Tin Giáo Hội Hoàn Vũ
Tin Giáo Hội Hoàn Vũ
Sau khi chào thăm và tham quan trung tâm hoạt động của các nữ tu Dòng Thánh Augustinô, Đức Thánh cha Lêô XIV viếng Vương cung Thánh đường Đức Bà Châu Phi, cách đó 1,3 cây số.
G. Trần Đức Anh, O.P. | RVA
Thánh đường này tọa lạc ở phía bắc thủ đô Alger và được nối với khu Bologhine bằng cáp treo. Lịch sử nơi này gắn liền với một tượng Đức Mẹ bằng đồng được tặng vào tháng Năm năm 1840 cho Đức cha Antoine-Louis-Adolphe Dupuch, giám mục đầu tiên của Alger. Ban đầu tượng được đặt tại tu viện Trappist ở Bouchaoui, cách Alger khoảng hai mươi cây số; sau đó mới được chuyển về thủ đô. Sau khi tín điều Đức Mẹ Vô Nhiễm Nguyên Tội được công bố (1854), người kế nhiệm là Đức cha Louis Antoine Augustin Pavy quyết định xây dựng một Vương cung Thánh đường lớn. Công trình bắt đầu năm 1858 và hoàn thành năm 1872, sáu năm sau khi ngài qua đời. Tòa nhà bị hư hại nặng trong trận động đất năm 2003 (khiến khoảng 3.000 người thiệt mạng, chủ yếu tại Boumerdès). Công cuộc trùng tu kéo dài suốt bảy năm.
Lúc quá 17 giờ, Đức Thánh cha đã gặp gỡ cộng đoàn Algeria tại Vương cung Thánh đường. Cuộc gặp gỡ diễn ra với phần trình bày chứng từ xem lẫn các bài thánh ca.
Lời chào mừng của Đức Hồng y Vesco
Đầu buổi gặp gỡ, Đức Hồng y Jean-Paul Vesco, Tổng giám mục sở tại, đã chào mừng và trình bày những nét nổi bật về cộng đoàn Giáo hội địa phương. Đức Hồng y nói:
“Kính thưa Đức Thánh cha,
Thật là một niềm vui lớn lao được đón tiếp Đức Thánh cha tại Vương cung Thánh đường Đức Mẹ Châu Phi, cái nôi của các cha và các nữ tu Dòng “Áo Trắng”, tên chính thức là Dòng Thừa sai Phi châu, do Đức Hồng y Lavigerie sáng lập. Chính từ nơi đây, Tin mừng đã được loan báo đến nhiều quốc gia châu Phi. Vì thế, thật ý nghĩa khi chuyến tông du đầu tiên của Đức Thánh cha đến châu Phi trong cương vị Giáo hoàng bắt đầu từ nơi đây. Vương cung Thánh đường này là không gian của gặp gỡ và tình huynh đệ: hơn chín trong số mười người bước qua ngưỡng cửa nơi đây là người Hồi giáo. “Bà Châu Phi”, như cách nơi này thường được gọi, đã trở thành một phần di sản của Algeria và của trái tim người dân nước này. Dòng chữ chào đón họ: “Xin cầu cho chúng con và cho người Hồi giáo” diễn tả ơn gọi làm mẹ của Đức Maria đối với toàn thể nhân loại, cũng như ơn gọi của ngôi thánh đường này - nơi đón nhận biết bao tâm sự và tổ chức nhiều sinh hoạt văn hóa, tôn giáo, trong đó có các ngày lễ Đức Mẹ mang tính liên tôn Hồi giáo - Kitô giáo.
Nhưng trên hết, con xin hân hạnh giới thiệu với Đức Thánh cha “những viên đá sống động” của Giáo hội chúng con. Giáo hội của chúng con là một Giáo hội như bức khảm, gồm hàng chục quốc tịch khác nhau. Đó là một Giáo hội của Bắc Phi, của vùng Sahara và của châu Phi nam Sahara. Giáo hội thuộc về đất nước Algeria này, nhưng đồng thời cũng thuộc về toàn thế giới. Nhiều tín hữu trong các cộng đoàn giáo xứ của chúng con vốn là thành viên của các Giáo hội Tin lành tại quê hương của họ, và cùng nhau chúng con sống một tinh thần đại kết rất cụ thể và tự nhiên. Chúng con cũng liên kết với các Giáo hội khác - Chính thống giáo, Anh giáo, Tin lành, Cơ Đốc Phục Lâm - hiện diện tại đây, và chúng con sống với nhau trong tình huynh đệ đích thực. Con cũng xin chào ông Frédéric Belaiche, chứng nhân sống động và nhiệt thành của Do Thái giáo tại Alger.
Con cũng xin thay mặt những người không có mặt trong Vương cung Thánh đường này nhưng đang theo dõi buổi cử hành từ phía sau song sắt của khoảng 60 nhà tù - nơi mà 70 người trong chúng con thường xuyên đến thăm trong sự hợp tác tốt đẹp với ban quản lý trại giam. Họ là những người di cư đang tìm kiếm một tương lai tốt đẹp hơn, nhưng cuộc đời của họ thường kết thúc quá sớm dưới đáy biển hoặc giữa sa mạc. Họ trông cậy vào lời cầu nguyện của ngài và cũng đoan hứa cầu nguyện cho ngài.
Huấn từ của Đức Thánh cha
Trong huấn từ tại Vương cung Thánh đường Đức Bà Châu Phi ở Algeria, Đức Thánh cha nói lên tình cảm gần gũi và yêu thương của một người cha đối với cộng đồng Công giáo Algeria. Ngài bày tỏ vui mừng khi được gặp một cộng đoàn nhỏ bé nhưng quý giá, hiện diện âm thầm trên mảnh đất giàu truyền thống lịch sử và đức tin. Đức Thánh cha nhấn mạnh rằng cộng đoàn này có nguồn gốc sâu xa, là những người thừa kế di sản của các chứng nhân đức tin, đặc biệt là 19 vị tử đạo Algeria đã hy sinh vì tình yêu đối với Thiên Chúa và con người. Máu của họ được ví như hạt giống sống động, tiếp tục sinh hoa trái trong hiện tại.
Đức Thánh cha cũng nhắc đến truyền thống Kitô giáo lâu đời tại Algeria, gắn liền với các thánh, như Augustinô và Monica, như một nguồn cảm hứng để các tín hữu hôm nay trở thành chứng nhân của hiệp thông, đối thoại và hòa bình. Ngài cảm ơn cộng đoàn vì sự dấn thân hằng ngày trong việc làm cho khuôn mặt yêu thương của Giáo hội trở nên hữu hình giữa xã hội.
Từ những chia sẻ của các đại diện cộng đoàn, Đức Thánh cha mời gọi suy tư về ba yếu tố cốt lõi của đời sống Kitô, đó là: cầu nguyện, bác ái và hiệp nhất.
Trước hết là cầu nguyện, được xem như nhu cầu thiết yếu của con người, giống như hơi thở. Cầu nguyện giúp con người kết nối với Thiên Chúa, củng cố nội tâm và lan tỏa sự nhân ái. Ngài nhắc đến gương của Thánh Charles de Foucauld như một người sống đời cầu nguyện sâu sắc, đồng thời khuyến khích cầu nguyện cho người khác và dấn thân phục vụ tha nhân. Những trải nghiệm thực tế cho thấy nơi cầu nguyện cũng là nơi con người tìm được sự bình an và nâng đỡ tinh thần.
Tiếp đến là bác ái, được thể hiện qua việc phục vụ người nghèo và những người yếu thế. Qua chứng tá của một nữ tu chăm sóc trẻ em khuyết tật, Đức Thánh cha nhấn mạnh rằng lòng thương xót không chỉ giúp đỡ người khác mà còn làm phong phú chính người phục vụ. Từ những hành động nhỏ bé ban đầu có thể hình thành những cộng đoàn yêu thương, nơi con người cùng chia sẻ niềm vui và nỗi đau. Ngài cũng liên kết điều này với chứng tá của các vị tử đạo, những người đã trung thành với tình yêu ngay cả trong bạo lực và cái chết.
Yếu tố thứ ba là hiệp nhất và hòa bình. Đức Thánh cha nhấn mạnh rằng tình yêu thương là dấu chỉ của người môn đệ Chúa Kitô. Ngài trích dẫn giáo huấn của các thánh để khẳng định rằng sự hiệp nhất là hy lễ đẹp lòng Thiên Chúa. Vương cung Thánh đường nơi diễn ra buổi gặp gỡ được xem như biểu tượng của sự hiệp thông, nơi Kitô hữu và Hồi giáo có thể gặp gỡ trong tinh thần tôn trọng và huynh đệ. Đức Thánh cha đánh giá cao chứng tá sống động của cộng đoàn trong việc xây dựng hòa bình giữa một thế giới đầy chia rẽ.
Đức Thánh cha cũng sử dụng hình ảnh sa mạc để nói về sự phụ thuộc lẫn nhau của con người và nhu cầu hướng về Thiên Chúa. Trong hoàn cảnh khó khăn, con người nhận ra sự giới hạn của mình và mở lòng đón nhận sự trợ giúp từ người khác và từ Thiên Chúa.
Kết thúc huấn từ, Đức Thánh cha khích lệ cộng đoàn tiếp tục sứ mạng của mình như một dấu chỉ sống động của Giáo hội - khí cụ của ơn cứu độ và hòa giải. Ngài cảm ơn những đóng góp của họ trong cầu nguyện, bác ái và xây dựng hiệp nhất, đồng thời phó thác họ cho sự bảo trợ của Đức Maria và ban phép lành cho toàn thể cộng đoàn.
Buổi gặp gỡ kết thúc với phép lành của Đức Thánh cha lúc quá 18 giờ. Đức Thánh cha còn thắp lên một ngọn nến sáng trong nhà nguyện kính thánh nữ Monica. Trước khi rời thánh đường, ngài dừng lại trước đài tưởng niệm các nạn nhân đắm tàu.
Đức Thánh cha đi bộ từ thánh đường về Tòa Sứ thần Tòa Thánh, chỉ cách đó 200 mét.
