Tin Giáo Hội Hoàn Vũ
Tin Giáo Hội Hoàn Vũ
Trước tình trạng giao tranh gia tăng và căng thẳng chính trị tại Nam Sudan, các giám mục Công giáo của quốc gia trẻ nhất thế giới này đã cảnh báo về nguy cơ quay trở lại nội chiến và bạo lực mang tính diệt chủng.
Phúc Nhạc | RVA
Chủ tịch Hội đồng Giám mục Sudan và Nam Sudan, Đức Hồng y Stephen Ameyu Martin Mulla, Tổng giám mục Giáo phận Juba, cho biết tình hình an ninh và nhân đạo đang xấu đi nhanh chóng.
Trong một thư được công bố trong tuần này, Đức Hồng y đề cập đến các cuộc giao tranh tái diễn giữa quân đội chính phủ, lực lượng đối lập SPLA-IO và các nhóm vũ trang khác tại các bang Jonglei và Đông Equatoria. Ngài kêu gọi ban lãnh đạo chính phủ thống nhất cũng như các nhóm vũ trang nằm ngoài Thỏa thuận Hòa bình năm 2018 hãy chấm dứt giao tranh và nối lại đối thoại. Dân thường không được phép bị lợi dụng như công cụ trong các cuộc đấu tranh quyền lực chính trị.
Các giám mục bày tỏ lo ngại rằng “Thỏa thuận Hòa bình Tái sinh” năm 2018 - thỏa thuận mà Đức Giáo hoàng Phanxicô đặc biệt hỗ trợ, đến mức trong một cuộc gặp tại Vatican đã quỳ xuống hôn chân các chính trị gia Nam Sudan - đang ngày càng bị phớt lờ. Những cam kết then chốt như tổ chức bầu cử và cải cách lĩnh vực an ninh vẫn chưa được thực hiện. Các xung đột nội bộ, những cuộc tấn công và phản công đã dẫn đến tình trạng di dời dân cư, đói kém và những hậu quả nhân đạo nghiêm trọng. Theo số liệu của Giáo hội, hiện có khoảng mười triệu người đang cần viện trợ.
Các giám mục Sudan đặc biệt lên án mạnh mẽ ngôn từ thù hận và các lời kêu gọi bạo lực. Lời kêu gọi của một vị tướng cấp cao yêu cầu “tha cho dân thường” tại Jonglei hoàn toàn trái ngược với những gì đã xảy ra; những mệnh lệnh “không chừa một mạng sống nào” là lời kêu gọi trực tiếp cho hành vi diệt chủng. Giáo hội kêu gọi tất cả các lực lượng vũ trang không tuân theo những mệnh lệnh như vậy.
Các giám mục, cùng với Hội đồng các Giáo hội Kitô Nam Sudan, cũng cảnh báo về nguy cơ chính phủ đơn phương sửa đổi thỏa thuận hòa bình. Việc thực hiện chọn lọc hoặc các hành động đơn phương sẽ làm suy yếu tiến trình hòa bình vốn đã rất mong manh. Thỏa thuận năm 2018 vẫn là khuôn khổ trung tâm và khả thi cho hòa bình và ổn định tại Nam Sudan, tuyên bố nhấn mạnh.
(KAP 30-1-2026)
“Giáo hội khuyến khích anh chị em hãy bỏ phiếu cho những ứng viên tôn trọng giá trị và phẩm giá của mỗi con người, và đặt lợi ích chung lên trên lợi ích cá nhân.”
G. Trần Đức Anh, O.P. | RVA
Đó là lời các giám mục Thái Lan ngỏ với các tín hữu Công giáo trong một thư mục vụ được công bố trước thềm cuộc bầu cử, ngày 08 tháng Hai tới đây.
Lá thư do Đức cha Francis Xavier Vira Arpondratana, Giám mục Chiang Mai kiêm Chủ tịch Hội đồng Giám mục Thái Lan, ký tên, mang tựa đề: “Quyền và bổn phận của Kitô hữu trong việc bỏ phiếu trong một nền dân chủ.”
Trong thư, các giám mục viết: “Giáo hội Công giáo tại Thái Lan mong muốn đồng hành cùng xã hội của chúng ta... Tuy vẫn giữ sự độc lập nghiêm túc đối với mọi đảng phái chính trị, Giáo hội có trách nhiệm hành động như một sứ mạng luân lý và lương tâm xã hội để bảo đảm rằng các cuộc bầu cử này đi theo con đường của sự thật và công lý.”
