Tin Giáo Hội Hoàn Vũ
Tin Giáo Hội Hoàn Vũ
Vatican News
Châu Phi: Algeria, Cameroon, Angola và Guinea Xích đạo
Trong chuyến đi dài nhất, từ ngày 13-23/4/2026, trước tiên, Đức Thánh Cha sẽ thực hiện hành trình theo bước chân Thánh Augustinô ở Algeria: viếng thăm hai thành phố Algiers và Annaba từ ngày 13-15/4/2026. Sau đó ngài sẽ viếng thăm khu vực Trung Phi, đầu tiên là Cameroon, từ ngày 15-18/4/2026, với các địa điểm Yaoundé, Bamenda và Douala; tiếp đến, từ ngày 18-21/4/2026, ngài sẽ thăm Angola, gồm các thành phố Luanda, Muxima và Saurimo; và cuối cùng, ngài sẽ viếng thăm các thành phố Malabo, Mongomo và Bata của Guinea Xích đạo từ ngày 21-23/4/2026.
Chuyến thăm châu Phi là một chuyến đi phức tạp, trong đó có hành trình tưởng nhớ Thánh Augustinô mà Đức Thánh Cha có mối liên hệ. Ngài cũng đến thăm hai quốc gia đang phát triển, đặc biệt tập trung vào những người dễ bị tổn thương nhất, người nghèo và những người chăm sóc họ. Hòa bình cũng sẽ là một trong những mục tiêu của Đức Thánh Cha khi ngài sẽ thăm vùng nói tiếng Anh ở miền bắc Cameroon, nơi một cuộc nội chiến đã diễn ra suốt mười năm, liên quan đến lực lượng vũ trang chính quy và phe ly khai. Điểm dừng chân cuối cùng là Guinea Xích đạo, quốc gia nói tiếng Tây Ban Nha duy nhất ở châu Phi.
Công quốc Monaco
Trước đó, dự kiến vào ngày 28/3/2026, Đức Thánh Cha sẽ thăm Công quốc Monaco, đáp lại những lời mời liên tục từ chính quyền Monaco, đầu tiên là dành cho Đức Giáo hoàng Phanxicô và sau đó là cho chính ngài. Công quốc này đại diện cho một thực tế châu Âu nơi Công giáo là quốc giáo và nơi đối thoại giữa các thể chế dân sự và Giáo hội duy trì tầm quan trọng cụ thể, ngay cả trong các cuộc tranh luận công khai. Sự dấn thân cho hòa bình của Công quốc này cũng rất đáng chú ý. Đây sẽ là lần đầu tiên trong thời hiện đại nước này đón tiếp một vị Giáo hoàng.
Tây Ban Nha: Madrid, Barcelona và quần đảo Canary
Cuối cùng, từ ngày 6-12/6/2026, Đức Thánh Cha sẽ viếng thăm Tây Ban Nha: thủ đô Madrid và sau đó là Barcelona, để khánh thành tòa tháp mới và cao nhất của Đền thờ Sagrada Familia (Thánh Gia). Chuyến thăm trùng với kỷ niệm 100 năm ngày qua đời của kiến trúc sư tài ba Antoni Gaudí, người được tuyên bố là Tôi tớ Chúa vào năm ngoái. Từ Barcelona, Đức Thánh Cha sẽ di chuyển đến quần đảo Canary, để hoàn thành một hành trình vốn được ngài mong muốn, như Hồng y Tổng Giám mục Madrid José Cobo Cano đã nhấn mạnh hồi tháng Giêng năm ngoái. Ngài sẽ viếng thăm hai đảo Tenerife và Gran Canaria.
Hôm 20 tháng Hai vừa qua, Ủy ban tu chính Bộ Giáo luật các Giáo hội Đông phương đã nhóm khóa họp đầu tiên và nhắm mục đích “Xây dựng các đề xuất sửa đổi Bộ Giáo luật các Giáo hội Đông phương dưới ánh sáng hành trình hiệp hành của Giáo hội Công giáo”.
G. Trần Đức Anh, O.P. | RVA
Ủy ban này hỗ trợ công việc đang tiến hành của Ủy ban Giáo luật được thành lập vào tháng Mười Hai năm 2023, đồng thời đáp lại nhiều yêu cầu từ các nhà lãnh đạo các Giáo hội Công giáo Đông phương sui iuris (tự quản).
