Tin Giáo Hội Hoàn Vũ
Tin Giáo Hội Hoàn Vũ
Đức Hồng y Reinhard Marx, Tổng Giáo phận Munich bên Đức, đã lên tiếng chỉ trích mạnh mẽ việc lạm dụng tôn giáo của một Bộ trưởng Mỹ để biện minh cho bạo lực và chiến tranh.
G. Trần Đức Anh, O.P. | RVA
Trong bài giảng Chúa nhật Phục sinh, ngày 05 tháng Tư vừa qua, Đức Tổng giám mục nói rằng thật là một “xúc phạm Thiên Chúa một cách trắng trợn”, khi Bộ trưởng Chiến tranh Mỹ, ông Pete Hegseth cầu nguyện để mỗi viên đạn trong cuộc chiến với Iran đều trúng mục tiêu.
Đức Hồng y Marx cho rằng điều tương tự như thế cũng áp dụng cho phát biểu của Đức Thượng phụ Giáo chủ Chính thống giáo Nga Kirill I, người đã gọi cuộc chiến tấn công do Nga khởi xướng chống lại Ucraina là một “cuộc thánh chiến”.
Đức Hồng y Marx kêu gọi các Kitô hữu, trong bối cảnh chính trị bị chi phối mạnh vì bạo lực và chủ nghĩa dân tộc, luôn giữ vững niềm hy vọng một thế giới tốt đẹp hơn. Theo ngài, con người không nên nản lòng trong những nỗ lực vì hòa bình và tình liên đới.
Phục sinh là “sự nổi loạn chống lại cái chết”
Mặt khác, Chủ tịch Hội đồng Giám mục Đức, là Đức cha Heiner Wilmer, Giám mục tân cử của Giáo phận Muenster, đã gọi lễ Phục sinh là một “sự nổi loạn chống lại cái chết”. Sự phục sinh là một “ý tưởng gây sốc; người ta phải có phần nào điên rồ mới có thể khẳng định điều đó”.
Trong bài giảng Phục sinh vừa qua, Đức cha Wilmer nhấn mạnh rằng đó là một lập trường đối lập có ý thức chống sự tuyệt vọng. Sứ điệp Kitô giáo phủ nhận quan niệm rằng sự sống chấm dứt với cái chết. Ngài khuyến khích các tín hữu hãy giữ vững niềm hy vọng này ngay cả trong những hoàn cảnh khó khăn.
Đức Hồng y Tổng giám mục Tổng Giáo phận Köln, Rainer Maria Woelki, cũng nhấn mạnh sứ điệp hòa bình của lễ Phục sinh. Nỗi đau khổ ở Ucraina, Liban, Palestine và nhiều nơi khác là điều không thể phủ nhận. Trong bối cảnh đó, lễ Phục sinh - với sự phục sinh của Chúa Giêsu như chiến thắng của hòa bình - mang tính thời sự cao.
(KNA 5-4-2026)
Đức Tổng giám mục Timothy Broglio, vị đứng đầu Giáo phận Quân đội Hoa Kỳ, đã đặt vấn đề về tính chính đáng của cuộc chiến của Mỹ tại Iran, cho rằng cuộc chiến này có thể không phù hợp với giáo huấn Công giáo về việc sử dụng phương tiện quân sự để phòng vệ chính đáng, thường được gọi là học thuyết “chiến tranh chính đáng”.
G. Trần Đức Anh, O.P. | RVA
Trong cuộc phỏng vấn với chương trình “Face the Nation” được ghi hình ngày 02 tháng Tư vừa qua, và phát sóng vào lễ Phục sinh vừa qua, Đức Tổng giám mục Broglio cho biết theo giáo huấn Công giáo về chiến tranh chính đáng, ngài lo ngại rằng hành động quân sự của Mỹ tại Iran là “đang đối phó với một mối đe dọa” trước khi mối đe dọa đó “thực sự xảy ra”.
Đức Tổng giám mục Broglio đồng thuận với lời kêu gọi đàm phán của Đức Giáo hoàng Lêô XIV và nói: “Quan điểm của tôi là đồng hành với Đức Giáo hoàng Lêô, người đã kêu gọi đối thoại... Tôi cũng hiểu rằng có thể người ta hỏi: vậy thì đối thoại với ai? Và đó thực sự là một vấn đề. Nhưng trong khi đó, sinh mạng vẫn đang bị tổn thất, cả ở đó lẫn trong hàng ngũ binh sĩ của chúng ta. Vì thế, điều này thật đáng lo ngại”.
Đức Giáo hoàng Lêô XIV đã nói với các nhà báo hôm 31 tháng Ba vừa qua, tại Castel Gandolfo rằng ngài hy vọng Tổng thống Donald Trump đang “tìm một lối thoát” cho cuộc xung đột. Từ lâu ngài đã lên tiếng mạnh mẽ chống chiến tranh ở Trung Đông và các nơi khác. Những phát biểu ngày 31 tháng Ba được đưa ra sau bài giảng Chúa nhật Lễ Lá đầu tiên của ngài trên cương vị Giáo hoàng, trong đó ngài tuyên bố rằng Chúa Giêsu, Vua Hòa Bình, ôm lấy mọi đau khổ của lịch sử nhân loại và từ thập giá lên tiếng phản đối chiến tranh.
Thiên Chúa không lắng nghe lời cầu nguyện của những người gây chiến
Trong bài giảng hôm đó, Đức Giáo hoàng nói rằng Thiên Chúa “không lắng nghe lời cầu nguyện của những người gây chiến, nhưng từ chối họ, phán rằng: ‘Dù các ngươi cầu nguyện nhiều, Ta cũng không nghe: tay các ngươi đầy máu’ (Is 1,15)”.