Trong tinh thần đó, các giám mục mời gọi các Kitô hữu “nhận thức rằng việc bỏ phiếu là một sứ mạng luân lý vì lợi ích chung. Nó không chỉ đơn thuần là một nghĩa vụ pháp lý, mà là một bổn phận luân lý mà mọi công dân cùng chia sẻ như một trách nhiệm chung đối với xã hội.”
Các giám mục Thái trích dẫn Sách Giáo lý của Giáo hội Công giáo (GLHT Công Giáo, n. 2240), trong đó khẳng định rằng công dân có bổn phận đóng góp cho xã hội qua việc nộp thuế, bảo vệ đất nước và thực thi quyền bầu cử. “Xao nhãng quyền này đồng nghĩa với việc thiếu sót trong trách nhiệm đối với công ích.”
Tuy nhiên, các giám mục Thái nhấn mạnh rằng “bổn phận này không dừng lại ở phòng phiếu; nó còn bao gồm việc giám sát và bảo vệ các chân lý luân lý trong mọi giai đoạn của tiến trình chính trị. Chúng tôi cũng thừa nhận rằng việc không bỏ phiếu cho bất kỳ ứng viên nào là một lựa chọn, nhưng chỉ trong những trường hợp không có ứng viên nào chấp nhận được về mặt luân lý.
Một nền dân chủ lành mạnh không chỉ là một tập hợp các quy tắc. Nền dân chủ phải được xây dựng “trên các giá trị nhân bản căn bản, đặc biệt là phẩm giá con người, quyền con người và công ích. Nếu thiếu những nền tảng luân lý này, một nền dân chủ rất dễ biến thành một chế độ chuyên chế ngầm, đàn áp chính nhân dân của mình.” Vì thế, cử tri được mời gọi “tìm kiếm những nhà lãnh đạo biết trân trọng người dân địa phương, cho phép các cộng đồng tham gia vào tiến trình ra quyết định và có tinh thần hy sinh.” Một nhà lãnh đạo đích thực “luôn tập trung vào lợi ích của người khác, đặc biệt là người nghèo và những người dễ bị tổn thương.”
Thư trích dẫn sách Xuất Hành (Xh 18,21), nơi ông Môsê được khuyên hãy chọn những nhà lãnh đạo có năng lực, kính sợ Thiên Chúa, đáng tin cậy và ghét sự trục lợi bất chính, và bình luận rằng: “Lãnh đạo không nên được hiểu là sở hữu quyền lực; trái lại, quyền lực phải được thi hành như một sự phục vụ” (Tóm lược Học thuyết Xã hội của Giáo hội, số 410).
Sau cùng, Giáo hội Công giáo Thái Lan gửi một lời cảnh báo đến các chính trị gia và quan chức chính phủ về tính liêm chính luân lý, khẳng định: “Như Chúa Giêsu đã dạy: “Ai trung tín trong việc nhỏ thì cũng trung tín trong việc lớn” (Lc 16,10-11). Việc mua hay bán phiếu, hay bất kỳ hành vi gian lận nào, đều là khởi đầu của tham nhũng, thứ phá hủy cấu trúc của xã hội. Tham nhũng chính trị là sự phản bội nhân dân và là một vi phạm nghiêm trọng đối với công bằng xã hội.”
Các giám mục cùng hiệp thông cầu nguyện với các tín hữu Thái Lan để “những nhà lãnh đạo có nền tảng luân lý vững chắc và các chính sách công sáng tạo” được tuyển chọn, và để họ “biết dẫn dắt quốc gia đến nền hòa bình và tình huynh đệ đích thực”.
(Fides 31-1-2026)
Caritas của Tổng Giáo phận Cracovia bên Ba Lan đã gửi 162 máy phát điện và 846 máy sưởi tới Kiev thủ đô Ucraina, trong sáng kiến cứu trợ nhân dân nước này đang chịu giá lạnh vì các cơ cấu hạ tầng năng lượng bị phá hủy do các cuộc không kích của Nga.
Phúc Nhạc | RVA
Ngân khoản để tài trợ nghĩa cử bác ái liên đới này đến từ các cuộc quyên góp trong giáo phận, theo lời kêu gọi của Đức Hồng y Grzegorz Rys, Tổng giám mục Cracovia.
Cha Lukasz Slusarczyk, Giám đốc Caritas Cracovia, cho biết: “Chúng tôi đang cố gắng hành động nhanh nhất có thể để hỗ trợ người dân Kiev và các vùng lân cận, những người đang phải chịu cảnh mất điện trong đợt rét mùa đông khắc nghiệt.”