Lúc 15 giờ 30 ngày 13 tháng Tư, Đức Thánh cha Lêô XIV đã đến viếng Đại giáo đường Hồi giáo ở thủ đô Alger, nơi đã được cựu Tổng thống Abdelaziz Bouteflika xây cất như một di sản của nhiệm kỳ và hiện thân cho dự án chính trị của ông dựa trên một tôn giáo ôn hòa.
G. Trần Đức Anh, O.P. | RVA
Đây là Đền thờ Hồi giáo lớn thứ ba thế giới, có sức chứa 120.000 tín đồ, sau thánh địa ở Mecca và Medina. Tháp đền thờ cao 267 mét là tháp cao nhất thế giới. Mái vòm lớn phía trên khu cầu nguyện chính có đường kính 50 mét và cao 70 mét. Lớp phủ bằng đá trang trí kết hợp với các tấm nhôm mạ vàng tạo cảm giác nhẹ nhàng về thị giác, gợi nhớ các họa tiết trang trí Ả Rập truyền thống. Khu phức hợp gồm nhiều công trình phục vụ không chỉ mục đích tôn giáo mà còn có thư viện, vườn, sân thượng ngắm cảnh, trung tâm nghiên cứu, văn phòng, bảo tàng, nhà hàng và bãi đỗ xe. Dự án được thực hiện do tập đoàn Đức-Tunisia Krebs Kiefef và công ty Trung Quốc (China State Construction Engineering).
Đến nơi vào lúc gần 16 giờ, Đức Thánh cha cùng Đức Hồng y Tổng trưởng Bộ Đối thoại Liên tôn Koovakad và Đức Hồng y Vesco, Tổng giám mục sở tại tháp tùng, đã được vị Quản đốc Đền thờ, ông Mohamed Mamoun Al Quasini đón tiếp, trao đổi và hướng dẫn viếng thăm đền thờ vĩ đại này, trước khi chụp hình lưu niệm và ký tên vào sổ vàng lưu niệm.
Trên chuyến bay từ Roma đến Alger, thủ đô Algeria, khi Đức Thánh cha Lêô XIV chào thăm khoảng 70 ký giả cùng đi, ngài đã trả lời thắc mắc về phản ứng của ngài trước những lời công kích thẳng thừng của Tổng thống Mỹ Donald Trump, truyền đi chiều tối ngày 12 tháng Tư trước đó.
G. Trần Đức Anh, O.P. | RVA
Trong bài đăng trên tài khoản Truth Social, Tổng thống Trump phê bình lập trường của Đức Giáo hoàng Lêô chống chiến tranh và cổ võ đối thoại để đạt tới hòa bình. Ông viết: “Thật đáng tiếc: thái độ của Đức Giáo hoàng Lêô quá yếu trong vấn đề tội phạm và vũ khí hạt nhân - hoàn toàn không hợp với tôi. Tôi cũng không thích việc ông gặp những người ủng hộ Obama, như David Axelrod, một kẻ thất bại của phe cánh tả, một trong những người muốn thấy tín đồ và giáo sĩ bị bắt”.
Tổng thống Mỹ nhấn mạnh rằng: “Đức Giáo hoàng Lêô nên điều chỉnh lại vai trò của mình với tư cách Giáo hoàng, sử dụng lẽ thường, ngừng chiều theo cánh tả cực đoan và tập trung trở thành một Giáo hoàng vĩ đại thay vì một chính trị gia. Cách hành xử này đang gây tổn hại nghiêm trọng cho ông và quan trọng hơn là cho Giáo hội Công giáo!”.
Theo ông Trump, Giáo hoàng “lo sợ đối với chính quyền Trump, nhưng không nhắc đến nỗi sợ mà Giáo hội Công giáo và tất cả các tổ chức Kitô giáo khác đã trải qua trong thời Covid, khi các linh mục, mục sư và những người khác bị bắt vì cử hành nghi lễ tôn giáo...”.
Ông viết tiếp: “Tôi thích người anh ruột của ông ấy là Louis hơn nhiều vì ông ta hoàn toàn theo chủ trương MAGA (Làm cho nước Mỹ tái hùng mạnh). Ông ta hiểu mọi thứ... Tôi không muốn một Giáo hoàng cho rằng việc Mỹ tấn công Venezuela là điều tồi tệ, một quốc gia đang đưa lượng lớn ma túy vào Mỹ và, tệ hơn nữa, đang xả tù nhân - gồm kẻ giết người, buôn ma túy và tội phạm bạo lực - vào đất nước chúng ta”... Và tôi không muốn một Giáo hoàng chỉ trích Tổng thống Mỹ, vì tôi đang làm chính xác những gì tôi được bầu để làm, với chiến thắng áp đảo: đưa tội phạm xuống mức thấp kỷ lục và tạo ra thị trường chứng khoán lớn nhất trong lịch sử”.
Tổng thống Mỹ thậm chí còn nhận công về việc Đức Lêô được bầu làm Giáo hoàng. Ông viết: “Lêô nên biết ơn tôi vì, như mọi người đều biết, việc ông được chọn là một bất ngờ lớn. Ông không có trong bất kỳ danh sách ứng viên nào và được chọn chỉ vì là người Mỹ; người ta nghĩ đó là cách tốt nhất để xử lý quan hệ với Tổng thống Donald J. Trump. Nếu tôi không ở Nhà Trắng, Lêô đã không ở Vatican”.
Lời Đức Giáo hoàng Lêô nói với các ký giả
Trả lời câu hỏi của giới báo chí về những điều trên đây của ông Trump, Đức Giáo hoàng Lêô nói: “Tôi nói về Phúc Âm. Tôi không phải là chính trị gia. Tôi không có ý định tranh luận với ông ta”. Tôi không sợ chính quyền Trump. Tôi nói về Phúc Âm và vì thế tôi sẽ tiếp tục lên tiếng mạnh mẽ chống chiến tranh. Tôi không có ý định tham gia tranh luận với ông ta”.
Đức Giáo hoàng nói thêm rằng: “Không thể lạm dụng Phúc Âm theo cách mà một số người đang làm... Tôi nghĩ những ai đọc (những gì Tổng thống Mỹ viết) có thể tự rút ra kết luận của mình”.
Và ngài nhấn mạnh rằng: “Tôi nói về Phúc Âm”, theo đó “chúng ta phải xây dựng hòa bình”. “Hãy chấm dứt chiến tranh! hãy đối thoại” và xây dựng “các tương quan đa phương giữa các quốc gia để tìm giải pháp công bằng cho các vấn đề. Quá nhiều người đang đau khổ, quá nhiều người vô tội đã bị giết, và tôi tin rằng cần có ai đó đứng lên nói rằng có một con đường tốt hơn”.
Phản ứng của các giám mục Mỹ
Đức Tổng giám mục Paul S. Coakley, Chủ tịch Hội đồng Giám mục Mỹ, bày tỏ đau buồn trước cuộc tấn công của Donald Trump nhằm vào Giáo hoàng Lêô XIV. Ngài tuyên bố, theo hãng tin Reuters: “Tôi đau lòng vì Tổng thống đã chọn viết những lời mang tính xúc phạm như vậy về Đức Thánh cha. Đức Giáo hoàng Lêô không phải là đối thủ của ông; và ngài cũng không phải là một chính trị gia. Ngài là Đại diện của Chúa Kitô, nói từ sự thật của Phúc Âm và vì sự chăm sóc các linh hồn”.
Phản ứng của Hội đồng Giám mục Ý
Đức Hồng y Matteo Zuppi, Tổng giám mục Bologna, Chủ tịch Hội đồng Giám mục Ý tuyên bố: “Ông Trump hãy tôn trọng Giáo hoàng và sứ vụ của ngài”.
Đức Hồng y “lấy làm tiếc về những lời lẽ” mà Tổng thống Mỹ Donald Trump đã nói, và “cùng với Chủ tịch của các giám mục Mỹ, nhắc lại rằng Giáo hoàng không phải là một đối thủ chính trị, mà là người kế vị Thánh Phêrô, được kêu gọi phục vụ Phúc Âm, sự thật và hòa bình. Trong thời đại đầy xung đột và căng thẳng quốc tế, tiếng nói của ngài là lời kêu gọi mạnh mẽ về phẩm giá con người, đối thoại và trách nhiệm”.
Giáo hội tại Ý tái khẳng định sự gần gũi và tình cảm dành cho Đức Giáo hoàng, đồng thời mong muốn mọi người tôn trọng con người và sứ vụ của ngài.
(Tổng hợp 13-4-2026)
Vatican News
Tại Dinh El Mouradia, Đức Thánh Cha đã thăm hữu nghị Tổng thống Abdelmadjid Tebboune – người vừa tái đắc cử nhiệm kỳ thứ hai vào năm 2024. Cuộc gặp gỡ này đánh dấu một bước tiến mới trong mối quan hệ giữa Tòa Thánh và Algeria, sau lần Tổng thống Tebboune được Đức Thánh Cha tiếp kiến tại Vatican vào tháng 7 năm ngoái.