Trong bài phát biểu toàn quốc ngày 01 tháng Tư vừa rồi, Tổng thống Trump tuyên bố: “Chúng ta sẽ hoàn thành nhiệm vụ. Và chúng ta sẽ hoàn thành rất nhanh”. Trong bài phát biểu này, ông cho rằng các chiến dịch quân sự chống Iran từ ngày 28 tháng Hai - khiến Giáo chủ Ayatollah Ali Khamenei và nhiều quan chức chính trị, quân sự chủ chốt của Iran thiệt mạng - được tiến hành nhằm đối phó với những mối đe dọa nghiêm trọng, đặc biệt là “bóng ma của việc tống tiền hạt nhân”.
Lo ngại về việc tham gia vào một cuộc chiến bất chính
Trước câu hỏi về các tín hữu Công giáo trong quân đội có thể lo lắng khi tham gia một cuộc chiến mà các vị lãnh đạo Giáo hội cho là bất chính, Đức Tổng giám mục Broglio gọi đó là “một câu hỏi rất đáng lưu tâm”, đồng thời ngài lưu ý rằng khả năng từ chối của một số binh sĩ có thể rất hạn chế, tạo nên một tình thế luân lý khó khăn.
Đức Tổng giám mục khuyên rằng những người này “có lẽ nên trao đổi với cha tuyên úy của mình và với cấp chỉ huy”. “Lời khuyên của tôi là hãy gây ra ít tổn hại nhất có thể và cố gắng bảo vệ sinh mạng của những người vô tội”.
Người dẫn chương trình Ed O’Keefe của Đài truyền hình CBS News ở Mỹ cũng hỏi về những phát biểu của Bộ trưởng Quốc phòng Pete Hegseth, chẳng hạn việc ông “liên tục nhắc đến Chúa Giêsu khi nói về cuộc chiến với Iran”. Ông Hegseth còn tự gọi mình là “Bộ trưởng Chiến tranh”, sau khi Tổng thống Trump ký sắc lệnh hành pháp ngày 05 tháng Chín bổ sung danh xưng “Bộ Chiến tranh”, như một tên gọi mang tính nghi thức cho Bộ Quốc phòng.
Sứ điệp của Chúa Giêsu là hòa bình
Đức Tổng giám mục Broglio nhận định rằng phát biểu của Bộ trưởng Hegseth “có phần gây vấn đề, vì Chúa Giêsu chắc chắn đã mang đến một sứ điệp hòa bình, và chiến tranh luôn phải là lựa chọn cuối cùng”. “Dĩ nhiên có thể họ có những thông tin khiến họ nghĩ đó là lựa chọn duy nhất. Tôi không phán xét điều đó vì tôi thực sự không biết. Nhưng tôi nghĩ rất khó để xem cuộc chiến này như là điều được Chúa ủng hộ”.
(OSV 5-4-2036)
Sứ thần Tòa Thánh tại Ucraina, Đức Tổng giám mục Visvaldas Kulbokas, đã kêu gọi tinh thần đoàn kết quốc tế nhân dịp lễ Phục sinh. Trong một cuộc phỏng vấn với hãng tin Công giáo SIR của Hội đồng Giám mục Ý, truyền đi ngày 05 tháng Tư vừa qua, Đức Sứ thần phê bình sự yếu kém của ngoại giao quốc tế và nhấn mạnh sự cần thiết của tiếng nói từ Đức Giáo hoàng.
Phúc Nhạc | RVA
Đức Tổng giám mục Kulbokas là người Lituani. Ngài không chỉ nói đến Ucraina, nhưng cả tình hình trên toàn thế giới đang xuất hiện xu hướng “gieo rắc thêm nhiều hỗn loạn hơn trước”. Trong bối cảnh đó, “các tác nhân toàn cầu mới” có xu hướng tìm đến vũ khí hạt nhân. Đức Tổng giám mục cho rằng trong hoàn cảnh này, cần có tiếng nói của Đức Giáo hoàng, người nhắc nhở về luật pháp quốc tế và thúc đẩy việc từ bỏ vũ khí hủy diệt hàng loạt. Đức Tổng giám mục Kulbokas nói: “Trong tình hình hiện tại, tiếng nói của Đức Giáo hoàng và của Giáo hội có thể đối với một số người giống như “tiếng kêu trong sa mạc”, nhưng chúng tôi tin rằng đó chính là vai trò của Giáo hội: ngay từ bây giờ, trong giờ phút tăm tối, chuẩn bị nền tảng cho hòa bình.”
Phục sinh trong điều kiện chiến tranh
Nhiều tín hữu tại Ucraina đã không thể cử hành lễ Phục sinh năm nay trong các nhà thờ chính tòa hay giáo xứ. Nhiều giám mục và linh mục Công giáo cũng như ngoài Công giáo buộc phải tìm địa điểm khác để cử hành phụng vụ. Tình cảnh đặc biệt khó khăn đối với các tù binh chiến tranh và thường dân bị giam giữ. Đức Sứ thần nhấn mạnh rằng: “Niềm vui Phục sinh tại Ucraina không thể tránh khỏi việc hòa lẫn với máu và đau thương.” Vị Sứ thần nói thêm rằng nếu không có lễ Phục sinh và niềm hy vọng đặt nơi Thiên Chúa, thì đối với nhiều người, cuộc chiến sẽ còn khắc nghiệt hơn rất nhiều. Ở nhiều khu vực, tình hình an ninh vẫn căng thẳng; tại các vùng gần tiền tuyến, ngoài pháo kích còn có mìn trong khu dân cư. Vì vậy, các thánh lễ thường chỉ được cử hành vào ban ngày.
(KAP 6-4-2026)
Một tai nạn thảm khốc đã xảy ra trong Đêm Vọng Phục Sinh, vào khoảng 1 giờ sáng ngày 05 tháng Tư vừa qua, khi một xe tải Shehzoor chạy với tốc độ cao lao thẳng vào đám đông, gây hỗn loạn và khiến khoảng 300 người hoảng loạn bỏ chạy, làm hơn 30 người bị thương trên tuyến đường liên huyện Mariamabad, đường Alipur, thuộc tỉnh Punjab, Pakistan.