Hôm thứ Năm, ngày 29 tháng Giêng, lúc 6 giờ sáng, một đoàn cứu trợ khác đã khởi hành. Bốn xe tải nhỏ chở hàng cứu trợ tới người dân Kiev và các thị trấn lân cận Bila Tserkva và Boyarka do cha Lukasz Slusarczyk, cha Gracjan Hebda - Chủ tịch Quỹ Trợ giúp Người Khuyết tật tại Stróze - cùng hai tu huynh Dòng Albert trực tiếp điều khiển. Đoàn xe mang theo 6 tấn lương thực (ngũ cốc, thực phẩm đóng hộp, đường, mì, mì ăn liền), cùng với 10 máy phát điện và 20 máy sưởi.
Đức Tổng giám mục Sviatoslav Shevchuk, Giáo chủ Công giáo Ucraina nghi lễ Đông phương, đã gửi thư cho Đức Hồng y Rys để bày tỏ lòng biết ơn “vì tình liên đới và sự nâng đỡ trong thời khắc bi thảm này”, đồng thời viết:
“Lời kêu gọi của Đức Hồng y gửi đến các tín hữu của Tổng Giáo phận Cracovia, xin quyên góp các máy phát điện công suất lớn và các lò sưởi di động để sưởi ấm những người đang chịu rét, vang vọng lời của Thánh Phaolô tông đồ về “một thân thể, một Thần Khí và một niềm hy vọng” (x. Êphêsô 4,4), khơi dậy một làn sóng thiện chí khắp Ba Lan và các quốc gia khác trên thế giới. Trong khoảnh khắc ấy, ánh mắt của các Kitô hữu hướng về Kyiv, nơi mà qua sự quan tâm và lòng cảm thông của con người, hơi ấm của tình yêu Đức Kitô đang đến để sưởi ấm và an ủi những người giá lạnh.” Đức Tổng giám mục Shevchuk cảm ơn Đức Hồng y vì sự nhạy bén mục tử và lời khích lệ giúp các tín hữu Giáo hội Cracovia thực hiện những hành động trợ giúp cụ thể:
Xin Chúa tuôn đổ muôn phúc lành trên Đức Hồng y và toàn thể Tổng Giáo phận Cracovia, cũng như trên tất cả những ai đang dấn thân cứu giúp mạng sống con người.”
(Ekai.pl 30-1-2026)
Vatican News
Trong số những người trở lại Công giáo, 486 người được truyền chức linh mục Công giáo và 5 người trở thành phó tế vĩnh viễn. Khoảng 69% được truyền chức cho các giáo phận tại Anh và xứ Wales; số còn lại phục vụ tại các giáo phận khác trên thế giới hoặc gia nhập các dòng tu.
Hai làn sóng trở lại Công giáo
Nghiên cứu xác định hai làn sóng trở lại Công giáo. Làn sóng thứ nhất diễn ra sau quyết định năm 1992 của Anh giáo cho phép truyền chức linh mục cho phụ nữ, có hiệu lực từ năm 1994, khiến hơn 150 giáo sĩ Anh giáo gia nhập Công giáo. Làn sóng thứ hai đến sau khi Đức Bênêđíctô XVI ban hành tông hiến "Anglicanorum coetibus" (2009), dẫn tới việc thành lập Giáo hạt tòng nhân Đức Mẹ Walsingham năm 2011. Cấu trúc giáo luật này cho phép các tín hữu Anh giáo hiệp thông trọn vẹn với Công giáo nhưng vẫn giữ một số truyền thống phụng vụ và mục vụ riêng; khoảng 80 giáo sĩ đã trở lại Công giáo trong giai đoạn này. Ngoài hai thời điểm đặc biệt, trung bình mỗi năm ghi nhận ít nhất 10 trường hợp trở lại Công giáo và lãnh nhận Bí tích truyền chức.
Đóng góp cho ơn gọi linh mục
Điều gây bất ngờ là 29% tổng số linh mục được truyền chức tại Anh và xứ Wales giai đoạn 1992–2024 là các cựu giáo sĩ Anh giáo; nếu tính cả các trường hợp thụ phong tại Giáo hạt tòng nhân Đức Mẹ Walsingham, con số lên tới 35%. Riêng giai đoạn 2015–2024, họ chiếm gần 1/5 số tân linh mục – một đóng góp đáng kể trong bối cảnh khủng hoảng ơn gọi của Giáo hội Công giáo.
Không phải mọi giáo sĩ Anh giáo trở lại Công giáo đều lãnh nhận Bí tích Truyền chức trong Công giáo. Nhiều người chuyển sang nghề nghiệp đời thường hoặc đã đến tuổi nghỉ hưu. Các cuộc phỏng vấn cho thấy quyết định rời Anh giáo thường là kết quả của nhiều năm giằng co nội tâm. Các vấn đề như mất thu nhập trước đây, nhà xứ, trường học của con cái và sự bất định về tương lai cũng đóng vai trò quan trọng trong quyết định rời bỏ Anh giáo.