Sau đó, Đức Thánh Cha đến Trung tâm Hội nghị Djamaa el Djazair để gặp gỡ khoảng 1.400 đại diện giới chức chính quyền, xã hội dân sự và ngoại giao đoàn. Trong diễn văn đáp từ sau lời chào mừng của Tổng thống Tebboune, Đức Thánh Cha đã nhấn mạnh đến tinh thần đối thoại và khát vọng hòa hợp giữa các dân tộc. Ngài nói:
Thưa Ngài Tổng thống,
Quý Quan chức, các Thành viên Ngoại giao đoàn, cùng tất cả Quý vị,
Tôi hết lòng cảm ơn lời mời đến thăm Algeria, một lời mời đã đến ngay từ khi tôi vừa bắt đầu Sứ vụ Phêrô, và tôi cảm ơn quý vị vì sự đón tiếp nồng hậu này! Quý vị biết rằng, với tư cách là một người con tinh thần của Thánh Augustinô, tôi đã từng hai lần đến thăm Annaba: vào năm 2001 và 2013. Tôi tạ ơn kế hoạch mầu nhiệm mà Thiên Chúa quan phòng đã sắp đặt cho tôi được trở lại nơi đây với tư cách là Đấng Kế vị Thánh Phêrô. Tôi hiện diện giữa quý vị như một người hành hương của hòa bình, khao khát được gặp gỡ người dân Algeria cao quý. Chúng ta là anh chị em với nhau, vì chúng ta có cùng một Cha trên trời. Cảm thức tôn giáo sâu sắc của người dân Algeria nuôi dưỡng một nền văn hóa gặp gỡ và hòa giải, mà chuyến thăm của tôi cũng mong muốn trở thành một dấu chỉ cho điều đó. Trong một thế giới đầy rẫy những xung đột và hiểu lầm, chúng ta hãy gặp gỡ và nỗ lực để hiểu biết lẫn nhau, nhìn nhận rằng chúng ta là một gia đình! Ngày nay, sự giản đơn của nhận thức này chính là chìa khóa để mở ra nhiều cánh cửa đang đóng kín.
Thưa anh chị em thân mến, tôi cũng hiện diện nơi đây giữa quý vị như một chứng nhân cho hòa bình và hy vọng mà thế giới đang khao khát mãnh liệt, và là điều mà nhân dân quý vị luôn tìm kiếm. Thật vậy, dân tộc quý vị chưa bao giờ bị khuất phục trước những thử thách vì họ thấm đẫm tinh thần đoàn kết, lòng hiếu khách và tính cộng đồng vốn được dệt nên trong đời sống hàng ngày của hàng triệu tâm hồn khiêm nhường và chính trực. Họ là những người thực sự mạnh mẽ, những người mà tương lai thuộc về họ: đó là những người không để mình bị mù quáng bởi quyền lực hay giàu sang, và những người từ chối hy sinh phẩm giá của đồng bào mình vì lợi ích cá nhân hay tập thể. Về khía cạnh này, tôi đã được nghe nhiều người kể về việc người dân Algeria thể hiện sự hào phóng to lớn đối với cả đồng bào lẫn người nước ngoài. Tinh thần này phản ánh lòng hiếu khách bén rễ sâu xa trong các cộng đồng người Ả Rập và Berber, một nghĩa vụ thiêng liêng mà chúng ta hy vọng sẽ tìm thấy ở mọi nơi như một giá trị xã hội nền tảng. Tương tự như vậy, việc bố thí (sadaka) là một thực hành phổ biến và tự nhiên giữa quý vị, ngay cả đối với những người có phương tiện hạn chế. Từ sadaka cũng có thể mang nghĩa là công lý, theo nghĩa là chúng ta không giữ mọi thứ cho riêng mình, nhưng chia sẻ những gì mình có như một vấn đề của công lý. Kẻ tích trữ của cải và dửng dưng với người khác là kẻ bất công. Cách nhìn này về công lý vừa đơn sơ vừa triệt để vì nó nhận ra hình ảnh của Thiên Chúa nơi người khác. Thật vậy, một tôn giáo thiếu lòng thương xót và một xã hội thiếu sự liên đới là một sự xúc phạm trước mắt Thiên Chúa. Vậy mà nhiều xã hội tự coi mình là tiên tiến lại đang lún sâu hơn bao giờ hết vào sự bất bình đẳng và loại trừ. Châu Phi biết quá rõ rằng những con người và tổ chức thống trị kẻ khác sẽ phá hủy thế giới này, thế giới mà Đấng Tối Cao đã tạo ra để chúng ta có thể chung sống cùng nhau.
Những trải nghiệm gian khó mà quý vị đã đối mặt trong suốt lịch sử đã mang lại cho đất nước quý vị một tầm nhìn đặc biệt quan trọng về sự cân bằng quyền lực toàn cầu. Nếu quý vị có thể tham gia vào cuộc đối thoại liên quan đến những mối bận tâm của tất cả mọi người và thể hiện sự liên đới với nỗi đau khổ của biết bao quốc gia gần xa, thì quý vị sẽ có thể góp phần vào việc hình dung và mang lại sự công bằng lớn hơn giữa các dân tộc. Bằng cách tôn trọng phẩm giá của mọi người và để mình được rung cảm trước nỗi đau của người khác, thay vì làm gia tăng những hiểu lầm và xung đột, quý vị chắc chắn có thể trở thành những nhân vật chính của một chương mới trong lịch sử. Ngày nay, trước bối cảnh của những vi phạm luật pháp quốc tế liên tục và các khuynh hướng thực dân mới, điều này càng trở nên khẩn thiết hơn bao giờ hết.
Các vị tiền nhiệm của tôi đã nhận thức rõ ràng ý nghĩa mang tính thời đại của thách thức này. Đức Giáo hoàng Bênêđictô XVI đã nhận thấy rằng: “Các tiến trình toàn cầu hóa, nếu được hiểu và định hướng một cách phù hợp, sẽ mở ra khả năng chưa từng có cho việc tái phân phối của cải ở quy mô toàn thế giới; tuy nhiên, nếu bị định hướng sai lạc, chúng có thể dẫn đến sự gia tăng nghèo đói và bất bình đẳng, thậm chí có thể kích hoạt một cuộc khủng hoảng toàn cầu” (Thông điệp Caritas in Veritate, số 42). Đức Giáo hoàng Phanxicô, với những kinh nghiệm sâu rộng của Ngài về những căng thẳng hiện diện ở các nước Nam Bán cầu, đã nhấn mạnh tầm quan trọng của những gì chỉ có thể thấu hiểu được từ các vùng ngoại vi của các trung tâm quyền lực và quyết sách lớn. Ngài đã viết: “Điều cần thiết là một mô hình tham gia về xã hội, chính trị và kinh tế ‘có thể bao hàm các phong trào quần chúng và tiếp thêm sinh lực cho các cấu trúc quản trị địa phương, quốc gia và quốc tế bằng dòng thác năng lượng đạo đức nảy sinh từ việc đưa những người bị loại trừ vào công cuộc xây dựng một định mệnh chung’” (Thông điệp Fratelli Tutti, số 169).
Vì vậy, tôi mời gọi quý vị - những người đang nắm giữ các vị trí thẩm quyền của quốc gia đừng lo sợ viễn cảnh này, nhưng hãy thúc đẩy một xã hội dân sự năng động, tràn đầy sức sống và tự do, nơi mà cách riêng những người trẻ được ghi nhận là có khả năng giúp mở rộng chân trời hy vọng cho tất cả mọi người. Sức mạnh thực sự của một quốc gia nằm ở sự hợp tác của mọi người trong việc theo đuổi công ích. Các cấp chính quyền được kêu gọi không phải để thống trị, mà là để phục vụ nhân dân và thúc đẩy sự phát triển của họ. Do đó, hoạt động chính trị tìm thấy tiêu chí định hướng nơi công lý – mà nếu thiếu nó thì không thể có hòa bình đích thực – và được thể hiện qua việc thúc đẩy các điều kiện công bằng và xứng đáng cho tất cả mọi người. Giáo hội Công giáo, thông qua các cộng đồng và các sáng kiến của mình, cũng mong muốn đóng góp vào lợi ích chung của Algeria, củng cố bản sắc đặc thù của quốc gia này như một nhịp cầu giữa phương Bắc và phương Nam, giữa phương Đông và phương Tây.
Địa Trung Hải một bên, và sa mạc Sahara bên kia, đại diện cho những giao thoa địa lý và tâm linh có ý nghĩa to lớn. Nếu chúng ta đi sâu vào lịch sử của chúng, tách biệt khỏi những sự giản lược hóa hay hệ tư tưởng, chúng ta sẽ khám phá ra những kho tàng nhân văn bao la ẩn giấu nơi đó. Bởi biển cả và sa mạc đã là những nơi mà các dân tộc và các nền văn hóa làm giàu lẫn nhau qua hàng thiên niên kỷ. Khốn cho chúng ta nếu biến chúng thành những nghĩa trang nơi hy vọng cũng lụi tàn! Chúng ta hãy giải phóng những kho dự trữ khổng lồ của lịch sử và tương lai này khỏi cái ác! Chúng ta hãy nhân thêm nhiều những ốc đảo hòa bình; tố cáo và loại bỏ những nguyên nhân gây ra sự tuyệt vọng; và chống lại những kẻ trục lợi từ nỗi bất hạnh của người khác! Vì những lợi nhuận của những kẻ bóc lột sự sống con người – vốn có phẩm giá bất khả xâm phạm – là bất chính. Vậy, chúng ta hãy hiệp nhất sức mạnh, năng lượng tinh thần, trí tuệ và nguồn lực của mình, để đất và biển có thể trở thành những nơi của sự sống, của gặp gỡ và của sự kỳ diệu. Ước gì vẻ đẹp hùng vĩ của chúng chạm đến trái tim chúng ta; ước gì sự bao la vô tận của chúng thúc đẩy chúng ta suy ngẫm về sự siêu việt. Địa Trung Hải, sa mạc Sahara và bầu trời rộng lớn phía trên chúng đang thầm thì với chúng ta rằng thực tại vượt xa chúng ta về mọi phương diện, rằng Thiên Chúa thực sự vĩ đại, và mọi sự đều sống trong sự hiện diện mầu nhiệm của Người.
Nhận thức này có những hệ quả to lớn đối với cách chúng ta hiểu về thực tại, tuy vậy, nhiều người ngày nay lại đánh giá thấp tầm quan trọng của nó. Xem xét kỹ hơn, xã hội Algeria cũng quen thuộc với sự căng thẳng giữa tính nhạy cảm tôn giáo và đời sống hiện đại. Tại đây, cũng như trên khắp thế giới, các năng động đối lập giữa chủ nghĩa cực đoan và sự thế tục hóa có xu hướng tự biểu hiện, khiến nhiều người đánh mất cảm thức đích thực về Thiên Chúa và về phẩm giá của các tạo vật của Người. Hệ quả là, các biểu tượng và ngôn từ tôn giáo, một mặt, có thể trở thành ngôn ngữ phạm thượng của bạo lực và áp bức, hoặc mặt khác, trở thành những dấu chỉ sáo rỗng trong thị trường tiêu thụ khổng lồ vốn không làm chúng ta thỏa mãn.