Phúc Nhạc | RVA
Thông tin ban đầu cho biết: trong lúc đoàn rước đang diễn ra, một xe tải chở gà bất ngờ mất lái và đâm vào các tín hữu tham gia, gây ra nhiều thương tích. Theo lực lượng cứu hộ, từ 30 đến 35 người bị thương đã được chuyển ngay đến các bệnh viện khác nhau ở Gujranwala để điều trị.
Giới chức đã mở cuộc điều tra để xác định nguyên nhân vụ tai nạn. Sự việc gây ra nỗi đau buồn và chấn động sâu sắc trong khu vực.
Linh mục Phanxicô Shahrukh Nathaniel, đang trên đường đến cử hành thánh lễ Phục sinh, nói với báo chí rằng cộng đoàn đang đi rước về nhà thờ thì xảy ra tai nạn. Cha đặt câu hỏi về các biện pháp an ninh, cho rằng cảnh sát đã không cung cấp bảo vệ cho sự kiện quan trọng này và không có một nhân viên nào hiện diện. Cha yêu cầu đồn cảnh sát Ahmadnagar lập báo cáo và tiến hành điều tra. Cha Shahrukh cũng kêu gọi bà Maryam Nawaz Sharif, Thủ hiến bang Punjab, lưu ý đến vụ việc và giúp cộng đoàn tìm kiếm công lý, đồng thời hỗ trợ những người bị thương.
Ông Yousuf Masih, một cư dân Mariamabad có mẹ bị thương trong vụ việc, gọi đây là “một hành động có chủ ý và được tính toán trước”. Ông đặt câu hỏi làm sao tài xế lại không nhìn thấy đoàn rước hơn 300 người mà vẫn lao thẳng vào đám đông. Và ông nói thêm: “Ở đất nước này không có an ninh hay quyền lợi cho các nhóm thiểu số”.
Ông cũng cho biết cảnh sát Ahmadabad - cách hiện trường chỉ 15 phút - đã đến sau hơn một giờ dù có nhiều cuộc gọi. Nhà chức trách phản ứng chậm chạp, khiến các nạn nhân không được hỗ trợ ngay lập tức, thậm chí còn yêu cầu cộng đoàn Kitô hữu mở lại giao thông. Chỉ sau đó các nạn nhân mới được đưa đến bệnh viện Gujranwala.
Bà Bashiran Gill, đang điều trị tại một bệnh viện ở Gujranwala sau khi bị thương cùng cháu trai, kể lại rằng họ đang ca ngợi Thiên Chúa và hát mừng Phục sinh thì một xe tải chạy nhanh lao vào. Bà bất tỉnh và tỉnh lại trong bệnh viện. Bà nói: “Đó là một sự việc đột ngột, đáng lẽ có thể gây chết người, nhưng tạ ơn Chúa không ai thiệt mạng”.
Ông Kashif Anthony, thư ký Ủy ban Công giáo về đối thoại liên tôn của Tổng Giáo phận Karachi, kêu gọi chính phủ lưu tâm đến vụ việc và đảm bảo công lý cho các nạn nhân. Ông cũng đề nghị cung cấp chăm sóc y tế ngay lập tức và bồi thường tài chính, vì nhiều người bị gãy xương và không thể tiếp tục làm việc. Và ông kết luận rằng: “Họ là những người nghèo sống bằng lao động hằng ngày và cần được chính phủ hỗ trợ”.
(Asia News 6-4-2026)
Hãng tin Fides của Bộ Loan báo Tin mừng, truyền đi ngày 06 tháng Tư vừa qua cho biết trong đêm Vọng Phục sinh, Tổng Giáo phận Mẹ Thiên Chúa ở Mascơva, thủ đô Liên bang Nga, đã có thêm 18 tân tòng.
Phúc Nhạc | RVA
Đức cha Paolo Pezzi, người Ý, Tổng giám mục Giáo phận Mẹ Thiên Chúa của giáo phận sở tại cũng là Chủ tịch Hội đồng Giám mục Liên bang Nga, đã ban bí tích khai tâm Kitô giáo, Rửa tội, Thêm sức và Mình Thánh Chúa cho 18 dự tòng người lớn.
Tổng giáo phận này do Đức cha Pezzi lãnh đạo từ 19 năm nay (2007) bao phủ một diện tích gần hai triệu 630.000 (2.629.000) cây số vuông, tức là rộng gấp tám lần Việt Nam, nhưng chỉ có hơn 70.000 tín hữu Công giáo thuộc khoảng 100 cộng đoàn giáo xứ và giáo họ, do 103 linh mục phụ trách.
Trong bài giảng thánh lễ, Đức Tổng giám mục Pezzi nói với các tín hữu rằng: “Chúa Kitô đã sống lại và không bao giờ bỏ rơi chúng ta nữa. Ngài nói: “Và này, Thầy ở cùng các con mọi ngày cho đến tận thế” (Mt 28,20). Thiên Chúa không bao giờ để chúng ta rơi khỏi tay Ngài. Và tay Ngài là những bàn tay nhân lành”.
Đức Tổng giám mục nhấn mạnh rằng đây là lời loan báo dành cho mọi người nam và nữ, tại nhà thờ chính tòa Đức Mẹ Vô Nhiễm Nguyên Tội: “Giờ đây, Chúa Kitô Phục sinh cũng hướng lời này đến chúng ta: ‘Ta đã sống lại và sẽ luôn ở với các con. Tay Ta nâng đỡ các con và không gì có thể giật các con khỏi tay Ta. Ta sẽ ở với các con cả nơi ngưỡng cửa sự chết, nơi không ai có thể đi cùng các con và chính các con cũng không thể làm gì. Ở đó Ta sẽ chờ các con và biến bóng tối thành ánh sáng cho các con’. Lời loan báo này, lời của Đấng Phục Sinh, diễn tả điều xảy ra trong Bí tích Rửa tội. Rửa tội không chỉ là việc tẩy rửa hay thanh luyện. Nó còn hơn cả việc gia nhập một cộng đoàn: đó là một sự sinh ra mới, một khởi đầu mới của đời sống”.