Đối với những người chọn trở thành linh mục Công giáo, quá trình đào tạo kéo dài, chờ chuẩn thuận từ Tòa Thánh (đặc biệt với giáo sĩ đã lập gia đình) và khó khăn tài chính là những thử thách lớn. Trong bối cảnh đó, vai trò hỗ trợ của Hiệp hội Thánh Barnaba được đánh giá là then chốt trong việc cung cấp hỗ trợ mục vụ và tài chính. Tổ chức này đã hoạt động từ năm 1896 và cung cấp hỗ trợ mục vụ, pháp lý và tài chính cho các giáo sĩ và tu sĩ từ các hệ phái Kitô giáo khác muốn trở lại Công giáo. Sự ra đời của Giáo hạt tòng nhân đã giúp lộ trình này trở nên rõ ràng hơn, đồng thời không làm suy giảm ơn gọi tại các giáo phận.
Vatican News
Hiện diện tham dự nghi lễ làm phép và đặt ảnh Đức Mẹ và tượng Thánh Rosa tại Vườn Vatican đặc biệt có các thành viên Hội đồng Giám mục Peru, Đại sứ Peru cạnh Tòa Thánh và Chủ tịch Phủ Thống đốc Quốc gia Thành Vatican.
Đức Thánh Cha bày tỏ lòng biết ơn đối với các nghệ sĩ đã thực hiện các tác phẩm cũng như tất cả những ai đã góp phần làm nên sự kiện ý nghĩa này, được tổ chức trong không gian thiên nhiên nơi “mọi sự đều nói với chúng ta về Đấng Tạo Hóa và vẻ đẹp của công trình tạo dựng”.
Mọi Kitô hữu đều được mời gọi nên thánh
Theo ngài, hình ảnh Đức Maria – Nữ vương Thiên quốc của Giáo hội – và thánh Rosa de Lima, vị thánh đầu tiên của châu Mỹ Latinh, hướng tâm trí các tín hữu về ơn gọi nên thánh. Ngài nhắc lại giáo huấn của Công đồng Vatican II trong hiến chế Lumen Gentium, khẳng định rằng mọi Kitô hữu, không phân biệt bậc sống hay địa vị, đều được mời gọi đạt tới sự viên mãn của đời sống Kitô giáo và sự trọn lành trong đức ái.
Ngài nói, "điều hiển nhiên là tất cả mọi người […] bất kể địa vị hay tầng lớp nào đều được mời gọi hướng đến sự trọn vẹn của đời sống Kitô giáo và sự hoàn thiện của đức ái […]. Để đạt được sự hoàn thiện này, các tín hữu nên sử dụng sức mạnh mình đã nhận được theo mức độ mà Chúa Kitô đã vui lòng ban cho, để, noi gương Người và nên giống hình ảnh Người, vâng phục mọi sự theo ý Chúa Cha, hiến dâng trọn vẹn quảng đại cho vinh quang Thiên Chúa và phục vụ tha nhân. Như vậy, sự thánh thiện của Dân Chúa sẽ sinh hoa trái dồi dào, như đã được chứng minh một cách tuyệt vời trong lịch sử Giáo hội qua đời sống của rất nhiều vị thánh" (Hiến chế tín lý Lumen Gentiium, số 40).
Đức Thánh Cha nói thêm: “Những hình ảnh tuyệt đẹp mà chúng ta chiêm ngắm hôm nay nhắc nhớ chúng ta về sự cao cả của ơn gọi phổ quát nên thánh”. Ngài khích lệ các tín hữu, với ân sủng của Thiên Chúa, hãy trở nên chứng tá sống động cho sự thánh thiện trong thế giới hôm nay, bởi “sự thánh hóa của mỗi chúng ta chính là thánh ý của Thiên Chúa”.
Cuối cùng, Đức Thánh Cha phó thác hành trình đức tin của cộng đoàn cho sự chuyển cầu của Đức Trinh Nữ Maria và các thánh, đồng thời, Cuối cùng, Đức Thánh Cha phó thác hành trình đức tin của cộng đoàn cho sự chuyển cầu của Đức Trinh Nữ Maria và các thánh, đồng thời, với tâm tình tri ân, ngài ban phép lành cho những người hiện diện.