Tuy nhiên, những sự phân cực phi lý này không được làm chúng ta nản lòng. Chúng phải được đối diện bằng trí tuệ. Chúng là dấu hiệu cho thấy chúng ta đang sống trong một thời đại phi thường của sự canh tân lớn lao, trong đó những ai giữ cho trái tim mình tự do và lương tâm tỉnh thức có thể rút ra từ các truyền thống tâm linh và tôn giáo vĩ đại những cách nhìn mới về thế giới và một mục đích sống không thể lay chuyển. Chúng ta phải giáo dục con người về tư duy phản biện và sự tự do, về sự lắng nghe và đối thoại, và về sự tin cậy giúp chúng ta nhìn nhận những người khác biệt là những người bạn đồng hành chứ không phải là những mối đe dọa. Chúng ta phải nỗ lực để chữa lành ký ức và hòa giải với những ai đã từng là đối thủ. Đây chính là món quà tôi mong ước cho quý vị, cho Algeria, và cho toàn thể nhân dân nơi đây, những người mà tôi khẩn cầu muôn vàn phúc lành từ Đấng Tối Cao.
Sau cuộc gặp gỡ với chính quyền, xã hội dân sự và ngoại giao đoàn, Đức Thánh Cha đã trở về Tòa Khâm sứ Tòa Thánh để dùng bữa trưa và nghỉ ngơi.
Vatican News
Từ phi trường quốc tế ở thủ đô Algiers, Đức Thánh Cha di chuyển đến Đài Tưởng niệm Maqam Echahid cách đó gần 18 km. Công trình này cao hơn 90m, gồm ba lá cọ cách điệu, được khánh thành năm 1982 nhân kỷ niệm 20 năm ngày độc lập của Algeria, để tưởng nhớ những người đã hy sinh trong cuộc đấu tranh chống thực dân Pháp, những người được người dân Algeria xem là các vị tử đạo. Bên dưới 3 lá cọ có một ngọn đèn cháy suốt ngày đêm.
Khi đến nơi, Đức Thánh Cha đã đi lên Đài tưởng niệm, đặt vòng hoa, mặc niệm tưởng nhớ những người đã hy sinh.
Tại khu vực Đài tưởng niệm, khoảng 5.000 người chờ đợi để gặp gỡ Đức Thánh Cha.
Đại diện cộng đồng chào Đức Thánh Cha, Đức Hồng y Jean-Paul Vesco, Tổng Giám mục Algiers, nói rằng ngài có “giấc mơ” Đức Thánh Cha đến Algeria "để gặp gỡ những người dân mà Giáo hội Công giáo của chúng ta biết rằng mình đã được phái đến, và cùng chia sẻ mối liên kết sinh mạng và huyết thống". Và "dân tộc này chào đón ngài, một vị Giáo hoàng tối cao, một người con của Thánh Augustinô, và trên hết, một người anh em". Dân tộc này, như tượng đài Maqam Echahid, vừa kiêu hãnh vừa mang vết thương lịch sử chưa được chữa lành. Họ được củng cố bởi sức trẻ nhưng cũng ghi dấu bởi máu các vị "tử đạo" qua nhiều thời kỳ, từ thời thuộc địa đến thập niên bạo lực 1990. Đây là một dân tộc kiên cường, đa dạng, hiếu khách, luôn mong đợi và chuẩn bị chào đón Đức Thánh Cha như một người con của đất nước.
Diễn văn của Đức Thánh Cha
Trong lời chào đáp từ, Đức Thánh Cha nói:
Anh chị em Algeria thân mến,
bình an cho tất cả anh chị em! As-salamu alaykom!
Tôi tạ ơn Thiên Chúa, Đấng ban cho tôi cơ hội được viếng thăm đất nước của anh chị em với tư cách là người kế vị Thánh Phêrô, sau khi đã viếng thăm hai lần trước đây trong tư cách là tu sĩ Augustinô. Nhưng trên hết, tôi đứng trước anh chị em như một người anh em, vui mừng được làm mới lại, trong cuộc gặp gỡ này, những mối dây yêu thương gắn kết trái tim chúng ta.
Khi nhìn anh chị em, tôi thấy gương mặt của một dân tộc mạnh mẽ và trẻ trung, mà tôi đã nhiều lần có dịp trải nghiệm lòng hiếu khách và tình huynh đệ. Trong trái tim người Algeria, tình bạn, sự tin tưởng, tình liên đới không chỉ là những lời nói, nhưng là những giá trị thực sự, mang lại hơi ấm và sự vững bền cho đời sống chung.
Tôn vinh những anh hùng của quốc gi
Algeria là một đất nước rộng lớn, với lịch sử lâu dài và giàu truyền thống, từ thời Thánh Augustinô và còn rất lâu trước đó. Đó cũng là một lịch sử đau thương, bị ghi dấu bởi những giai đoạn bạo lực, nhưng chính nhờ sự cao quý trong tâm hồn vốn là nét đặc trưng của anh chị em, mà tôi cảm nhận rõ ràng ngay tại đây, anh chị em đã biết vượt qua với lòng can đảm và sự chân thành.
Dừng chân tại Đài tưởng niệm này là một cách bày tỏ lòng tôn kính đối với lịch sử ấy, và đối với linh hồn của một dân tộc đã chiến đấu cho độc lập, phẩm giá và chủ quyền của quốc gia này.
Thiên Chúa mong muốn cho mọi dân tộc được hưởng hòa bình
Tại nơi đây, chúng ta hãy nhớ rằng Thiên Chúa mong muốn cho mọi dân tộc được hưởng hòa bình: một nền hòa bình không chỉ là sự vắng bóng xung đột, nhưng còn là biểu hiện của công lý và phẩm giá. Và nền hòa bình này, giúp con người tiến về tương lai với tâm hồn được hòa giải, chỉ có thể đạt được qua sự tha thứ. Cuộc chiến giải phóng đích thực sẽ chỉ được chiến thắng trọn vẹn khi con người đạt được sự bình an trong tâm hồn. Tôi biết tha thứ là điều khó khăn biết bao; tuy nhiên, khi các xung đột vẫn tiếp tục gia tăng trên khắp thế giới, chúng ta không thể tiếp tục chất chồng oán hận qua các thế hệ.
Tương lai thuộc về những người nam nữ kiến tạo hòa bình. Cuối cùng, công lý luôn chiến thắng bất công, cũng như bạo lực, dù có vẻ mạnh mẽ đến đâu, sẽ không bao giờ là tiếng nói cuối cùng.
Tại vùng đất này, nơi giao thoa của các nền văn hóa và tôn giáo, sự tôn trọng lẫn nhau là con đường để các dân tộc có thể cùng nhau bước đi. Ước gì Algeria, vững mạnh trong cội rễ của mình và trong niềm hy vọng của giới trẻ, tiếp tục đóng góp cho sự ổn định và đối thoại trong cộng đồng các quốc gia và quanh vùng Địa Trung Hải.
Niềm tin vào Thiên Chúa giữ vị trí trung tâm: soi sáng đời sống con người, nâng đỡ các gia đình
Đức Thánh Cha nói tiếp: Mỗi dân tộc đều gìn giữ một gia sản độc đáo về lịch sử, văn hóa và đức tin. Algeria cũng sở hữu kho tàng ấy, đã nâng đỡ dân tộc này trong những thời điểm khó khăn và tiếp tục định hướng tương lai. Trong gia sản đó, niềm tin vào Thiên Chúa giữ vị trí trung tâm: niềm tin ấy soi sáng đời sống con người, nâng đỡ các gia đình và khơi dậy tinh thần huynh đệ. Một dân tộc yêu mến Thiên Chúa sở hữu kho tàng quý giá nhất, và dân tộc Algeria đang gìn giữ viên ngọc ấy trong kho báu của mình. Thế giới chúng ta cần những tín hữu như thế, những người nam nữ của đức tin, khao khát công lý và hiệp nhất. Vì thế, trước một nhân loại đang khao khát tình huynh đệ và hòa giải, thật là một ân ban lớn lao và một sứ mạng được chúc phúc khi chúng ta mạnh mẽ tuyên xưng và luôn sống như những người anh em với nhau và là con cái của Thiên Chúa.
Đối với những ai đi tìm những của cải chóng qua, hão huyền và dễ làm con người thất vọng, thậm chí làm băng hoại tâm hồn, gây nên ghen ghét, cạnh tranh và xung đột, Chúa Giêsu vẫn lặp lại câu hỏi Người đã đặt ra cách đây hai ngàn năm: “Nếu người ta được cả thế giới mà phải thiệt mất mạng sống, thì nào có lợi ích gì?” (Mt 16,26). Đó là một câu hỏi căn bản cho tất cả mọi người, và những người đã ngã xuống mà chúng ta tưởng niệm nơi đây đã trả lời bằng chính cuộc đời họ: họ đã mất mạng sống, nhưng theo một nghĩa khác, họ đã hiến dâng nó vì tình yêu đối với dân tộc mình. Ước gì lịch sử của họ nâng đỡ dân tộc Algeria và tất cả chúng ta trên hành trình của mình: bởi vì tự do đích thực không chỉ được thừa hưởng, nhưng phải được lựa chọn mỗi ngày.
Vì thế, xin cho phép tôi kết thúc bằng việc lặp lại những lời của Chúa Giêsu với các môn đệ, mà chúng ta gọi là Bài giảng trên núi hay các Mối phúc:
“Phúc thay ai có tâm hồn nghèo khó, vì Nước Trời là của họ.
Phúc thay ai sầu khổ, vì họ sẽ được ủi an.
Phúc thay ai hiền lành, vì họ sẽ được Đất Hứa làm gia nghiệp.
Phúc thay ai khao khát nên người công chính, vì họ sẽ được thỏa lòng.
Phúc thay ai xót thương người, vì họ sẽ được xót thương.