Và Đức Tổng giám mục nói với 18 tân tòng đã lãnh nhận ba bí tích khai tâm Kitô giáo rằng: “Anh chị em tân tòng thân mến, đây chính là điều mới mẻ của Bí tích Rửa tội: cuộc đời chúng ta thuộc về Chúa Kitô, không còn thuộc về chính chúng ta nữa. Nhưng chính vì thế, chúng ta không cô đơn ngay cả trong cái chết, bởi vì chúng ta ở cùng Đấng hằng sống muôn đời. Trong Bí tích Rửa tội, cùng với Chúa Kitô, được Người đón nhận trong tình yêu của Người, chúng ta được giải thoát khỏi sợ hãi”.
Nhắc đến biểu tượng Phục sinh trong truyền thống Đông phương - nơi Chúa Kitô khi xuống ngục tổ tông giải thoát Ađam khỏi cái chết - ngài nói: “Bằng cái chết của mình, Người nắm tay Ađam và tất cả những ai chờ được giải thoát, và dẫn họ đến ánh sáng. Ánh sáng làm cho sự sống trở nên khả thi. Ánh sáng làm cho cuộc gặp gỡ trở nên khả thi. Ánh sáng làm cho sự hiệp thông trở nên khả thi. Ánh sáng làm cho tri thức trở nên khả thi, cho phép tiếp cận thực tại, với chính chân lý. Và khi làm cho tri thức trở nên khả thi, ánh sáng cũng làm cho tự do và sự tiến bộ trở nên khả thi”. Và Đức Tổng giám mục Pezzi kết luận: “Qua sự phục sinh của Chúa Giêsu, tình yêu đã tỏ ra mạnh hơn sự chết, mạnh hơn sự dữ. Vì tình yêu, Người đã từ trời xuống, và cũng chính tình yêu là sức mạnh giúp Người nay lên trời. Hiệp nhất với tình yêu của Người, được nâng lên trên đôi cánh của tình yêu, như những con người biết yêu và được yêu, chúng ta cùng Người đi xuống những bóng tối của thế gian, với xác tín rằng như thế chúng ta sẽ cùng Người đi lên.
Lạy Chúa, chúng con cầu xin trong đêm nay: xin tỏ lộ tình yêu của Chúa mạnh hơn hận thù, mạnh hơn sự chết. Lạy Chúa Kitô, xin xuống nơi vực sâu của thời đại chúng con và nắm lấy tay những ai đang chờ Chúa. Xin dẫn họ đến ánh sáng! Xin ở với chúng con cả trong những đêm tối và dẫn chúng con ra khỏi đó! Xin giúp con, giúp chúng con biết cùng Chúa đi vào bóng tối của những người đang chờ đợi, của những người kêu cầu Chúa từ vực sâu! Xin giúp chúng con mang ánh sáng của Chúa đến cho họ! Xin giúp chúng con đạt tới tiếng “xin vâng” của tình yêu, cho phép chúng con cúi xuống với con người và nhờ đó cùng Chúa đi lên! Amen”.
Tại Liên bang Nga còn có ba giáo phận trực thuộc, đó là Giáo phận Thánh Clêmentê tại Saratov, Giáo phận Thánh Giuse tại Irkutsk và Giáo phận Chúa Hiển Dung tại Novosibirsk. Sở dĩ tại Liên bang Nga, bốn giáo phận Công giáo không được gọi bằng tên địa danh, nhưng bằng tên thánh để tránh đụng chạm với Giáo hội Chính thống Nga đã hiện diện tại địa phương.
(Agenzia Fides 5/4/2026)
Chúa nhật Phục sinh, ngày 05 tháng Tư vừa qua, một chuyến hàng viện trợ nhân đạo do Sứ thần Tòa Thánh tại Liban tổ chức dự kiến sẽ đến với các Kitô hữu đang sinh sống ở miền nam Liban. Tuy nhiên, đoàn xe này - vốn đã được chuẩn bị trong nhiều ngày trước đó - nay đã bị chính quyền Liban hủy bỏ “vì lý do an ninh”.
G. Trần Đức Anh, O.P. | RVA
Trước đó, các chuyến viện trợ thường được quân đội Liban hộ tống, nhưng do ảnh hưởng các cuộc tấn công của Israel, lực lượng Liban này bắt đầu rút khỏi miền nam đất nước, khiến người dân không được bảo vệ.
Đoàn xe “dự định vận chuyển hơn 40 tấn thuốc men và nhu yếu phẩm cho người dân trong khu vực này, những người đang bị cô lập khỏi phần còn lại của đất nước.” Hoạt động viện trợ được tổ chức dưới sự bảo trợ của Tòa Thánh. Kể từ khi chiến tranh bùng nổ, Đức Sứ thần Tòa Thánh tại Liban đã trực tiếp chuyển nhiều chuyến hàng viện trợ đến miền nam, chuyến gần nhất đã đến thành phố Tiro trong Tuần Thánh.