Vatican News
Sứ điệp được gửi tới Đức cha José Ornelas Carvalho, Chủ tịch Hội đồng Giám mục Bồ Đào Nha, trong bối cảnh cơn bão Kristin – với gió giật vượt 170 km/giờ – đổ bộ bờ biển Đại Tây Dương đêm 28 rạng sáng 29/1/2026, để lại “cảnh tàn phá nặng nề”. Tính đến nay, ít nhất 5 người thiệt mạng, nhiều khu vực bị ngập lụt và sạt lở, giao thông đường bộ – đường sắt bị gián đoạn, và hơn 850.000 hộ gia đình mất điện.
Đức Thánh Cha đặc biệt cầu nguyện cho các nhà chức trách quốc gia và địa phương, cũng như các lực lượng dân sự, quân đội và tôn giáo đang chung tay cứu trợ. Ngài bày tỏ lòng biết ơn trước nỗ lực của các tổ chức Giáo hội và tinh thần liên đới tự phát của người dân, xin Thiên Chúa ban “sự an ủi của tình liên đới và ánh sáng hy vọng Kitô giáo”, đồng thời ban phép lành cho họ.
Về phần Đức cha Ornelas Carvalho, ngài nhắn gửi tới các tín hữu Giáo phận Leiria–Fatima: “Anh chị em không đơn độc”. Giáo phận đang theo sát tình hình tại các giáo xứ, phối hợp với chính quyền để hỗ trợ mục vụ và cứu trợ cụ thể cho những cộng đồng bị ảnh hưởng. Thông qua Caritas, Giáo hội địa phương đã thiết lập Quỹ khẩn cấp xã hội nhằm tăng tốc hỗ trợ các gia đình, đồng thời tiếp nhận lương thực và vật dụng thiết yếu.
Các quận Leiria, Coimbra, Santarém và Lisbon chịu thiệt hại nặng nề; khoảng 60 đô thị bị ảnh hưởng với hơn 3.000 sự cố được ghi nhận. Đáng chú ý, Đền thánh Đức Mẹ Fatima cũng bị gió mạnh quật ngã nhiều cây lớn trong khuôn viên cầu nguyện. Chính phủ Bồ Đào Nha đã ban bố tình trạng thiên tai đến hết ngày 1/2, đồng thời phối hợp với Liên minh châu Âu để huy động nguồn lực tái thiết. Sau khi quét qua Bồ Đào Nha, bão Kristin tiếp tục di chuyển sang Tây Ban Nha, gây mưa, gió mạnh và tuyết ở nhiều khu vực.
Trưa ngày 29 tháng Giêng vừa qua, Đức Thánh cha Lêô XIV đã bất ngờ đến dùng bữa trưa với các giám mục Peru, nhân dịp các vị về Roma để viếng mộ hai thánh tông đồ Phêrô-Phaolô và thăm Tòa Thánh, từ ngày 26 đến ngày 30 tháng Giêng năm 2026.
G. Trần Đức Anh, O.P. | RVA
Cuộc gặp gỡ này, được Hội đồng Giám mục Peru mô tả trên mạng xã hội X là “một cử chỉ gần gũi và hiệp thông, củng cố sứ mạng mục vụ của Giáo hội tại Peru.”
Các giám mục thuộc các giáo phận và các đơn vị khác của Giáo hội tại Peru đã được Đức Thánh cha tiếp kiến chính thức tại Vatican, hôm qua 30 tháng Giêng. Đức Thánh cha biết rõ tình hình Giáo hội tại Peru, vì đã từng làm thừa sai tại nước này trong 20 năm, trước tiên như linh mục rồi sau đó làm Giám mục Giáo phận Chiclayo, và trong tư cách này ngài đã là thành viên của Hội đồng Giám mục Peru.
Đức cha Carlos García Camader, Giám mục Giáo phận Lurín và là Chủ tịch Hội đồng Giám mục Peru, nói rằng: “Chúng tôi ở đây để cầu nguyện cho hòa bình và tương lai của Peru, để chuyến viếng thăm này có thể củng cố tất cả chúng ta và khích lệ chúng ta trong đức tin, nhằm phục vụ tốt hơn. Chúng tôi cầu nguyện để các nhà lãnh đạo tương lai của chúng tôi là những người nam và nữ tốt lành, phục vụ đất nước, tìm kiếm công ích và trên hết là biết nỗ lực hiệp nhất và xây dựng, chứ không loại trừ hay chia rẽ”.
Hội đồng Giám mục Peru cũng đã trao tặng Đức Giáo hoàng một bức tranh khảm Đức Trinh Nữ Maria và một hình ảnh thánh Rosa thành Lima. Hai tác phẩm này sẽ được làm phép và đặt tại Vườn Vatican vào thứ Bảy, ngày 31 tháng Giêng này.
Hai chuyến viếng thăm trước đây của các giám mục Peru tại Roma đã diễn ra vào tháng Năm năm 2017 với Đức Giáo hoàng Phanxicô và tháng Năm năm 2009 với Đức Giáo hoàng Bênêđictô XVI.
