo ngài, sự mất hy vọng và chia rẽ là công cụ mà các thế lực tiêu cực sử dụng để kiểm soát con người. Khi con người rơi vào sợ hãi và bi quan, họ dễ bị thao túng, trở nên thụ động và xa rời tinh thần cộng đồng. Ngược lại, niềm vui đích thực - được xem là hoa trái của đời sống tinh thần - giúp con người mở ra với tha nhân, xây dựng các mối tương quan và đóng góp cho xã hội. Ngài nhấn mạnh rằng không có niềm vui thì không có đổi mới, không có đời sống nội tâm thì không có tự do, không có gặp gỡ thì không có chính trị đúng nghĩa, và không có tha nhân thì không có công lý. Đây là những nguyên tắc nền tảng để xây dựng một xã hội lành mạnh.
Đức Thánh cha kêu gọi toàn thể xã hội Angola cùng nhau xây dựng đất nước như một “dự án của hy vọng”. Ngài khẳng định Giáo hội Công giáo mong muốn đóng vai trò như men trong bột, góp phần xây dựng một xã hội công bằng, thoát khỏi sự chi phối của những lợi ích ích kỷ và “niềm vui giả tạo”. Ngài mời gọi mọi người, đặc biệt là những người bị gạt ra bên lề, cùng tham gia vào tiến trình phát triển toàn diện. Đức Thánh cha kết thúc bằng hình ảnh mang tính biểu tượng: chính những gì bị loại bỏ lại có thể trở thành nền tảng cho tương lai, như viên đá bị thợ xây loại bỏ nhưng trở thành đá góc tường. Đây là lời khẳng định niềm hy vọng Kitô giáo, đặt nền tảng nơi con người và phẩm giá của họ, hướng đến một xã hội công bằng, liên đới và bền vững.
Sau 2 giờ 30 phút bay từ Cameroon, vượt qua 1.630 cây số, máy bay chở Đức Thánh cha Lêô XIV và đoàn tùy tùng cùng với các ký giả đã đáp xuống phi trường quốc tế ở thủ đô Luanda, Angola.
Phúc Nhạc | RVA
Thành phố này, trước đây có tên là São Paulo da Assuncão de Luanda, là thành phố lớn nhất của Angola, thuộc khu vực tây nam của châu Phi. Cho đến khi chế độ nô lệ bị bãi bỏ năm 1836, thành phố này là trung tâm của hoạt động buôn bán nô lệ quy mô lớn sang Brazil.
Nằm bên bờ Đại Tây Dương, được xem là một trong những thủ đô đắt đỏ nhất châu Phi, Luanda mang nhiều mâu thuẫn sâu sắc, mật độ dân cư cao và những căng thẳng xã hội lớn do chi phí sinh hoạt cao. Vào tháng Bảy năm 2025, thành phố này là nơi diễn ra các cuộc biểu tình bạo lực và đụng độ giữa cảnh sát với người dân - đặc biệt là tài xế taxi và xe buýt nhỏ - do giá nhiên liệu tăng sau khi chính phủ cắt bỏ trợ cấp.
Thành phố được chia thành hai phần:
- Baixa de Luanda (thành phố thấp): khu phố cổ với cảng biển, các con đường nhỏ và các công trình thuộc địa, cùng với các tòa nhà chọc trời và khu nhà sang trọng;
- Cidade Alta (thành phố cao): khu vực hành chính, bao quanh bởi các khu dân cư và vùng ngoại ô.
Sân bay chính của thành phố được đặt theo ngày 04 tháng Hai năm 1961 - ngày bắt đầu cuộc đấu tranh vũ trang chống chế độ thuộc địa.
Chính phủ đã khởi công xây dựng một sân bay mới mang tên Antonio Agostinho Neto, vị Tổng thống đầu tiên của Angola, với cơ sở hạ tầng hiện đại hơn. Công trình này được kỳ vọng sẽ là một trong những sân bay lớn nhất châu Phi, với nhà ga rộng 160.000 mét vuông và công suất hơn 13 triệu hành khách mỗi năm.