Thay vì đình chiến dịp Phục sinh, chiến dịch tấn công vẫn tiếp diễn
Đức Hồng y Thượng phụ Công giáo Maronite, Béchara Boutros Rai - vị lãnh đạo cộng đồng Công giáo lớn nhất nước Liban - đã bày tỏ “sự thất vọng sâu sắc” trước việc hủy chuyến hàng viện trợ. Ngài nhắc lại rằng số hàng này dành cho cư dân thị trấn Debel và các làng lân cận như Rmeish và Ain Ebel, nằm trong khu vực được gọi là “Đường Xanh” - khu vực mà quân đội Israel yêu cầu sơ tán ngay lập tức. Bất chấp những lời kêu gọi “ngừng bắn trong dịp Phục sinh”, Israel vẫn tiếp tục chiến dịch tấn công nhằm kiểm soát các khu định cư trong vùng rộng 40 cây số dọc biên giới.
Vi phạm luật nhân đạo quốc tế
Các tổ chức Công giáo Ouvre d’Orient và Caritas Liban, cùng với Đức Tổng giám mục Sứ thần Tòa Thánh Paolo Borgia - những đơn vị tổ chức hỗ trợ cho người dân miền nam - đã ra thông cáo đặc biệt, trong đó nhấn mạnh rằng “việc hủy bỏ một đoàn xe nhân đạo, dù vì lý do an ninh, cũng cấu thành hành vi vi phạm công pháp quốc tế về nhân đạo, đặc biệt khi đoàn xe nhằm hỗ trợ những dân thường không có khả năng tự vệ” đang bị mắc kẹt trong các ngôi làng của họ.
Thông cáo nhấn mạnh rằng “việc xâm phạm quyền của người dân miền nam Liban”- những người “không có vũ trang và bị mắc kẹt trong cuộc chiến giữa Hezbollah và Israel, đe dọa sự tồn tại của họ” - đó là điều không thể chấp nhận. Các tổ chức viện trợ cũng chỉ ra rằng người dân miền nam đang là nạn nhân của việc di dời cưỡng bức, phải đối mặt với các lệnh sơ tán lặp đi lặp lại từ quân đội Israel.
Một tín hiệu đau đớn đối với các Kitô hữu
Tòa Thượng phụ Công giáo Maronite, cùng với các tổ chức Ouvre d’Orient và Caritas Liban, gọi việc hủy chuyến vận chuyển này là “một sứ điệp đau đớn gửi đến các Kitô hữu miền nam Liban, những người bị ngăn cản cử hành lễ Phục sinh”, cùng với đại diện của Tòa Thánh và các phái đoàn của hai tổ chức. Thông cáo viết: “Chúng tôi bày tỏ tình liên đới và sự khâm phục đối với lòng can đảm và chứng tá hòa bình của những người dân vẫn ở lại miền nam Liban.”
Người dân không muốn rời bỏ nhà cửa
Hiện vẫn có 16 ngôi làng ở khu vực biên giới phía nam Liban - nơi Israel tìm cách thiết lập một vùng đệm - còn có người sinh sống. Cha Nagib Amil cho biết tình hình đang xấu đi thêm. “Các con đường quanh Rmeish đã bị cắt đứt hoàn toàn, và chúng tôi không thể đưa bệnh nhân đến bệnh viện.... Chúng tôi sống trong sự bất định về số phận của mình, và nguồn lương thực chỉ đủ tối đa hai tháng nữa.”
Kể từ khi chiến tranh bùng nổ, sáu chuyến hàng thực phẩm và thuốc men đã đến miền nam Liban. Những nguồn viện trợ này hiện đang giúp duy trì cuộc sống cho cư dân các ngôi làng ngày càng bị cô lập, trong đó có cả các làng Hồi giáo. Việc quân đội Liban rút khỏi khu vực biên giới làm dấy lên lo ngại về tương lai. Cha Nagib Amil nói: “Người dân vẫn đang kháng cự; họ không muốn một lần nữa rời bỏ nhà cửa và chạy trốn vào điều chưa biết.... bất chấp pháo kích, chúng tôi vẫn tổ chức được những nghi thức khiêm tốn trong Tuần Thánh và lễ Phục sinh.”
(Ekai.pl 7-4-2026)
Sơ Loreta Beccia, SMC – Yaoundé (Cameroon)
Mồ côi và mang dấu ấn của những cảnh bạo lực, có những trẻ em tại Cộng hòa Dân chủ Congo cần được yêu thương, cần sự gần gũi và cần có ai đó có thể truyền đạt cho các em qua ánh nhìn và nụ cười rằng: “Em thật quan trọng đối với tôi”. Đó chính là mục tiêu của trung tâm Saint Laurent tại Kisangani, CHDC Congo: đón nhận và đồng hành với các em nhỏ này trên một hành trình giúp các em biết sống hòa hợp với chính mình và với người khác.
Các nữ tu thuộc cộng đoàn Tiền tập viện của các Nữ Thừa sai Comboni, đặc biệt là sơ người Tây Ban Nha Francisca Sánchez với nhiều năm kinh nghiệm truyền giáo tại CHDC Congo và Togo, và sơ Nicole Mboma Enzenze, người Congo có kinh nghiệm tại Mozambique, luôn hiện diện và đồng hành với các em trong nhiều hoạt động khác nhau. Đồng hành với các sơ còn có năm sơ nhà tập đến từ Chad và chính CHDC Congo.
Thành lập và tổ chức
Trung tâm Saint Laurent được thành lập ngày 10 tháng 8 năm 1999 bởi cha Giovanni Pross, một linh mục dòng Thánh Tâm (Dehonian), nhằm giải quyêts những hậu quả của chiến tranh đã tàn phá nặng nề Kisangani trong các năm 1996 và 1997. Ngay từ đầu, các Nữ Thừa sai Comboni đã cộng tác tại đây. Trung tâm được tổ chức thành nhiều khu vực: trường học, giáo dục, vệ sinh và y tế, nhà bếp, hỗ trợ và tự chăm sóc. Mọi người phối hợp làm việc một cách đồng bộ, và mỗi thứ Bảy đều có cuộc họp với các tình nguyện viên và nhân viên để tổ chức công việc. Các em nhỏ được đón nhận được chia thành ba nhóm (nhỏ, trung và lớn), và mỗi nhóm đều có một người lớn phụ trách luôn hiện diện cả ngày lẫn đêm.