Phúc thay ai có tâm hồn trong sạch, vì họ sẽ được nhìn thấy Thiên Chúa.
Phúc thay ai xây dựng hòa bình, vì họ sẽ được gọi là con Thiên Chúa.
Phúc thay ai bị bách hại vì sống công chính, vì Nước Trời là của họ” (Mt 5,3-10).
Xin cảm ơn sự đón tiếp của anh chị em! Xin Thiên Chúa chúc lành cho anh chị em!
Vatican News
Khi được hỏi về những lời chỉ trích của Tổng thống Donald Trump đối với ngài, Đức Thánh Cha trả lời: "Tôi không coi vai trò của mình là một chính trị gia, tôi không phải là một chính trị gia, tôi không muốn tranh luận với ông ấy. Tôi không nghĩ rằng thông điệp Phúc Âm nên bị lạm dụng như một số người đang làm. Tôi tiếp tục lên tiếng phản đối chiến tranh, tìm cách thúc đẩy hòa bình, thúc đẩy đối thoại và chủ nghĩa đa phương với các quốc gia để tìm giải pháp cho các vấn đề. Quá nhiều người đang đau khổ ngày nay, quá nhiều người vô tội đã bị giết hại, và tôi tin rằng ai đó phải đứng lên và nói rằng có một cách tốt hơn".
Thông điệp mà Đức Thánh Cha muốn nhắc lại "luôn luôn giống nhau, đó là hòa bình". Ngài nói: "Tôi nói điều này cho tất cả các nhà lãnh đạo thế giới, không chỉ riêng ông ấy: chúng ta hãy cố gắng chấm dứt chiến tranh và thúc đẩy hòa bình và hòa giải".
Trả lời một nhà báo người Mỹ đã hỏi cùng một câu hỏi, Đức Thánh Cha tái khẳng định: "Tôi không sợ chính quyền Trump. Tôi sẽ tiếp tục lên tiếng về thông điệp Phúc Âm, thông điệp mà Giáo hội đang truyền bá". Ngài lặp lại: “Chúng tôi không phải là chính trị gia, chúng tôi không nhìn nhận chính sách đối ngoại theo cùng một quan điểm. Nhưng chúng tôi tin vào thông điệp của Phúc Âm với tư cách là những người xây dựng hòa bình”.
Và xây dựng hòa bình chính là mục tiêu căn bản của chuyến viếng thăm của Đức Thánh Cha tại châu Phi.
TÔNG DU CỦA ĐTC LÊÔ XIV
tại Algeria, Camerun, Angola và Guinea Xích Đạo
13 – 23/04/2026
| Thứ Hai ngày 13 tháng 4 năm 2026 ROMA – ALGERI |
||
|
08:00 |
Khởi hành từ sân bay quốc tế Roma/Fiumicino để bay đến Algeri |
|
|
09:00 |
Đến sân bay quốc tế Algeri “Houari Boumédiène” |
|
|
CHÀO ĐÓN CHÍNH THỨC |
|
|
|
09:45 |
Lời chào của ĐTC |
|
|
10:15 |
THĂM HỮU NGHỊ TỔNG THỐNG CỘNG HOÀ tại Dinh Tổng Thống |
|
|
11:00 |
GẶP CHÍNH QUYỀN, XÃ HỘI DÂN SỰ VÀ NGOẠI GIAO ĐOÀN tại Trung tâm Hội nghị “Djamaa el Djazair” |
Diễn văn của ĐTC |
|
15:15 |
THĂM ĐẠI ĐỀN THỜ HỒI GIÁO CỦA ALGERI |
|
|
16:15 |
THĂM RIÊNG TƯ TRUNG TÂM TIẾP ĐÓN VÀ TÌNH BẠN CỦA CÁC NỮ TU TRUYỀN GIÁO THÁNH AUGUSTINO ở Bab El Oued |
|
|
16:40 |
GẶP GỠ CỘNG ĐOÀN ALGERI tại Vương cung Thánh Đường Đức Bà Châu Phi |
Diễn văn của ĐTC |
| Thứ Ba ngày 14 tháng 4 năm 2026 ALGERI – ANNABA – ALGERI |
||
|
09:20 |
Khởi hành từ sân bay quốc tế Algeri “Houari Boumédiène” để bay đến Annaba |
|
|
10:30 |
Đến Sân bay Quốc tế Annaba “Rabah Bitat” |
|
|
11:00 |
THĂM KHU KHẢO CỔ IPPONA |
|
|
11:35 |
THĂM NHÀ TIẾP ĐÓN NGƯỜI CAO TUỔI CỦA CÁC NỮ TU TIỂU MUỘI NGƯỜI NGHÈO |
Lời chào của ĐTC |
|
12:10 |
GẶP RIÊNG TƯ CÁC THÀNH VIÊN DÒNG THÁNH AUGUSTINO tại Nhà Cộng đoàn Augustinô |
|
|
15:30 18:00 |
THÁNH LỄ tại Vương Cung Thánh Đường thánh Augustinô Khởi hành từ Sân bay Quốc tế Annaba “Rabah Bitat” để bay về Algeri |
Bài giảng của ĐTC |
|
19:10 |
Đến Sân bay Quốc tế Algeri “Houari Boumédiène” |
|
| Thứ Tư ngày 15 tháng 4 năm 2026 ALGERI – YAOUNDÉ |
||
|
09:40 |
NGHI THỨC CHÀO TỪ BIỆT tại Sân bay Quốc tế Algeri “Houari Boumédiène” |
|
|
10:10 |
Khởi hành từ sân bay Algeri để bay đến Yaoundé |
|
|
15:20 |
Đến Sân bay Quốc tế Yaoundé-Nsimalen NGHI THỨC TIẾP ĐÓN |
|
|
16:20 |
THĂM HỮU NGHỊ TỔNG THỐNG CỘNG HOÀ tại Dinh Tổng Thống |
|
|
17:05 |
GẶP GỠ CHÍNH QUYỀN, XÃ HỘI DÂN SỰ VÀ NGOẠI GIAO ĐOÀN tại Dinh Quốc Hội |
Diễn văn của ĐTC |
|
17:45 |
THĂM VIỆN MỒ CÔI NGUL ZAMBA |
Lời chào của ĐTC |
|
18:25 |
GẶP RIÊNG TƯ CÁC GIÁM MỤC CỦA CAMERUN tại trụ sở Hội Đồng Giám Mục |
|
| Thứ Năm ngày 16 tháng 4 năm 2026 YAOUNDÉ – BAMENDA – YAOUNDÉ |
||
|
10:05 |
Khởi hành từ Sân bay Quốc tế Yaoundé-Nsimalen để bay đến Bamenda |
|
|
11:00 |
Đến sân bay Bamenda |
|
|
11:30 |
GẶP GỠ VÌ HOÀ BÌNH VỚI CỘNG ĐỒNG CỦA BAMENDA tại Nhà thờ Chính Toà thánh Giuse |
Diễn văn của ĐTC |
|
15:15 |
THÁNH LỄ tại Sân bay Quốc tế Bamenda |
Bài giảng của ĐTC |
|
17:25 |
Khởi hành từ Sân bay Bamenda để bay về Yaoundé |
|
|
18:20 |
Đến Sân bay Quốc tế Yaoundé-Nsimalen |
|
| Thứ Sáu ngày 17 tháng 4 năm 2026 YAOUNDÉ – DOUALA – YAOUNDÉ |
||
|
09:00 |
Khởi hành từ Sân bay Quốc tế Yaoundé-Nsimalen để bay đến Douala |
|
|
09:55 |
Đến Sân bay Quốc tế Douala |
|
|
11:00 |
THÁNH LỄ tại Sân vận động “Japoma” |
Bài giảng của ĐTC |
|
13:20 |
THĂM RIÊNG TƯ BỆNH VIỆN CÔNG GIÁO THÁNH PHAOLÔ |
|
|
14:10 |
Khởi hành đến Sân bay Douala để bay về Yaoundé |
|
|
15:15 |
Đến Sân bay Yaoundé-Nsimalen |
|
|
17:30 |
GẶP GỠ THẾ GIỚI ĐẠI HỌC tại Đại học Công giáo của Trung Phi |
Diễn văn của ĐTC |
| Thứ Bảy ngày 18 tháng 4 năm 2026 YAOUNDÉ – LUANDA |
||
|
09:30 |
THÁNH LỄ tại Sân bay Yaoundé-Ville |
Bài giảng của ĐTC |
|
12:00 |
NGHI THỨC CHÀO TỪ BIỆT tại Sân bay Quốc tế Yaoundé-Nsimalen |
|
|
12:30 |
Khởi hành từ Sân bay Quốc tế Yaoundé-Nsimalen để bay đến Luanda |
|
|
15:00 |
Đến Sân bay Quốc tế Luanda “Ngày 4 tháng 2” NGHI THỨC TIẾP ĐÓN |
|
|
15:40 |
THĂM HỮU NGHỊ TỔNG THỐNG CỘNG HOÀ tại Dinh Tổng Thống |
|
|
16:15 |
GẶP GỠ CHÍNH QUYỀN, XÃ HỘI DÂN SỰ VÀ NGOẠI GIAO ĐOÀN |
Diễn văn của ĐTC |
|
19:00 |
GẶP RIÊNG TƯ VỚI CÁC GIÁM MỤC ANGOLA |
|
Chúa Nhật ngày 19 tháng 4 năm 2026
LUANDA – MUXIMA – LUANDA
|
10:00 |
THÁNH LỄ tại Kilamba |
Bài giảng của ĐTC Regina Caeli |
|
15:45 |
Khởi hành bằng trực thăng từ Sân bay Luanda “Ngày 4 tháng Hai” để bay đến Muxima |
|
|
16:15 |
Đến sân bay trực thăng của Muxima |
|
|
16:30 |
CẦU NGUYỆN VỚI KINH MÂN CÔI tại quảng trường phía trước Đền Thánh “Mama Muxima” |
Diễn văn của ĐTC |
|
17:45 |
Khởi hành từ sân bay trực thăng Muxima để bay đến Sân bay Luanda “Ngày 4 tháng 2” |
|
|
18:15 |
Đến Sân bay Luanda “Ngày 4 tháng 2” |
Thứ Hai ngày 20 tháng 4 năm 2026
LUANDA – SAURIMO – LUANDA
|
07:50 |
Khởi hành từ Sân bay Luanda “Ngày 4 tháng 2” để bay đến Saurimo |
|
|
09:20 |
Đến sân bay Saurimo “Deolinda Rodrigues” |