Hiện có 23 Giáo hội Công giáo nghi lễ Đông phương hiệp nhất với Tòa Thánh, trong số này, Giáo hội Công giáo Ucraina nghi lễ Đông phương với số lượng đông nhất, vào khoảng năm triệu tín hữu, tiếp đến là Giáo hội Syro Malabar bên Ấn Độ, với gần năm triệu thành viên.
Ủy ban tu sinh gồm chín thành viên, trong đó có vị điều hợp là Đức cha Arrieta, người Tây Ban Nha, cũng là Tổng thư ký Bộ về các văn bản luật của Tòa Thánh, nhằm thúc đẩy sự hợp tác liên bộ phục vụ các Giáo hội địa phương. Các thành viên là chuyên gia về giáo luật Đông phương, được chọn trong số các cố vấn của Bộ về các Văn bản luật và Bộ các Giáo hội Đông phương.
Đức Hồng y Mario Grech, người Malta, Tổng thư ký Thượng Hội đồng Giám mục Thế giới, nói rằng: “Do đặc thù của giáo luật Đông phương, cần phải thành lập một ủy ban riêng, làm việc chặt chẽ với Nhóm Nghiên cứu số 1 về một số khía cạnh trong mối tương quan giữa các Giáo hội Công giáo Đông phương và Giáo hội Latinh”. Đây là một trong các ủy ban chịu trách nhiệm thực thi những định hướng phát sinh từ tiến trình hiệp hành, đặc biệt trong Báo cáo tổng hợp năm 2023 và Văn kiện chung kết năm 2024 của Đại hội Thường lệ lần thứ XVI Thượng Hội đồng Giám mục.
Trong tinh thần hiệp hành của giai đoạn thực hiện này, Đức Hồng y Grech mời gọi các Giáo hội tự quản (sui iuris), các Hội đồng Giám mục, các đại học Công giáo, các tổ chức và cá nhân quan tâm gửi ý kiến góp ý về Tổng Thư ký Thượng Hội đồng trước ngày 15 tháng Tư năm nay (2026). Danh sách đầy đủ các thành viên ủy ban được công bố trên trang mạng của Thượng Hội đồng Giám mục Thế giới.
Đức Hồng y Robert Sarah, nguyên Tổng trưởng Bộ Phụng tự và Kỷ luật Bí tích, kêu gọi Huynh đoàn Thánh Piô X vâng phục Đức Thánh cha và từ bỏ dự kiến tự ý truyền chức giám mục, vào ngày 01 tháng Bảy tới đây, mà không có phép của Đức Thánh cha.
G. Trần Đức Anh, O.P. | RVA
Đức Hồng y Sarah, người Guinea Xích đạo ở châu Phi, năm nay 81 tuổi (1945) và thuộc khuynh hướng truyền thống.
Trong một bài đăng trên báo “Le Journal du Dimanche”, số ra ngày 22 tháng Hai vừa qua bên Pháp, Đức Hồng y viết: “Cách tốt nhất để bảo vệ đức tin, Thánh truyền và phụng vụ đích thực luôn luôn là noi gương Chúa Kitô vâng phục. Chúa không bao giờ truyền cho chúng ta phá vỡ sự hiệp nhất của Giáo hội”.
Đức Hồng y Sarah nhắc lại rằng Chúa Kitô và Giáo hội không thể tách rời. Ngài khởi đi từ lời tuyên xưng của Thánh Phêrô (Mt 16,16) và nhấn mạnh rằng: Chúa Giêsu Kitô là Đấng Cứu Độ duy nhất; Ngài hành động và mặc khải chính mình trong Giáo hội của Người; và sự viên mãn các phương thế cứu độ (đức tin, các bí tích, ân sủng) chỉ được tìm thấy trọn vẹn nơi Giáo hội. Ở đây, Đức Hồng y nhắc lại tư tưởng của Thánh Augustinô tiến sĩ: “Ở đâu có Phêrô, ở đó có Giáo hội” (Ubi Petrus, ibi Ecclesia).