(Vatican News 29-1-2026)
Tại miền Cisjordani hay còn gọi là miền Bờ Tây bị Israel chiếm đóng, chỉ trong vòng vài ngày đã xảy ra hai vụ tấn công của những người định cư Israel nhắm vào các Kitô hữu người Palestine.
Phúc Nhạc | RVA
Cha Firas Abedrabbo, quản xứ Công giáo sở tại, cho biết tại làng Ain Arik, cách thành phố Ramallah khoảng 6 km về phía tây, một Kitô hữu đã bị tấn công và bị trục xuất khỏi mảnh đất của mình. Vụ việc xảy ra vào thứ Ba, ngày 27 tháng Giêng vừa vua và đã được camera an ninh ghi lại. Cha cũng nói rằng: Những kẻ tấn công là một nhóm người định cư Israel trẻ tuổi, khoảng từ 17 đến 23 tuổi, “dường như đầy lòng thù hận, oán giận và hệ tư tưởng cực đoan”.
Trước đó, thứ Bảy ngày 24 tháng Giêng, một gia đình Kitô Palestine tại Birzeit, phía bắc Ramallah, đã bị tấn công. Nhiều thành viên trong gia đình bị thương, trong đó người mẹ bị chấn thương nặng ở đầu. Một người trong gia đình bị quân đội Israel bắt giữ, trong khi hai người khác bị bắt cóc, bị đánh đập dã man và sau đó bị bỏ lại ở lối vào làng. Phía quân đội Israel chưa đưa ra tuyên bố nào về cả hai vụ việc.
Theo cha Abedrabbo, hai vụ việc này phản ánh “sự xuống cấp nhanh chóng và nguy hiểm của tình hình tại miền Bờ Tây”. Đối với dân làng Ain Arik, đây là “cuộc tấn công thể lý đầu tiên kiểu này nhắm vào con người trong phạm vi cộng đồng của chúng tôi”.
Gần đây, sự hiện diện của những người Israel định cư tại ngôi làng Hồi giáo-Kitô giáo này đã gia tăng đáng kể. Những người Israel định cư đã bắt đầu xây dựng một con đường băng qua đất của làng nhằm nối một khu định cư hiện có với một tiền đồn định cư mới.
Cha Abedrabbo nhận định rằng các vụ việc này tạo thành “một mô hình đáng lo ngại, đe dọa sự an toàn của người dân, phẩm giá của họ cũng như quyền căn bản được sống trên mảnh đất của mình trong an ninh”.
Một hình mẫu chung sống
Gần một phần ba trong số 1.700 cư dân của Ain Arik là Kitô hữu, trong đó có khoảng 200 người Công giáo. Ngôi làng có một trường Công giáo do Tòa Thượng phụ Công giáo Latinh Giêrusalem điều hành và được xem là hình mẫu của sự chung sống tốt đẹp giữa người Hồi giáo và Kitô giáo. Đồng thời, theo lời linh mục chánh xứ, Ain Arik trong vài năm qua cũng là trung tâm mục vụ giới trẻ của Tòa Thượng phụ tại Palestine. Tuy nhiên, điều này hiện đang bị đe dọa bởi làn sóng bạo lực gần đây. Trước các cuộc tấn công của người định cư, người ta tự hỏi “liệu các Kitô hữu và các bạn trẻ đến tham dự các trại hè còn có an toàn hay không”.
(KAP, KNA 29.01.2026)
Trong năm 2025 vừa qua, tình trạng ơn gọi của các dòng tu tại Hoa Kỳ tiếp tục khan hiếm. Phần lớn các dòng tại nước này không có tu sĩ nào tuyên khấn trọn đời.
G. Trần Đức Anh, O.P. | RVA
Trung tâm Nghiên cứu Ứng dụng trong Tông đồ, gọi tắt là CARA, thuộc Đại học Công giáo Georgetown ở thủ đô Washington, trong phúc trình mang tên “Women and Men Professing Perpetual Vows in Religious Life: The Profession Class of 2025”, cho biết 82% các hội dòng tại Hoa Kỳ không có tu sĩ nào tuyên khấn vĩnh viễn trong năm 2025. Khoảng một phần mười các dòng tu cho biết họ có một tu sĩ tuyên khấn trọn đời, trong khi 8% cho biết có từ hai đến chín thành viên tuyên khấn vĩnh viễn trong năm 2025.
Tổng cộng, các dòng tu được khảo sát báo cáo có 179 tu sĩ khấn trọn đời trong năm 2025 - gồm 74 nữ tu và 105 nam tu sĩ.