|
|
09:45 |
THĂM NHÀ ĐÓN TIẾP NGƯỜI CAO TUỔI |
Lời chào của ĐTC |
|
11:15 |
THÁNH LỄ tại quảng trường Saurimo |
Bài giảng của ĐTC |
|
13:45 |
Khởi hành từ Sân bay Saurimo “Deolinda Rodrigues” để bay đến Luanda |
|
|
15:15 |
Đến sân bay quốc tế Luanda “Ngày 4 tháng 2” |
|
|
17:30 |
GẶP GỠ CÁC GIÁM MỤC, LINH MỤC, TU SĨ NAM NỮ VÀ NHÂN VIÊN MỤC VỤ tại Giáo xứ Đức Mẹ Fatima |
Diễn văn của ĐTC |
Thứ Ba ngày 21 tháng 4 năm 2026
LUANDA – MALABO
|
08:45 |
NGHI THỨC TỪ BIỆT tại Sân bay quốc tế Luanda “Ngày 4 tháng 2” |
|
|
09:15 |
Khởi hành từ Sân bay Luanda “Ngày 4 tháng 2” để bay đến Malabo |
|
|
11:45 |
Đến Sân bay quốc tế Malabo NGHI THỨC TIẾP ĐÓN |
|
|
12:30 |
THĂM HỮU NGHỊ TỔNG THỐNG CỘNG HOÀ tại Dinh Tổng Thống |
|
|
13:00 |
GẶP GỠ CHÍNH QUYỀN, XÃ HỘI DÂN SỰ VÀ NGOẠI GIAO ĐOÀN tại Dinh Tổng Thống |
Diễn văn của ĐTC |
|
16:00 |
GẶP GỠ THẾ GIỚI VĂN HOÁ tại Campus Lêoo XIV của Đại học Quốc gia |
Diễn văn của ĐTC |
|
17:15 |
THĂM CÁC NHÂN VIÊN VÀ BỆNH NHÂN CỦA BỆNH VIỆN TÂM THẦN “JEAN PIERRE OLIE” |
Lời chào của ĐTC |
|
19:00 |
GẶP RIÊNG TƯ VỚI CÁC GIÁM MỤC CỦA GUINEA EQUATORIALE |
Thứ Tư ngày 22 tháng 4 năm 2026
MALABO – MONGOMO – BATA – MALABO
|
08:10 |
Khởi hành bằng máy bay từ Malabo để bay đến Mongomo |
|
|
09:10 |
Đến Sân bay Quốc tế Mengomeyén “Tổng thống Obiang Nguema” |
|
|
10:30 |
THÁNH LỄ tại Vương cung Thánh Đường Đức Mẹ Vô Nhiễm |
Bài giảng của ĐTC |
|
12:30 |
THĂM “TRƯỜNG CÔNG NGHỆ ĐTC PHANXICÔ” |
|
|
15:10 |
Khởi hành từ sân bay Mengomeyén “Tổng thống Obiang Nguema” để bay đến Bata |
|
|
15:50 |
Đến Sân bay Quốc tế Bata |
|
|
16:50 |
THĂM NHÀ TÙ BATA |
Lời chào của ĐTC |
|
17:25 |
KHOẢNH KHẮC CẦU NGUYỆN TẠI ĐÀI TƯỞNG NIỆM CÁC NẠN NHÂN VỤ NỔ NGÀY 7 THÁNG 3 NĂM 2021 |
|
|
18:10 |
GẶP GỠ GIỚI TRẺ VÀ CÁC GIA ĐÌNH tại Sân vận động Bata |
Diễn văn của ĐTC |
|
19:40 |
Khởi hành từ Sân bay Bata để bay đến Malabo |
|
|
20:30 |
Đến sân bay quốc tế Malabo |
Thứ Năm ngày 23 tháng 4 năm 2026
MALABO – ROMA
|
10:00 |
THÁNH LỄ tại Sân Vận Động Malabo |
Bài giảng của ĐTC |
|
12:15 |
NGHI THỨC TỪ BIỆT tại Sân bay quốc tế Malabo |
|
|
12:45 |
Khởi hành từ Sân bay Malabo để trở về Roma |
|
|
19:55 |
Đến sân bay quốc tế Roma/Fiumicino |
Trưa Chúa nhật ngày 12 tháng Tư năm 2026, Đức Thánh cha Lêô XIV đã chủ sự buổi đọc kinh Lạy Nữ Vương Thiên Đàng với khoảng hai mươi ngàn tín hữu, tại Quảng trường Thánh Phêrô.
G. Trần Đức Anh, O.P. | RVA
Cuối buổi đọc kinh, Đức Thánh cha đã chúc mừng các tín hữu Công giáo nghi lễ Đông phương và Chính thống mừng lễ Phục sinh vào Chúa nhật này. Đức Thánh cha cũng bày tỏ liên đới và kêu gọi hòa bình cho các dân tộc đang chịu thảm cảnh chiến tranh: Ucraina, Liban và Sudan bên Phi châu.
Huấn dụ
Trong bài huấn dụ ngắn trước khi đọc kinh, Đức Thánh cha nói:
“Anh chị em thân mến, chào anh chị em và một lần nữa chúc mừng Lễ Phục Sinh!
Hôm nay, Chúa nhật II Phục sinh, được thánh Gioan Phaolô II dành để kính Lòng Thương Xót Chúa, trong bài Tin mừng chúng ta đọc tường thuật về việc Chúa Giêsu Phục Sinh hiện ra với tông đồ Tôma (x. Ga 20,19-31). Sự kiện xảy ra tám ngày sau Lễ Phục sinh, khi cộng đoàn đang tụ họp; chính tại đó, ông Tôma đã gặp Thầy mình. Người mời ông nhìn xem dấu đinh, đặt tay vào cạnh sườn bị đâm thâu của Người và tin (x. c. 27). Đây là một cảnh tượng khiến chúng ta suy nghĩ về cuộc gặp gỡ của mình với Chúa Giêsu Phục Sinh: tìm Người ở đâu? nhận ra Người thế nào? và làm sao để tin? Thánh Gioan, người thuật lại biến cố này, cho chúng ta những chỉ dẫn rất cụ thể: ông Tôma gặp Chúa Giêsu vào ngày thứ tám, trong cộng đoàn đang quy tụ, và nhận ra Người qua những dấu tích của hy lễ. Từ kinh nghiệm đó phát sinh lời tuyên xưng đức tin của ông - lời tuyên xưng cao cả nhất trong toàn bộ Tin mừng thứ tư: “Lạy Chúa của con, lạy Thiên Chúa của con!” (c. 29).
Quả thật, tin không phải lúc nào cũng dễ dàng. Điều đó không chỉ đúng với ông Tôma mà còn với cả chúng ta. Đức tin cần được nuôi dưỡng và nâng đỡ. Vì thế, vào “ngày thứ tám”, tức là mỗi Chúa nhật, Hội thánh mời gọi chúng ta làm như các môn đệ tiên khởi: quy tụ lại và cùng nhau cử hành Thánh Thể. Trong đó, chúng ta lắng nghe lời Chúa Giêsu, cầu nguyện, tuyên xưng đức tin, chia sẻ các ân huệ của Thiên Chúa trong tình bác ái, dâng hiến đời mình hiệp với Hy tế của Đức Kitô, lãnh nhận Mình và Máu Người, để rồi chính chúng ta trở thành chứng nhân cho sự Phục sinh của Người, như chính từ “Thánh lễ” (Missa) nói lên, nghĩa là “được sai đi”, là “sứ vụ” (x. Sách Giáo lý Hội Thánh Công Giáo, 1332).
Thánh lễ Chúa nhật là điều không thể thiếu đối với đời sống Kitô hữu. Ngày mai, tôi sẽ lên đường thực hiện chuyến tông du sang châu Phi; và chính một số vị tử đạo của Hội thánh Phi châu thời kỳ đầu, các thánh tử đạo Abitene (49 vị, ngày nay thuộc nước Tunisi) đã để lại cho chúng ta một chứng tá thật đẹp về điều này. Khi được đề nghị tha mạng với điều kiện phải từ bỏ việc cử hành Thánh Thể, các ngài đã trả lời rằng họ không thể sống nếu không cử hành Ngày của Chúa. Chính tại đó, đức tin của chúng ta được nuôi dưỡng và lớn lên. Chính tại đó, những nỗ lực tuy còn giới hạn của chúng ta, nhờ ơn Chúa, được kết hợp như hành động của các chi thể trong một thân thể duy nhất, “Thân Thể Đức Kitô” để thực hiện một kế hoạch cứu độ vĩ đại bao trùm toàn thể nhân loại. Nhờ Thánh Thể, chính đôi tay của chúng ta cũng trở thành “đôi tay của Đấng Phục Sinh”, là chứng nhân cho sự hiện diện, lòng thương xót và bình an của Người, qua những dấu chỉ của công việc, của hy sinh, của bệnh tật, của dòng thời gian trôi qua - những dấu ấn thường được khắc ghi nơi chúng ta, như sự dịu dàng của một cái vuốt ve, một cái nắm tay, hay một hành động bác ái.
Và Đức Thánh cha kết luận: “Anh chị em thân mến, trong một thế giới đang rất cần hòa bình, điều này càng thúc đẩy chúng ta chuyên cần và trung tín hơn trong cuộc gặp gỡ Thánh Thể với Đấng Phục Sinh, để từ đó ra đi như những chứng nhân của tình bác ái và là những người mang hòa giải đến cho mọi người. Xin Đức Trinh Nữ Maria trợ giúp chúng ta thực hiện điều đó - Mẹ thật diễm phúc vì đã tin mà không thấy (x. Ga 20,29).