Đức Hồng y Sarah nhấn mạnh rằng quyền tối thượng của Phêrô là bảo đảm cho sự hiệp nhất của Giáo hội, và Đức Giáo hoàng, với tư cách là Đấng kế vị Thánh Phêrô, là nền tảng hữu hình của sự hiệp nhất, là người bảo đảm Thánh truyền chân chính và là người gìn giữ kho tàng đức tin. Đức Hồng y cũng nhắc đến lời Chúa Giêsu trong Tin mừng theo thánh Matthêu (Mt 16,18), cũng như giáo huấn của Thánh Catarina thành Siena, người dù chỉ trích Hàng giáo sĩ vẫn khẳng định sự cần thiết tuyệt đối của việc vâng phục Đức Giáo hoàng, như đại diện của Chúa Kitô. Đức Hồng y Sarah nhìn nhận trong Giáo hội có những lạm dụng, sự mơ hồ về giáo lý và sự yếu đuối của các mục tử. Tuy nhiên, Đức Hồng y Sarah khẳng định rằng thiện ích các linh hồn (salus animarum) không thể đạt được qua những hành vi bất tuân phục, và việc bảo vệ Thánh truyền bằng cách hy sinh sự hiệp nhất với Đức Giáo hoàng có nguy cơ rơi vào chủ nghĩa chủ quan. Hơn nữa, việc cắt đứt dây liên kết giáo luật có thể dẫn đến nguy cơ ly giáo mới. Theo ngài, rời khỏi “con thuyền của Phêrô” là tự đặt mình trước cơn bão thiêng liêng.
Đức Hồng y Sarah nhắc đến gương Thánh Piô Pietrelcina, vị linh mục Dòng Capuchino được mang năm dấu thánh, và là người dù chịu những biện pháp kỷ luật bất công của giáo quyền bấy giờ, nhưng vẫn trung thành vâng phục Giáo hội. Đức Hồng y nhấn mạnh rằng sự thánh thiện phát sinh từ lòng vâng phục khiêm nhường, còn nổi loạn, dù được thúc đẩy do ý hướng tốt, có thể dẫn đến phân rẽ Thân Thể Chúa Kitô. Ngài khẳng định: không có sự bảo vệ đức tin đích thực nếu không hiệp nhất với Đấng kế vị Thánh Phêrô; không có Thánh truyền tách rời khỏi Thánh truyền sống động của Giáo hội; và không có ơn cứu độ ngoài Chúa Kitô đang hành động trong Giáo hội.
Sau cùng, Đức Hồng y Sarah viết: “Chúng ta có thể khẳng định rằng cách tốt nhất để bảo vệ đức tin, Thánh truyền và phụng vụ đích thực luôn luôn là noi gương Chúa Kitô vâng phục. Chúa Kitô sẽ không bao giờ truyền cho chúng ta phá vỡ sự hiệp nhất của Giáo hội”.
(Ekai.pl 23-2-2026)
Chủ tịch mãn nhiệm của Hội đồng Giám mục Đức, Đức cha Georg Bätzing (64 tuổi), Giám mục Giáo phận Limburg, không cho rằng người kế nhiệm mình có thể tạo ra sự đồng thuận hoàn toàn giữa các giám mục.
Phúc Nhạc | RVA
Phát biểu hôm thứ Hai ngày 23 tháng Hai vừa qua tại phiên khai mạc khóa họp mùa xuân của các giám mục Đức ở thành phố Würzburg, Đức cha nói: “Ước gì vị ấy có thể điều phối những khác biệt hiện xảy ra và những xung đột sẽ còn tiếp diễn, để chúng ta có thể hiểu nhau.” Ngài nói thêm: “Tôi không tin rằng trong tương lai gần, chúng ta sẽ đi cùng một hướng trong mọi vấn đề đặt ra.”
Theo chương trình, ngày 24 tháng Hai, các giám mục Đức bầu chủ tịch mới. Đức cha Bätzing - lãnh đạo Hội đồng trong sáu năm qua (2020) - đã tuyên bố không tái tranh cử. Đức cha nói: “Sáu năm, theo quan điểm của tôi, là quá dài.”