Trong số những người đã tuyên khấn vĩnh viễn, 92% cho biết họ là người Công giáo từ khi sinh ra; 8% còn lại là những người trở lại Công giáo, với độ tuổi cải đạo trung bình là 20. Gần như tất cả cho biết họ có ít nhất một phụ huynh là người Công giáo và được nuôi dưỡng bởi cha mẹ ruột.
Khoảng 69% sinh ra tại Hoa Kỳ, trong khi 12% đến từ châu Á, 9% từ châu Mỹ Latinh và 7% từ châu Phi.
Khoảng một nửa số người được hỏi là những người từng theo học trường tiểu học hoặc trung học cơ sở Công giáo; một phần ba từng học trung học phổ thông Công giáo; và khoảng 39% từng học cao đẳng hoặc đại học Công giáo.
Trước khi gia nhập đời tu, hầu như tất cả các tân khấn sinh trọn đời đều thường xuyên tham gia các nhóm cầu nguyện; khoảng 92% từng tham dự ít nhất một chương trình phân định ơn gọi.
Hơn một nửa số người được hỏi (53%) cho biết họ từng bị một hoặc nhiều người ngăn cản khi muốn bước vào đời sống tu trì.
“Từ năm 2010, Ủy Ban giáo sĩ, tu sĩ và Ơn gọi thuộc của Hội đồng Giám mục Hoa Kỳ (USCCB) đã ủy nhiệm cho Viện CARA thực hiện khảo sát hằng năm về các tu sĩ nam nữ tuyên khấn trọn đời trong một hội dòng, tỉnh dòng hoặc đan viện tại Hoa Kỳ... Trong khuôn khổ dự án này, CARA được yêu cầu thu thập thông tin về đặc điểm và kinh nghiệm của các tu sĩ này, và chuyển kết quả cho Ban Thư ký để sử dụng cho Ngày Thế giới Cầu nguyện cho Đời sống Thánh hiến hằng năm, vào ngày 02 tháng Hai.”
Nghiên cứu của Viện CARA bao gồm phản hồi từ 520 trong tổng số 723 bề trên, tương đương tỷ lệ phản hồi khoảng 72% trong các dòng tu tại Hoa Kỳ. Trong số 179 dòng tu được xác định, có 130 dòng - tức 73% - đã phản hồi khảo sát tính đến ngày 06 tháng Giêng năm 2026 vừa qua.
(EWTN News, CNA Deutsch)
“Lo buồn và sợ hãi” đang khiến nhiều nhân vật trong các cơ cấu chính quyền và tôn giáo im lặng, bị đẩy ra bên lề, trong khi đất nước có nguy cơ một lần nữa rơi vào vòng xoáy căng thẳng và bạo lực. Đặc biệt là do những làn gió chiến tranh mới “đang thổi qua Trung Đông”, bên cạnh “sự bất ổn nội bộ” - vốn trong quá khứ đã từng là một trong những nguyên nhân quyết định đẩy Iraq vào hỗn loạn.
Phúc Nhạc | RVA
Đức Hồng y Louis Raphael Sako, Thượng phụ Công giáo Canđê ở Baghdad, thủ đô Iraq, tuyên bố như trên với hãng tin Asia News khi bình luận về các diễn biến trong những tuần gần đây tại Iraq và trong khu vực rộng lớn hơn đang chứng kiến một vòng leo thang căng thẳng mới giữa một bên là Iran và bên kia là Hoa Kỳ và Israel.
Đức Hồng y Sako nói qua điện thoại rằng: “Trong những ngày này, nhiều chính trị gia đã yêu cầu tôi lên tiếng, để tiếng nói của một thẩm quyền tôn giáo được lắng nghe”, trong một bối cảnh chung của sự im lặng đồng lõa, của nỗi sợ hãi và những khoảng lặng vang dội hơn cả lời nói.
Những nỗi lo và bất an xuất phát từ tình trạng bất ổn nội bộ ở Iraq, với việc chờ đợi cuộc bầu cử Tổng thống nhiều lần bị trì hoãn; Tổng thống mới này sau đó sẽ trao nhiệm vụ cho Thủ tướng được chỉ định để thành lập chính phủ mới. Khối đa số trong Quốc hội Irak được bầu từ cuộc tổng tuyển cử hồi tháng Mười Một năm ngoái dường như đang nhắm tới ông Nouri al-Maliki, từng là Thủ tướng trong nhiệm kỳ 2006-2014, sau đó từ chức trong bối cảnh đất nước rơi vào những khủng hoảng sâu sắc.