Dự án được giao cho một công ty Trung Quốc tên là “China International Fund Limited”, có trụ sở tại Hồng Kông tiến hành.
Đất nước và Giáo hội Công giáo tại Angola
Trong bốn nước được Đức Thánh cha Lêô XIV đến thăm trong chuyến tông du dài mười ngày này, Angola là nước có diện tích rộng nhất với một triệu 246.000 cây số vuông, gấp gần bốn lần nước Việt Nam, nhưng dân số chỉ có hơn 35 triệu người, trong số có 20 triệu 300.000 là tín hữu Công giáo, thuộc 20 giáo phận, do 27 giám mục coi sóc, với sự cộng tác của hơn 1.500 linh mục, trong đó một phần ba là linh mục dòng. Ngoài ra, có 340 tu huynh và 2.460 nữ tu.
Dân Angola thuộc nhiều bộ tộc khác nhau, trong đó 98% thuộc nhóm người Bantu da đen, 1,5% là những người lai, và 0,5% là người da trắng, gốc người Bồ Đào Nha. Angola mới chỉ được độc lập khỏi Bồ Đào Nha cách đây 51 năm, hồi tháng Mười Một năm 1975, sau những năm kháng chiến và nội chiến giữa các phe phái khác nhau.
Lúc 15 giờ ngày 18 tháng Tư, Đức Thánh cha đã đến phi trường Luanda. Đón tiếp ngài tại chân thang máy bay, có Tổng thống João Manuel Gonxalves Lourenxo. Hai em bé trong y phục truyền thống đã tặng hoa cho ngài, trong khi 21 phát đại bác được nổ vang để chào mừng vị quốc khách.
Sau buổi tiếp đón theo nghi thức ngoại giao, Đức Thánh cha và phái đoàn đến dinh Tổng thống Angola cách đó hơn bốn cây số để hội kiến.
Tổng thống João Manuel Gonxalves Lourenxo năm nay 72 tuổi (5/3/1954), vốn được đào tạo quân sự tại Liên Xô xưa kia, là thành viên của Phong trào Nhân dân Giải phóng Angola, gọi tắt là MPLA. Ông giữ chức Bộ trưởng Quốc phòng từ năm 2014 đến 2017, sau đó trở thành Tổng thống Cộng hòa sau khi đảng của ông giành chiến thắng trong cuộc bầu cử quốc hội.
Là người kế nhiệm được lựa chọn của cựu Tổng thống José Eduardo dos Santos, ông tái đắc cử trong cuộc bầu cử năm 2022. Lourenxo được biết đến rộng rãi nhờ các chiến dịch chống tham nhũng. Tuy nhiên, dù chưa tiến hành các cải cách chính trị nhằm mở rộng tự do và không gian cho các đảng đối lập, ông đã thúc đẩy quá trình đa dạng hóa nền kinh tế vốn phụ thuộc chủ yếu vào xuất khẩu dầu mỏ. Ông kết hôn với bà Ana Afonso Dias Lourenưo và có sáu người con.
Sáng thứ Bảy, ngày 18 tháng Tư vừa qua, Đức Thánh cha Lêô XIV đã cử hành thánh lễ cuối cùng tại Sân bay Yaoundé Ville, thủ đô Cameroon, kết thúc chuyến viếng thăm ba ngày tại nước này.
G. Trần Đức Anh, O.P. | RVA
Từ Tòa Sứ thần Tòa Thánh đến đây vào lúc quá 9 giờ sáng, Đức Thánh cha ngài đã dùng xe mui trần tiến qua các lối đi để chào thăm khoảng 200.000 tín hữu. Nhiều người đã đến đây chờ đợi từ tối hôm trước, cách riêng nhiều người khác đến đây trong y phục của bộ tộc riêng.
Cạnh bàn thờ có ảnh Đức Mẹ là Mẹ Thiên Chúa, Nữ Vương các tông đồ, vì đây là thánh lễ kính Đức Mẹ. Ca đoàn gồm gần 1.000 ca viên đảm nhận phần thánh ca.