Công việc không hề đơn giản, và bước tiếp cận ban đầu đòi hỏi sự kiên nhẫn cùng sự tinh tế lớn trong việc đáp ứng nhu cầu của những trẻ em đã trải qua các chấn thương sâu sắc, đặc biệt liên quan đến việc bị bỏ rơi. Đồng thời, cũng cần sự kiên quyết để tránh việc thiếu những điểm tựa rõ ràng làm cho việc giáo dục trở nên kém hiệu quả. “Ban đầu nhiều em có xu hướng bạo lực và khó tuân thủ các quy tắc, vì thế cần phải dứt khoát, nhưng đồng thời cũng phải hành động với sự dịu dàng”, sơ Nicole – người làm việc tại trung tâm từ đầu năm 2024 với vai trò phụ trách kho quần áo, giày dép và đồ dùng học tập – giải thích.
Sơ Francisca làm việc tại trung tâm từ năm 2021 và phụ trách việc đào tạo nhân bản và trí thức, kể cả qua việc chiếu các bộ phim giáo dục. Ngoài ra, sơ còn chăm lo đời sống phụng vụ và âm nhạc bằng việc thành lập một ca đoàn, vốn cũng chứng tỏ là một phương pháp chữa lành các chấn thương. Câu chuyện của Paulina là một ví dụ: do một chấn thương nặng, em bị câm, nhưng nhờ hát trong ca đoàn, em dần dần có thể cất tiếng và hiện nay đã có thể đánh vần tên mình. Đó là một thành công to lớn cho tất cả.
Những câu chuyện về cuộc sống và sự tái sinh
Có rất nhiều câu chuyện trong số các em nhỏ được đón nhận để lại dấu ấn sâu đậm. Như trường hợp của một bé trai khoảng bốn tuổi, được tìm thấy trong rừng sau một thời gian dài sống cô lập, khiến em gặp những khó khăn nghiêm trọng trong tương quan và giao tiếp. Nhờ sự hiện diện kiên trì và đầy yêu thương của các nữ tu và các nhà giáo dục, em dần dần biết tin tưởng, biết nói và kể lại những gì mình trải qua. Việc được đưa vào học mẫu giáo càng giúp em phát triển hơn, biến những mối quan hệ ban đầu đầy xung đột thành những gắn kết bình an. Sơ Nicole nhớ lại lần gặp đầu tiên với em rất khó khăn: sau khi buộc phải la mắng em, em đã không nói chuyện với sơ suốt một tuần. Chính sơ là người chủ động làm hòa, tiến lại gần với một nụ cười và những lời dịu dàng. Những cử chỉ nhỏ bé của sự gần gũi ấy đã làm tan biến sự nghi ngại ban đầu, và giờ đây, như sơ kể, “chúng tôi là những người bạn lớn: mỗi lần thấy tôi đến, em chạy lại ôm tôi và kể cho tôi nghe tất cả những gì em đã làm và học ở trường”.
Sơ Francisca cũng có một câu chuyện đã để lại dấu ấn sâu đậm nơi sơ: đó là một bé gái 7 tuổi bị dị tật ở chân, được đưa đến Goma để phẫu thuật và đã có thể đi lại bình thường. Sau khi trở về Kisangani và được đón nhận vào một gia đình nuôi dưỡng, em đã đến thăm các sơ và trong dịp đó đã xin được làm việc bằng những kỹ năng thủ công học được tại trung tâm để giúp mẹ nuôi trang trải chi phí học tập. Sự chủ động của em đã gây ấn tượng sâu sắc nơi các nữ tu và trở thành một dấu chỉ cụ thể cho thấy hành trình trưởng thành là điều có thể, khi con người cảm thấy được đón nhận, lắng nghe và trân trọng.
Gia đình Rosamily
Vẫn là cùng một đức tin Công giáo, cùng lắng nghe một Tin Mừng, cùng hướng về một Thiên Chúa duy nhất. Thế nhưng, khi đặt chân đến Phần Lan, nhiều bạn trẻ Việt Nam đã nhận ra rằng cùng một niềm tin, nhưng nhịp sống đạo có thể khác biệt đến bất ngờ. Nếu tại nhiều nơi, việc tham dự Thánh lễ Chúa Nhật là một thói quen tự nhiên, thì tại đây, có những cộng đoàn mà Thánh lễ không thể được cử hành hằng tuần. Sự khan hiếm linh mục, khoảng cách địa lý và số lượng tín hữu hạn chế khiến việc “được đi lễ” đôi khi trở thành một cuộc hẹn hiếm hoi và quý giá.
Theo số liệu của Giáo phận Helsinki, trong giai đoạn 2023–2024, Phần Lan có khoảng 17.243 tín hữu Công giáo đăng ký, chiếm khoảng 0,3% dân số. Trong số đó, gần một nửa là người bản xứ, phần còn lại là người nhập cư. Con số thực tế có thể cao hơn do nhiều sinh viên quốc tế và người nhập cư chưa đăng ký chính thức. Tuy nhiên, dù nhìn dưới góc độ thống kê hay trải nghiệm thực tế, đây vẫn là một cộng đoàn rất nhỏ bé.
Toàn quốc chỉ có một giáo phận duy nhất là Giáo phận Helsinki, với vỏn vẹn 8 giáo xứ và chưa đến 30 linh mục phục vụ. Phần lớn là các linh mục dòng được sai đến từ nhiều quốc gia khác nhau. Vì thế, tại nhiều vùng, các ngài phải di chuyển quãng đường dài để cử hành Thánh lễ và ban các bí tích. Điều này khiến đời sống phụng vụ của các cộng đoàn mang một nhịp điệu khác, chậm hơn, thưa hơn, nhưng cũng vì thế mà trở nên đáng quý hơn.