Lựa chọn này đã vấp phải sự phản đối của Tổng thống Hoa Kỳ Donald Trump, ông cho rằng al-Maliki phải chịu trách nhiệm về cuộc khủng hoảng kinh tế - xã hội nghiêm trọng trong quá khứ của Iraq, kể cả sự trỗi dậy của tổ chức Nhà nước Hồi giáo IS. Ông al-Malaki cũng bị Mỹ xem là quá thân cận với Iran.
Càng làm nổi bật bức tranh căng thẳng và bất định là tình trạng gần đây xuất hiện một bức thư giả lan truyền trên truyền thông, được cho là mang chữ ký của Ngoại trưởng Arập Sauđi, kêu gọi ông al-Maliki hãy rút lui vì lợi ích của Iraq và khu vực. Vị Ngoại trưởng này cho đến nay chưa bình luận về tình hình Iraq và đang chờ thông tin chính thức về ban lãnh đạo mới, nhưng việc bức thư giả này được lan truyền rộng rãi một lần nữa cho thấy bầu khí hỗn loạn và những nỗ lực nhằm làm khu vực thêm bất ổn.
Ngược lại, đằng sau sự im lặng của các nhà lãnh đạo tôn giáo Iraq - đặc biệt ở phía Hồi giáo Shiite - là nỗi lo về những hệ quả hay trả đũa từ phía Iran, hệ quả của mối liên kết chặt chẽ giữa Baghdad và Tehran, vượt ra ngoài phạm vi tôn giáo để bao trùm cả chính trị và lợi ích chiến lược.
Đức Hồng y Sako nói: “Không chỉ ở Iraq, mà trên toàn khu vực, từ Syria đến Liban, người dân đều rất lo lắng. Điều này cũng đúng với các Kitô hữu, những người đã phải trả giá quá đắt bằng làn sóng di cư, và rõ ràng không thể sống thiếu an ninh và ổn định. Họ lo cho con cái và cho tương lai của mình.”
Đức Hồng y Thượng phụ nhận định thêm rằng: Không kém phần quan trọng còn có vấn đề nền kinh tế phụ thuộc tới 90% vào nguồn thu từ dầu mỏ, cộng thêm nhiều yếu tố bất ổn khác, trong đó có sự tái xuất hiện mối đe dọa từ IS và các nhóm thánh chiến khác. Ngoài ra, Đức Hồng y cũng chỉ trích và hoài nghi trước quyết định của Hoa Kỳ đưa các tù nhân nhà nước Hồi giáo IS từ Syria sang Iraq: hiện mới có hơn 100 người, tổng cộng sẽ lên tới hàng nghìn người.
Làm trầm trọng thêm bức tranh bất định trên đây là sự không rõ ràng về thời điểm bầu Tổng thống Iraq mới, một vai trò phần lớn mang tính nghi lễ nhưng lại thiết yếu để tháo gỡ các bổ nhiệm then chốt khác trong đời sống thể chế của đất nước, trước hết là việc thành lập chính phủ. Đức Hồng y Sako nhấn mạnh rằng “Người ta không biết gì cả... có thể là vào cuối tuần, nhưng không chắc chắn. Những bấp bênh và lo âu này, vị Hồng y tiếp tục, còn phản ánh trong “sự yếu kém của các thể chế quốc tế, trước hết là Liên Hiệp Quốc, vốn không còn khả năng bảo đảm một trật tự toàn cầu. Siêu cường duy nhất dường như ngày nay là Hoa Kỳ, một nước làm những gì mình muốn”, nhất là sau khi ông Trump trở lại Nhà Trắng.
Đồng thời, tình trạng cô lập và im lặng tại Cộng hòa Hồi giáo Iran cũng gây lo ngại. Đức Hồng y Sako cho biết “Tôi không thể liên lạc với giám mục và các tín hữu Công giáo Canđê tại Iran, vì mọi thứ đều bị đóng lại. Internet không hoạt động và không thể liên lạc.”
Trước những biến động và chuyển dịch toàn cầu, Đức Thượng phụ Canđê nhận xét rằng xã hội phương Đông đang thiếu “một nhận thức sâu sắc về các diễn biến địa - chính trị đang diễn ra, một phân tích cẩn trọng về những gì đang xảy ra và một thái độ lý trí, có trách nhiệm... Tôi thực sự rất lo lắng bởi vì “không ai biết mọi sự sẽ đi về đâu. Hôm nay chúng ta còn ở đây, ngày mai thì không thể dự đoán: có những lời đe dọa từ phía Hoa Kỳ về một cuộc tấn công vào Iran, điều này sẽ tác động nặng nề đến Iraq, cũng như Liban, Syria và toàn bộ khu vực.”
(Asia News 29-1-2026)