Trong số các nhân vật hiện diện cũng có Tổng thống Paul Biya và phu nhân, Thủ tướng cũng như một số quan chức chính quyền. Đồng tế với Đức Thánh cha có đông đảo các giám mục Cameroon thuộc 26 giáo phận toàn quốc cùng với các hồng y, giám mục trong đoàn tùy tùng của Đức Thánh cha, các giám mục khách cùng với hàng trăm linh mục bản xứ.
Bài giảng của Đức Thánh cha
Giảng sau bài Tin mừng theo thánh Gioan (6,16-21), thuật lại phép lạ Chúa Giêsu đi trên mặt nước tiến đến gặp các tông đồ, Đức Thánh cha nhấn mạnh chủ đề trung tâm là đức tin, sự hiện diện của Chúa Giêsu trong những thử thách, và tinh thần hiệp nhất - liên đới trong đời sống cá nhân cũng như cộng đồng.
Đức Thánh cha mở đầu bằng lời chào bình an, khẳng định rằng bình an của Chúa Kitô chính là ánh sáng soi đường và xoa dịu những “cơn bão” trong cuộc đời con người. Ngài bày tỏ lòng biết ơn đối với cộng đoàn tại Cameroon vì sự đón tiếp nồng hậu và những khoảnh khắc sống đức tin chung.
Dựa trên bài Tin mừng, Đức Thánh cha giải thích rằng đức tin không loại trừ khó khăn hay sợ hãi. Hình ảnh các môn đệ trên biển hồ cho thấy con người dễ bị chao đảo trước nghịch cảnh. Tuy nhiên, Chúa Giêsu không bao giờ bỏ rơi họ. Qua các trình thuật khác nhau của 3 thánh sử Tin Mừng, điểm chung là: khi Chúa hiện diện, sóng gió được chế ngự và con người được cứu giúp. Đặc biệt, câu nói của Chúa “Chính Thầy đây, đừng sợ” là lời khẳng định mạnh mẽ về sự gần gũi và quyền năng của Thiên Chúa ngay trong bóng tối và nguy hiểm.
Biển cả và bóng tối được giải thích như biểu tượng của sự hỗn loạn, cái chết và thế lực sự dữ mà con người không thể tự mình vượt qua. Nhưng đồng thời, đó cũng là nơi Thiên Chúa hành động để giải thoát dân Người, như trong biến cố Xuất Hành. Điều này mang lại hy vọng: ngay trong hoàn cảnh khó khăn nhất, Thiên Chúa vẫn mở ra con đường cứu độ.
Đức Thánh cha liên kết hình ảnh này với đời sống Giáo hội và mỗi cá nhân hôm nay. Con người thường trải qua những lúc cảm thấy bị nhận chìm vì thử thách, cô đơn và yếu đuối. Nhưng thực tế, Chúa luôn hiện diện và nâng đỡ. Chính niềm tin này giúp con người đứng dậy sau vấp ngã và tiếp tục tiến bước với lòng can đảm. Ngài nhấn mạnh rằng Chúa không luôn dập tắt ngay sóng gió, nhưng đến với con người giữa cơn bão. Điều đó cũng mời gọi các tín hữu sống tinh thần liên đới: không thờ ơ trước đau khổ của người khác, nhưng cùng nhau chia sẻ, nâng đỡ và xây dựng cộng đồng. Không ai nên bị bỏ lại một mình trong khó khăn. Các cộng đoàn cần tạo ra những cơ cấu hỗ trợ để mọi người có thể cho và nhận sự giúp đỡ.
Đức Thánh cha nhận xét rằng sứ điệp “đừng sợ” cũng mang ý nghĩa xã hội và chính trị: khuyến khích con người cùng nhau đối diện với các vấn đề như nghèo đói và bất công. Đức tin Kitô giáo không tách rời đời sống xã hội, nhưng thúc đẩy con người dấn thân vì lợi ích chung, đặc biệt là phục vụ những người yếu thế.