Tại một thành phố miền trung nơi nhiều bạn trẻ Việt Nam sinh sống từ năm 2016, không có nhà thờ Công giáo và cũng không có linh mục thường trú. Sau nhiều nỗ lực, vào năm 2012, giáo phận đã mua một căn hộ tầng trệt trong khu chung cư để làm nhà nguyện nhỏ. Từ đó, các linh mục thay phiên nhau vượt quãng đường gần 250 km để dâng lễ hai lần mỗi tháng. Với cộng đoàn nhỏ bé ấy, mỗi Thánh lễ không chỉ là một bổn phận, nhưng là một niềm vui, một sự mong chờ, và một ân ban được trân trọng.
Biến cố đại dịch Covid-19 càng làm gián đoạn nhịp sống vốn đã mong manh ấy. Các cộng đoàn phải thích nghi với những quy định phòng dịch, nhiều tín hữu buộc phải tham dự Thánh lễ trực tuyến. Khi các nhà thờ dần mở cửa trở lại vào năm 2021, đời sống cộng đoàn không dễ dàng phục hồi. Không phải vì người ta cố tình xa rời, nhưng bởi sự thiếu thốn kéo dài đã khiến đời sống đức tin trở nên dễ bị bào mòn nếu không có một điểm tựa thiêng liêng.
Chính trong hoàn cảnh đó, vào tháng 2 năm 2021, trên một trang mạng xã hội của các sinh viên Công giáo Việt Nam tại Phần Lan, một lời mời gọi giản dị được đăng tải: cùng nhau lần chuỗi Mân Côi mỗi tối. Lời mời ấy nhỏ bé, nhưng đã chạm đến những con tim đang tìm kiếm một điểm tựa.
Ban đầu, đó chỉ là một thử nghiệm đơn sơ. Nhưng rồi, từng Kinh Kính Mừng được lặp lại mỗi ngày đã trở thành một nhịp cầu nối kết. Từ vài người, nhóm dần lớn lên. Từ một buổi cầu nguyện, trở thành một hành trình thiêng liêng “nhờ Mẹ đến với Chúa”.
Gần năm năm trôi qua, nhóm Rosamily vẫn duy trì giờ kinh chung mỗi ngày vào 20 giờ 30 theo giờ Phần Lan. Hơn 1.800 ngày liên tiếp, chuỗi Mân Côi không bị gián đoạn. Từ một sáng kiến nhỏ bé, nay đã trở thành một cộng đoàn sống động, nơi các tín hữu ở nhiều độ tuổi và hoàn cảnh khác nhau có thể gặp gỡ, nâng đỡ và cùng nhau nuôi dưỡng đời sống đức tin.
Hành trình ấy không thiếu những thử thách. Cuộc sống của những người xa quê luôn bận rộn và nhiều áp lực. Có những lúc tưởng chừng nhóm không thể tiếp tục. Nhưng chính khát vọng giữ một điểm hẹn thiêng liêng đã giúp mọi người kiên trì. Không phải nhờ một cơ cấu tổ chức chặt chẽ, nhưng nhờ sự tự do và lòng khao khát nội tâm.
Rosamily không có cơ cấu hội đoàn, không có linh mục linh hướng thường trực, cũng không có những quy định ràng buộc. Mỗi người đến trong tự do và ở lại vì cảm nhận được sự cần thiết. Dần dần, nhóm trở thành một gia đình, nơi có cả những người trẻ, các gia đình, và cả những anh chị em tân tòng với lòng sốt sắng đáng quý.
Điều làm nên nét đặc biệt của nhóm chính là sự đơn sơ nhưng chân thật. Ngoài giờ cầu nguyện, các thành viên vẫn có những dịp gặp gỡ trực tiếp, chia sẻ đời sống thường nhật. Trong những khoảnh khắc ấy, mọi người được là chính mình, với những khác biệt về hoàn cảnh, quan điểm và tính cách. Nhưng khi bước vào giờ kinh, tất cả cùng quy tụ trong một điểm chung: mến Chúa và yêu người.
Việc sử dụng công nghệ, cách riêng là các nền tảng trực tuyến, đã trở thành một phương tiện hữu hiệu để duy trì sự hiệp thông. Trong một thế giới mà các mối tương quan dễ trở nên mong manh, một đường link đơn giản lại trở thành điểm hẹn bền vững. Dù ở bất cứ đâu, mỗi người đều có thể trở về, chỉ bằng một hành động rất nhỏ: tham dự giờ kinh chung.
Không có kế hoạch dài hạn, không có chiến lược phát triển, nhưng chuỗi kinh vẫn được tiếp nối mỗi ngày. Những lời kinh quen thuộc không còn là những câu chữ lặp lại, nhưng trở thành lời cầu nguyện sống động, gắn liền với những thao thức cụ thể của từng người.
Trong Chúa Thánh Thần, một cộng đoàn nhỏ bé có thể trở nên mạnh mẽ. Giữa một đất nước mà đời sống Công giáo còn nhiều giới hạn, việc kiên trì lần chuỗi Mân Côi mỗi ngày đã trở thành một cách thế để các tín hữu giữ mình gắn bó với Thiên Chúa và hiệp thông với nhau.
Đức Hồng y Pierbattista Pizzaballa, Thượng phụ Công giáo Latinh ở Jerusalem, trong dịp Phục sinh này, kêu gọi mọi người hãy chủ động chọn lựa sứ điệp Phục sinh.
Phúc Nhạc | RVA
Trong bài giảng thánh lễ Phục sinh, tại Đền thờ Mộ Thánh ở Jerusalem, chỉ có các linh mục và tu sĩ được phép tham dự sau các cánh cửa nhà thờ đóng kín, vì cộng đoàn giáo dân không được tới tham dự do tình trạng an ninh, Đức Hồng y nói: “Phục sinh không phải là một câu nói để lặp lại; đó là một cánh cửa mà người ta phải bước qua”.