Chào thăm và nhắn nhủ
Sau khi đọc kinh và ban phép lành cho các tín hữu, Đức Thánh cha nói:
“Anh chị em thân mến,
Hôm nay, nhiều Giáo hội Đông phương cử hành lễ Phục sinh theo lịch Giulianô. Tôi xin gửi đến tất cả các cộng đoàn đó lời chúc bình an chân thành nhất, trong sự hiệp thông đức tin nơi Chúa Phục Sinh. Tôi kèm theo đó lời cầu nguyện tha thiết hơn cho những ai đang chịu đau khổ vì chiến tranh, đặc biệt là người dân Ucraina thân yêu. Xin ánh sáng của Đức Kitô mang lại niềm an ủi cho những tâm hồn đau khổ và củng cố niềm hy vọng về hòa bình. Xin cộng đồng quốc tế đừng lơ là trước thảm kịch của cuộc chiến này!
Tôi cũng đặc biệt gần gũi với người dân Liban thân yêu trong những ngày đau thương, sợ hãi nhưng vẫn đầy hy vọng không lay chuyển nơi Thiên Chúa. Nguyên tắc nhân đạo, được khắc ghi trong lương tâm của mỗi người và được công nhận trong luật pháp quốc tế, đòi hỏi nghĩa vụ luân lý phải bảo vệ dân thường khỏi những hậu quả tàn khốc của chiến tranh. Tôi kêu gọi các bên xung đột ngừng bắn và khẩn trương tìm kiếm một giải pháp hòa bình.
Thứ Tư tới đây đánh dấu tròn ba năm kể từ khi bắt đầu cuộc xung đột đẫm máu ở Sudan. Người dân Sudan đang phải chịu đau khổ biết bao, trở thành những nạn nhân vô tội của thảm kịch vô nhân đạo này! Tôi xin lặp lại lời kêu gọi khẩn thiết của mình gửi đến các bên tham chiến: hãy để vũ khí im tiếng và bắt đầu, không kèm điều kiện tiên quyết, một cuộc đối thoại chân thành nhằm sớm chấm dứt cuộc chiến huynh đệ tương tàn này….
Ngày mai (tức là ngày 13 tháng Tư), tôi sẽ lên đường thực hiện chuyến tông du kéo dài mười ngày đến bốn quốc gia châu Phi: Algeria, Cameroon, Angola và Guinea Xích Đạo. Xin anh chị em vui lòng đồng hành với tôi bằng lời cầu nguyện của mình. Xin cảm ơn anh chị em!
Lúc 18 giờ thứ Bảy, ngày 11 tháng Tư năm 2026, Đức Thánh cha Lêô XIV đã chủ sự buổi canh thức cầu nguyện trọng thể, tại Đền thờ Thánh Phêrô để cầu nguyện cho hòa bình thế giới, đang ở trong thảm họa chiến tranh Trung Đông và có nguy cơ trở nên trầm trọng hơn.
G. Trần Đức Anh, O.P. | RVA
Trước bàn thờ chính của Đền thờ, có tượng Đức Mẹ Nữ Vương hòa bình đang bồng Chúa Hài Đồng.
Hiện diện trong Đền thờ, có khoảng 40 hồng y và giám mục tại Giáo triều, một số giám mục Công giáo Canđê đang nhóm Thượng Hội đồng ở Roma, các linh mục, tu sĩ nam nữ và hàng ngàn giáo dân ngồi đầy thánh đường.
Buổi cầu nguyện diễn ra với kinh Mân côi trọng thể, với phần suy niệm về Năm Mầu nhiệm Mùa Mừng, xen lẫn các bài đọc Kinh thánh, những phút thinh lặng để suy niệm, và các thánh ca kính Đức Mẹ, tiếp đến là kinh cầu Đức Bà.
Suy niệm và huấn dụ
Sau cùng là bài suy niệm và huấn dụ của Đức Thánh cha.
Mở đầu bài huấn dụ, Đức Thánh cha nói:
Anh chị em thân mến,
Lời cầu nguyện của anh chị em là biểu hiện đức tin mà, theo lời Chúa Giêsu, có thể dời núi (x. Mt 17,20). Xin cảm ơn anh chị em đã đón nhận lời mời này, quy tụ nơi đây, bên mộ Thánh Phêrô, và tại nhiều nơi khác trên thế giới, để khẩn cầu hòa bình. Chiến tranh chia rẽ, hy vọng hiệp nhất. Bạo quyền chà đạp, tình yêu nâng đỡ. Ngẫu tượng làm mù lòa, Thiên Chúa hằng sống soi sáng.
Anh chị em thân mến, chỉ cần một chút đức tin, một mẩu đức tin thôi, là đủ để chúng ta cùng nhau đối diện giờ phút đau thương này của lịch sử – với tư cách là nhân loại và với tất cả tình người –Thật vậy, cầu nguyện không phải là nơi trú ẩn để trốn tránh trách nhiệm của chúng ta, cũng không phải là thuốc gây mê để né tránh nỗi đau mà biết bao bất công gây ra. Trái lại, đó là lời đáp trả nhưng không, phổ quát và mạnh mẽ nhất trước sự chết: chúng ta là một dân tộc đang được phục sinh! Trong mỗi chúng ta, trong mỗi con người, Thầy nội tâm dạy về hòa bình, thúc đẩy gặp gỡ, khơi dậy lời khẩn cầu. Vậy hãy ngước nhìn lên! Hãy đứng dậy từ đống đổ nát! Không gì có thể giam hãm chúng ta trong một định mệnh đã được định sẵn, kể cả trong thế giới này, nơi mà dường như các ngôi mộ vẫn chưa đủ, vì người ta vẫn tiếp tục đóng đinh, tiêu diệt sự sống, chối bỏ các quyền, không xót thương.
Thánh Gioan Phaolô II, chứng nhân không mệt mỏi về hòa bình, đã xúc động nói trong bối cảnh cuộc khủng hoảng Iraq năm 2003:
“Tôi thuộc về thế hệ đã trải qua của Thế chiến thứ hai và còn sống sót. Tôi có bổn phận nói với tất cả những người trẻ, những người trẻ hơn tôi, những người chưa từng trải nghiệm điều đó: ‘Không bao giờ chiến tranh nữa!’, như Đức Phaolô VI đã nói trong chuyến thăm đầu tiên của ngài tại Liên Hiệp Quốc. Chúng ta phải làm tất cả những gì có thể! Chúng ta biết rõ rằng không thể có hòa bình bằng mọi giá. Nhưng tất cả chúng ta đều biết trách nhiệm này lớn lao đến mức nào” (Kinh Truyền Tin, ngày 16 tháng Ba năm 2003).
Tối nay, tôi xin lặp lại lời kêu gọi của ngài, một lời kêu gọi vẫn còn nguyên tính thời sự.
Cầu nguyện dạy chúng ta hành động. Những khả năng hữu hạn của con người được kết hợp trong kinh nguyện với những khả năng vô hạn của Thiên Chúa. Khi đó, tư tưởng, lời nói và việc làm phá vỡ xiềng xích ma quái của sự dữ và phụng sự Nước Chúa: một Vương quốc nơi không có gươm giáo, không có máy bay không người lái, không có trả thù, không có sự tầm thường hóa điều ác, không có lợi nhuận bất chính, nhưng chỉ có phẩm giá, sự cảm thông và lòng tha thứ.
Ở đây, chúng ta có một hàng rào ngăn chặn cơn mê sảng quyền lực đang ngày càng trở nên khó lường và hung hăng quanh chúng ta. Sự cân bằng trong gia đình nhân loại đang bị lung lay nghiêm trọng. Ngay cả Danh Thánh của Thiên Chúa – Thiên Chúa của sự sống – cũng bị lôi kéo vào những diễn ngôn của sự chết. Khi đó, một thế giới của những anh chị em có cùng một Cha trên trời biến mất, và như trong một cơn ác mộng, thực tại đầy rẫy kẻ thù. Khắp nơi người ta cảm nhận những mối đe dọa, thay vì những lời mời gọi lắng nghe và gặp gỡ.
Anh chị em thân mến, người cầu nguyện ý thức về giới hạn của mình, không giết chóc và không đe dọa sự chết. Ngược lại, kẻ quay lưng lại với Thiên Chúa hằng sống – để biến chính mình và quyền lực của mình thành ngẫu tượng câm, mù và điếc (x. Tv 115,4-8) – thì bị nô lệ cho sự chết, và sẵn sàng hy sinh mọi giá trị, đòi buộc cả thế giới phải quỳ gối trước mình.
Hãy chấm dứt việc tôn thờ chính mình và tiền bạc! Hãy chấm dứt việc phô trương sức mạnh! Hãy chấm dứt chiến tranh! Sức mạnh đích thực được thể hiện trong việc phục vụ sự sống. Thánh Gioan XXIII, trong sự đơn sơ của Tin mừng, đã viết: “Từ hòa bình, tất cả đều được hưởng lợi: cá nhân, gia đình, các dân tộc, toàn thể gia đình nhân loại.” Và lặp lại những lời súc tích của Đức Piô XII, ngài nói thêm: “Không có gì mất đi với hòa bình. Nhưng tất cả có thể mất đi với chiến tranh” (Thông điệp Pacem in terris, 62).
Vì thế, chúng ta hãy kết hiệp những năng lực luân lý và tinh thần của hàng triệu, hàng tỷ người nam nữ, của người già và người trẻ, những người hôm nay tin vào hòa bình, lựa chọn hòa bình, chữa lành vết thương và khắc phục những hậu quả mà sự điên rồ của chiến tranh để lại. Tôi nhận được rất nhiều thư của trẻ em từ các vùng xung đột: khi đọc chúng, người ta cảm nhận, với sự thật của sự ngây thơ, toàn bộ nỗi kinh hoàng và tính vô nhân của những hành động mà một số người lớn lại tự hào khoe khoang. Hãy lắng nghe tiếng nói của trẻ em!