Bài đọc thứ I trích từ sách Tông đồ Công vụ (Cv 6,1-7) minh họa cách Giáo hội sơ khai giải quyết khủng hoảng bằng đối thoại, cầu nguyện và sáng tạo. Khi số tín hữu gia tăng, các tông đồ đã thiết lập những cơ cấu mới để phục vụ người nghèo tốt hơn. Nhờ lắng nghe Chúa Thánh Thần và nhu cầu của cộng đoàn, họ biến khủng hoảng thành cơ hội phát triển.
Sau cùng, Đức Thánh cha mời gọi mỗi người can đảm đổi mới để bảo vệ phẩm giá con người và vượt qua bất công. Ngài khẳng định rằng việc quan tâm đến người nghèo là cốt lõi của căn tính Kitô hữu.
Bài giảng kết thúc bằng lời khích lệ: hãy tiếp tục hành trình với niềm tin, giữ Chúa ở trung tâm, và biến mọi thử thách thành cơ hội tăng trưởng trong tình hiệp thông, cầu nguyện và phục vụ.
Cuối thánh lễ, Đức cha Jean Mbarga, Tổng giám mục Giáo phận Yaoundé sở tại đã đại diện mọi người cám ơn Đức Thánh cha và tặng ngài kỷ vật gợi lại sự hiệp hành của mọi phần tử Giáo hội, còn Đức Thánh cha tặng cho giáo phận một chén lễ quý giá. Đức Thánh cha cũng không quên cám ơn mọi thành phần Giáo hội địa phương, chính quyền và các giới hữu trách, các bệnh nhân và mọi tín hữu đã góp phần vào việc tổ chức cuộc viếng thăm này của ngài.
Liền sau thánh lễ, Đức Thánh cha đã ra phi trường quốc tế Yaoundé Nsimalen lúc quá trưa. Tại đây, Thủ tướng Cameroon, ông Joseph Dion Ngute đã có mặt để tiễn biệt Đức Thánh cha theo nghi thức ngoại giao, trước khi ngài đáp máy bay của hãng ITA Airway tiếp tục chuyến tông du, tiến về Angola, quốc gia áp chót trong bốn nước được ngài viếng thăm trong những ngày này.
Chúa nhật ngày 12 tháng Tư vừa qua, Đại lễ Phục Sinh theo truyền thống Đông phương, các đại diện của Giáo hội Chính thống Nga thuộc Tòa Thượng phụ Mascơva đã thực hiện thêm một hành động gây hấn đối với các tín hữu của Giáo hội Công giáo Ucraina nghi lễ Đông phương tại các vùng lãnh thổ tạm thời bị Nga chiếm đóng ở tỉnh Zaporizhzhia.
Phúc Nhạc | RVA
Tại thành phố Tokmak, các giáo sĩ thuộc Tòa Thượng phụ Mascơva của Chính thống Nga đã tự ý chiếm giữ nhà thờ Thánh Tông đồ Phêrô và Phaolô, đồng thời cấm giáo dân địa phương cầu nguyện.
Đức Tổng giám mục Trưởng Sviatoslav Shevchuk, Giáo chủ Công giáo Ucraina nghi lễ Đông phương, đã lên án hành động này, nhấn mạnh tính chất xúc phạm đặc biệt khi xảy ra vào dịp lễ Phục Sinh: “Đây là sự xúc phạm đến Chúa Phục Sinh - Vua Hòa Bình! Và lại xảy ra đúng vào lễ Phục Sinh.”
Tuyên bố chính thức của Tòa Giám quản Tông tòa Donetsk cho biết việc bách hại tín hữu vẫn tiếp diễn có hệ thống tại các vùng bị chiếm đóng. Những ai dám phản kháng hoặc bảo vệ quyền tự do tôn giáo của mình đều bị truy bức và có thể bị kết án tới 15 năm tù, bất kể tuổi tác hay tình trạng sức khỏe. Một ví dụ tiêu biểu là bà Svitlana Loy - bất chấp đe dọa, bà vẫn đến nhà thờ cầu nguyện, dọn dẹp và bảo vệ tài sản của giáo xứ.
Tuyên bố cũng nhấn mạnh rằng việc cấm giáo dân địa phương đến nhà thờ trong khi người ngoài giả danh “giáo dân” là bằng chứng cho thấy sự đàn áp tôn giáo có hệ thống và có chủ ý, vi phạm nghiêm trọng quyền tự do tín ngưỡng.