Theo Đức Hồng y Pizzaballa, sự trống rỗng của ngôi mộ Chúa Kitô vào sáng Phục sinh “không phải là sự vắng mặt, nhưng là một lời loan báo”. Trong đó chứa đựng thách đố của Phục sinh: Thiên Chúa không thể bị giữ lại; Đấng Phục Sinh “không bị giới hạn vì những xác tín của chúng ta”. Vì thế, đức tin “không bao giờ là không có chuyển động”. Đức tin đòi hỏi dấn thân, chứ không phải thói quen, và mời gọi chọn lựa tha thứ, sự thật và hy vọng, ngay cả trong những thời điểm khó khăn.
Đức Hồng y cũng đề cập đến tình hình tại Thánh địa, nơi “quá nhiều ngôi mộ đã bị đào lại do hận thù, bạo lực và trả thù”. Dường như Chúa Giêsu lại bị đặt vào mộ mỗi khi “chúng ta tin rằng cái chết có lời nói cuối cùng về lịch sử, mỗi khi chúng ta chấp nhận logic của kẻ thù, mỗi khi chúng ta gọi một lệnh ngừng bắn vũ trang là “hòa bình” và việc tính toán thiệt hại là “công lý”. Trong khi đó, ngôi mộ trống của Chúa Kitô là “vũ khí duy nhất”, và sự Phục sinh là “niềm hy vọng duy nhất có thể mở ra cánh cửa hòa bình ngay tại đây và lúc này”. Nhờ Phục sinh, tảng đá trước mộ đã được lăn ra, nhưng vẫn tùy mỗi người quyết định “bước ra ngoài và đón nhận sự sống mới”.
Lời chúc Phục sinh từ Thủ tướng Netanyahu của Israel
Thủ tướng Israel, ông Benjamin Netanyahu đã chúc các Kitô hữu trên toàn thế giới một lễ Phục sinh an vui. Trong sứ điệp đăng trên mạng xã hội vào Chúa nhật, ngày 05 tháng Tư vừa rồi, ông Netanyahu đặc biệt gửi lời chào đến “những người bạn Kitô hữu tại Israel và Hoa Kỳ”. Ông nhắc lại rằng các Kitô hữu đang bị bách hại trên toàn thế giới, kể cả tại Trung Đông, Liban và Syria. “Nhưng trong khu vực của chúng ta, chỉ có Israel bảo vệ cộng đồng Kitô hữu của chúng ta - cộng đồng đang phát triển và thịnh vượng”. Ông không đề cập đến các cuộc tấn công và hành vi bạo lực của các người định cư Israel nhắm vào các làng mạc ở miền Bờ Tây, nơi các Kitô hữu địa phương cũng chịu thiệt hại nặng nề.
Thay vào đó, ông biện minh cho cuộc chiến do Israel và Hoa Kỳ dẫn đầu chống lại Iran: “Tại vùng đất nơi lịch sử bắt đầu, khi tên lửa phóng vào thủ đô của chúng ta - thành thánh Jerusalem - và khi Hoa Kỳ và Israel kiên định đối đầu với chế độ Iran cùng các đồng minh khủng bố của họ, chúng tôi tiếp tục nỗ lực bảo vệ tự do tôn giáo cho mọi tín ngưỡng - đặc biệt trong thời điểm thánh thiêng này.”
(KAP 5-4-2026)
Hội đồng Giám mục Ý (CEI) cho biết Giáo hội Công giáo tại nước này hưởng ứng và tham gia buổi canh thức cầu nguyện cho hòa bình, vào ngày thứ Bảy, ngày 11 tháng Tư tới đây tại Vatican, do Đức Giáo hoàng Lêô XIV đề xướng trong Sứ điệp Phục sinh với phép lành cùng ơn toàn xá cho Roma và toàn thế giới, trưa Chúa nhật ngày 05 tháng Tư vừa qua.
G. Trần Đức Anh, O.P. | RVA
Trong sứ điệp đó, Đức Giáo hoàng đã kêu gọi “hãy làm vang lên tiếng kêu hòa bình phát xuất từ trái tim”, mời gọi mọi người “hiệp nhất với tôi trong buổi canh thức cầu nguyện cho hòa bình” sẽ được cử hành tại Đền thờ Thánh Phêrô.
Chủ tịch Hội đồng Giám mục Ý là Đức Hồng y Matteo Maria Zuppi, Tổng giám mục Giáo phận Bologna, ra thông cáo cho biết vui mừng đón nhận và quảng bá lời mời gọi của Đức Giáo hoàng. Đức Hồng y nói: “Chúng ta, các Kitô hữu, biết rằng có thể hy vọng ngay cả khi không còn hy vọng, bất chấp cái chết mà chúng ta thấy hiện diện - như Đức Giáo hoàng đã nhắc nhở - “trong bạo lực, trong những vết thương của thế giới, trong tiếng kêu đau đớn vang lên khắp nơi do những bất công đè bẹp người yếu thế, do sự tôn thờ lợi nhuận tàn phá tài nguyên trái đất, do bạo lực chiến tranh giết chóc và hủy diệt.”
Cụ thể, Đức Hồng y Zuppi nói: “Chúng tôi mời gọi các linh mục, tu sĩ nam nữ và toàn thể dân Chúa tham gia buổi canh thức do Đức Giáo hoàng chủ sự hoặc quy tụ cầu nguyện tại các cộng đoàn địa phương: hãy chặn đứng vòng xoáy của đau khổ, của khổ đau và tàn phá; hãy nói “không” với chiến tranh; đừng quen với sự kinh hoàng.”
(Vatican News 5-4-2026)