Anh chị em thân mến, chắc chắn các nhà lãnh đạo quốc gia có những trách nhiệm không thể thoái thác. Với họ, chúng ta kêu lên: hãy dừng lại! Đây là thời điểm của hòa bình! Hãy ngồi vào bàn đối thoại và hòa giải, chứ không phải những bàn nơi người ta hoạch định tái vũ trang và quyết định những hành động gây chết chóc! Tuy nhiên, không kém phần lớn lao là trách nhiệm của tất cả chúng ta, những con người thuộc nhiều quốc gia khác nhau: một đám đông bao la từ chối chiến tranh bằng hành động, chứ không chỉ bằng lời nói. Cầu nguyện thúc đẩy chúng ta hoán cải những gì còn bạo lực trong lòng và trong trí mình: hãy hoán cải để hướng về một Nước hòa bình, được xây dựng từng ngày, trong gia đình, trường học, khu phố, trong các cộng đồng dân sự và tôn giáo, bằng cách thay thế tranh chấp và cam chịu bằng tình bạn và văn hóa gặp gỡ. Hãy trở lại tin vào tình yêu, vào sự tiết độ, vào nền chính trị tốt đẹp. Hãy đào luyện bản thân và dấn thân, mỗi người đáp lại ơn gọi của mình. Mỗi người đều có vị trí riêng trong bức khảm của hòa bình!
Chuỗi Mân côi, cũng như nhiều hình thức cầu nguyện rất cổ xưa khác, đã hiệp nhất chúng ta tối nay trong nhịp điệu đều đặn dựa trên sự lặp lại: hòa bình được mở ra như thế, từng lời, từng cử chỉ, như tảng đá được khoét dần từng giọt nước, như tấm vải được dệt nên từng chuyển động trên khung cửi. Đó là nhịp điệu dài lâu của cuộc sống, dấu chỉ của sự kiên nhẫn của Thiên Chúa. Chúng ta cần không để mình bị cuốn theo sự tăng tốc của một thế giới không biết mình đang chạy theo điều gì, để trở lại phục vụ nhịp điệu của sự sống, sự hài hòa của tạo thành, và chữa lành những vết thương của nó. Như Đức Giáo hoàng Phanxicô đã dạy chúng ta: “cần những người thợ thủ công kiến tạo hòa bình, sẵn sàng khởi xướng những tiến trình chữa lành và gặp gỡ mới với sự sáng tạo và can đảm” (Fratelli tutti, 225). Thật vậy, “có một ‘kiến trúc’ của hòa bình, trong đó các thể chế khác nhau của xã hội tham gia, mỗi bên theo thẩm quyền của mình; nhưng cũng có một ‘nghề thủ công’ của hòa bình liên quan đến tất cả chúng ta” (ibid., 231).
Anh chị em thân mến, chúng ta hãy trở về nhà với cam kết này: luôn cầu nguyện không ngừng và hoán cải sâu xa tâm hồn. Giáo hội là một dân lớn phụng sự hòa giải và hòa bình, tiến bước không do dự, ngay cả khi việc từ chối logic chiến tranh có thể khiến Giáo hội phải chịu sự hiểu lầm và khinh miệt. Giáo hội loan báo Tin mừng hòa bình và dạy con người vâng phục Thiên Chúa hơn là vâng phục loài người, nhất là khi phẩm giá vô hạn của người khác bị đe dọa bởi những vi phạm liên tục đối với luật pháp quốc tế. “Trên toàn thế giới, ước gì mỗi cộng đồng trở thành một ‘ngôi nhà hòa bình’, nơi người ta học cách tháo gỡ sự thù địch qua đối thoại, nơi công lý được thực thi và sự tha thứ được gìn giữ. Hôm nay hơn bao giờ hết, cần phải chứng minh rằng hòa bình không phải là một điều không tưởng” (Sứ điệp Ngày Hòa bình Thế giới lần thứ 59, ngày 01 tháng Giêng năm 2026).
Anh chị em thuộc mọi ngôn ngữ, dân tộc và quốc gia: chúng ta là một gia đình duy nhất biết khóc, biết hy vọng và biết đứng dậy. “Không bao giờ chiến tranh nữa, một cuộc phiêu lưu không lối thoát; không bao giờ chiến tranh nữa, vòng xoáy tang tóc và bạo lực” (Thánh Gioan Phaolô II, Lời cầu nguyện cho hòa bình, ngày 2 tháng 2 năm 1991).
Anh chị em rất thân mến, bình an ở cùng tất cả anh chị em! Đó là bình an của Chúa Kitô phục sinh, hoa trái của hy tế tình yêu của Người trên thập giá. Vì thế, chúng ta dâng lên Người lời khẩn nguyện:
Lạy Chúa Giêsu,
Chúa đã chiến thắng sự chết không bằng vũ khí hay bạo lực: Chúa đã phá tan quyền lực của nó bằng sức mạnh của hòa bình.
Xin ban cho chúng con bình an của Chúa,
như Chúa đã ban cho những người phụ nữ còn bối rối trong buổi sáng Phục Sinh,
như cho các môn đệ đang ẩn mình và sợ hãi.
Xin sai Thánh Thần của Chúa đến,
hơi thở ban sự sống, hòa giải,
biến những kẻ đối nghịch và thù địch thành anh chị em.
Xin khơi dậy nơi chúng con niềm tín thác của Đức Maria, Mẹ Chúa,
Đấng với trái tim tan nát đã đứng dưới chân thập giá của Chúa,
vững vàng trong đức tin rằng Chúa sẽ sống lại.
Xin cho cơn điên rồ của chiến tranh chấm dứt,
và trái đất được chăm sóc và vun trồng bởi những người còn biết
sinh sản, gìn giữ và yêu mến sự sống.
Xin lắng nghe chúng con, lạy Chúa của sự sống!
Đức Hồng y Jean-Marc Aveline, Tổng giám mục Marseille, Chủ tịch Hội đồng Giám mục Pháp, lên án các cuộc tấn công của Israel tại Liban sát hại bao nhiêu dân lành vô tội.
Phúc Nhạc | RVA
Trong thông cáo công bố chiều ngày 10 tháng Tư vừa qua, Đức Hồng y Aveline nói: “Một lần nữa, Liban trở thành nạn nhân của các thế lực mạnh trên thế giới, nhưng đồng thời cũng là con tin của những người tự nhận là bảo vệ đất nước này. Tất cả dường như đều có chung một mục tiêu: phá hủy sứ điệp mà Liban đại diện, đó là khả năng chung sống hòa bình giữa các dân tộc thuộc những nền văn hóa và tôn giáo khác nhau”.
Tuyên ngôn của Đức Hồng y Aveline được công bố sau các cuộc không kích quy mô lớn của Israel vào Beirut và miền nam Liban. Ngài bày tỏ đau buồn, sự phẫn nộ và sự liên đới hoàn toàn với người dân Liban “trong ngày tang tóc này.”
Hôm mùng 08 tháng Tư trước đó, các cuộc không kích của Israel không báo trước đã nhắm vào nhiều khu dân cư ở trung tâm Beirut, cũng như các vùng ngoại ô phía nam của thủ đô, miền nam Liban và thung lũng Bekaa, khiến hơn 300 người thiệt mạng và hàng trăm người bị thương. Những con số này nâng tổng số người chết và số người phải di tản lên 1,2 triệu kể từ khi xung đột giữa Hezbollah và Israel bắt đầu.
Đức Hồng y Aveline nói thêm rằng: “Tôi hoàn toàn lên án chiến dịch không thể chấp nhận này, bị gọi một cách lệch lạc là “Bóng tối vĩnh cửu”, cũng như sự lạnh lùng đầy toan tính khi nó được tiến hành ngay trước khi lệnh ngừng bắn giữa các bên tham chiến có hiệu lực. Vòng xoáy bạo lực phải chấm dứt, và luật pháp quốc tế phải được tôn trọng”.
Đức Hồng y nhận xét rằng: lịch sử cho thấy an ninh quốc gia không thể đạt được bằng cách nuôi dưỡng lòng thù hận đối với người khác. Ngài cũng nhắc đến chuyến công tác của Đức ông Hugues de Woillemont, Tổng giám đốc tổ chức L’Oeuvre d’Orient, cùng với Đức Hồng y Béchara Boutros Rai, Thượng phụ Giáo hội Công giáo Maronite, và Đức Tổng giám mục Paolo Borgia, Sứ thần Tòa Thánh tại Liban, là những người đã tham gia chuyển giao viện trợ nhân đạo cho dân thường ở miền nam Liban.
Đức Hồng y nói: “Họ đã chứng kiến sự tàn phá kéo dài nhiều tuần tại khu vực Tyr-Sidon do một cuộc xung đột mà các mục tiêu lãnh thổ ngày càng trở nên rõ ràng, gây thiệt hại cho những người đã sinh sống trên vùng đất này suốt nhiều thế kỷ.”
Đức Hồng y cho biết khi trở lại Beirut, họ cũng chứng kiến “sự tàn phá do các cuộc không kích chết người của quân đội Israel nhắm vào dân thường ngay giữa lòng thành phố.”
Thay mặt toàn thể các giám mục Pháp, Đức Hồng y Aveline kêu gọi mọi người hưởng ứng lời mời của Đức Giáo hoàng Lêô XIV, cùng nhau cầu nguyện cho hòa bình vào thứ Bảy, ngày 11 tháng Tư năm 2026, lúc 18 giờ. Ngài cũng khuyến khích những ai có khả năng hãy hỗ trợ tài chính cho tổ chức L’Oeuvre d’Orient, nhằm giúp đỡ thiết thực người dân Liban, các cộng đồng Kitô hữu tại Trung Đông, và qua đó hỗ trợ tất cả các dân tộc mong muốn sống trong hòa bình tại khu vực này.
L’Oeuvre d’Orient là một tổ chức của Pháp, được thành lập năm 1856, với mục tiêu hỗ trợ các Kitô hữu ở phương Đông, chủ yếu tại Trung Đông, vùng Sừng châu Phi, cũng như Đông Âu và Ấn Độ.