Những hành động này cho thấy không chỉ là sự coi thường phẩm giá con người mà còn là chính sách nhằm loại bỏ Giáo hội Công giáo Đông phương Ucraina khỏi các vùng lãnh thổ bị Nga chiếm đóng. Đồng thời, những tấm gương như bà Svitlana là minh chứng cho đức tin sống động và tinh thần kiên cường. Trong hoàn cảnh này, điều quan trọng là duy trì sự hiệp nhất, nâng đỡ nhau trong cầu nguyện và không đánh mất hy vọng. Lễ Phục Sinh cũng như lịch sử dân tộc cho thấy sự thật và tự do cuối cùng sẽ chiến thắng.
(Ekai.pl 18-4-2026)
Các hoạt động kỷ niệm 100 năm ngày sinh của Đức Giáo hoàng Bênêđictô XVI đã được khai mạc, với một thánh lễ tại Đền thờ Thánh Phêrô.
G. Trần Đức Anh, O.P. | RVA
Vào dịp sinh nhật lần thứ 99 của ngài (qua đời cuối năm 2022), Đức Hồng y người Thụy Sĩ Kurt Koch, Bộ trưởng Bộ Hiệp nhất các tín hữu Kitô, đã cử hành thánh lễ hôm thứ Năm, ngày 16 tháng Tư vừa qua.
Trong bài giảng thánh lễ, Đức Hồng y Koch ca ngợi Đức Bênêđictô là “một nhà giảng dạy đức tin xuất sắc trên ngai tòa Phêrô”.
Cùng ngày 16 tháng Tư, tại Đại sứ quán Ý cạnh Tòa Thánh, tập thứ tư của ấn bản tiếng Ý các tác phẩm của Đức Ratzinger đã được giới thiệu. Ngày 17 tháng Tư, một hội nghị chuyên đề đã diễn ra tại Hàn lâm Tòa Thánh về Khoa học, trong khu vườn Vatican, với sự tham gia phát biểu của Đức Hồng y Koch cùng nhiều nhân vật khác, trong đó có Đức Hồng Y Gerhard Ludwig Müller, người Đức, nguyên Tổng trưởng Bộ Giáo lý Đức tin.
Hội thảo tại Đại học Vienne vào tháng Mười
Trong suốt một năm kỷ niệm, còn có nhiều sinh hoạt khác được tổ chức tại nhiều quốc gia khác nhau. Các hoạt động này do Quỹ “Joseph Ratzinger - Giáo hoàng Bênêđictô XVI” điều phối. Các sự kiện được lên kế hoạch tại Áo, Pháp, Ý, Tây Ban Nha, Hungary, Ấn Độ, Colombia, Hoa Kỳ và Kenya. Nhà sử học Giáo hội người Ý Roberto Regoli, Chủ tịch Quỹ, cho biết dịp kỷ niệm này là cơ hội để trình bày toàn diện tư tưởng của Ratzinger, bao gồm cách Đức Bênêđictô XVI diễn giải Công đồng Vatican II và vai trò của lý trí trong suy tư thần học.
Trong số các sự kiện tại khu vực nói tiếng Đức, có loạt bài thuyết trình kéo dài đến ngày 20 tháng Năm, tại Học viện Triết học-Thần học “Heiligenkreuz” - mang tên Bênêđictô XVI của Đan viện Xitô - và hội thảo dự kiến vào tháng Mười năm 2026, tại Đại học Vienne với chủ đề “Thần học của Joseph Ratzinger trong tranh luận”.
Hội nghị chuyên đề quốc tế thường niên của Quỹ Ratzinger sẽ diễn ra từ ngày 18 đến ngày 21 tháng Mười Một tới đây, tại Đại học Tangaza ở Nairobi thủ đô Kenya. Tháng Mười Hai năm 2026 sẽ diễn ra lễ trao Giải thưởng Ratzinger hằng năm tại Vatican.
(KAP 18-4-2026)