Một trong những nhiệm vụ của chủ tịch tương lai sẽ là vượt qua sự chia rẽ trong Hội đồng Giám mục liên quan đến dự án cải tổ “Con đường Công nghị” (Synodaler Weg). Bốn giám mục Koln, Regensburg, Passau và Eichstätt đã rút khỏi dự án, vốn bàn về việc dân chủ hóa Giáo hội, tăng cường vai trò phụ nữ và một nền luân lý tính dục mới.
Đức cha Bätzing trong những năm qua đã ủng hộ mạnh mẽ đường hướng cải tổ. Hôm 23 tháng Hai vừa qua, ngài kêu gọi các giám mục trong Hội đồng Giám mục tăng cường sự tham gia của giáo dân vào các quyết định quan trọng và nói: “Không ai có thể né tránh điều đó”. Ngài cũng nhấn mạnh rằng việc giám mục phải giải trình trước các giáo dân không phải là sáng kiến riêng của dự án cải tổ Đức, nhưng là điều phù hợp với định hướng của Giáo hội hoàn vũ. Tuy nhiên, ngài lưu ý: “Giám mục quyết định trong giáo phận của mình cùng với các cơ cấu Con đường Công nghị, và không ai có thể can thiệp từ bên ngoài.”
Tại kỳ họp toàn thể cuối cùng của Con đường Công nghị hồi cuối tháng Giêng vừa qua, tại Stuttgart, người ta đã quyết định thành lập một Hội đồng Con đường Công nghị: là cơ quan tư vấn và quyết định gồm giám mục và giáo dân để giám sát việc thực hiện các quyết nghị cải tổ trong các giáo phận.
Đức Hồng y Reinhard Marx, Tổng giám mục Giáo phận Munich, đã cảnh báo: “Tôi không muốn ai đó điều hành giáo phận của tôi từ bên ngoài.” Tại Würzburg, các giám mục cũng sẽ bàn về việc phê chuẩn quy chế của Hội nghị Con đường Công nghị dự kiến, cơ quan cấp liên bang dự kiến bắt đầu hoạt động vào tháng Mười Một năm nay.
Ngoài ra, Đức cha Bätzing cũng cảnh báo mạnh mẽ về đảng cực hữu AfD. Theo ngài, ai nghiên cứu chương trình tranh cử của đảng này sẽ hiểu điều gì có thể xảy ra cho xã hội nếu họ nắm quyền. Trung tâm dân chủ của đất nước phải liên kết để giải quyết các vấn đề lớn của thời đại. Nước Đức cần tiếp tục là một quốc gia pháp quyền, tự do, cởi mở với thế giới, liên đới và gắn bó vững chắc với châu Âu.
Đức cha cũng nhắc lại tuyên bố năm 2024 của Hội đồng Giám mục Đức: “Chủ nghĩa dân tộc sắc tộc và Kitô giáo là không thể dung hòa.” Tuy tuyên bố này đã tạo hiệu ứng, nhưng theo ngài, chỉ tuyên bố thôi thì không đủ. “Chúng ta phải khích lệ người dân đứng lên bảo vệ dân chủ và phẩm giá con người.”
Cá nhân ngài không ủng hộ việc cấm đảng cực hữu AfD; thay vào đó, các lực lượng dân chủ cần “chứng minh rằng đảng này là thừa thãi”, vì họ không đưa ra giải pháp thực sự mà chỉ là giải pháp bề ngoài và chỉ biết chỉ trích chứ không thể cầm quyền. Cấm đoán đơn thuần sẽ không làm biến mất các cử tri vốn cảm thấy đảng cực hữu AfD nói lên tâm tư của họ về những vấn đề đất nước.
Các giám mục tại Würzburg cũng thảo luận về việc xử lý các vụ lạm dụng tính dục, đối thoại giữa Kitô hữu và người Hồi giáo cùng nhiều chủ đề khác. Vào thứ Năm, ngày 26 tháng Hai, vị Chủ tịch mới sẽ công bố kết quả các cuộc thảo luận.
(Katholisch.de 23-2-2026)
Vatican News
“Hallow” là một ứng dụng Công giáo dành cho cầu nguyện, suy niệm, âm nhạc, Kinh Thánh và lời cầu nguyện cho giấc ngủ. “Hallow” đã có hơn một tỷ phút cầu nguyện, 18 triệu lượt tải xuống, 500 triệu lời cầu nguyện được thực hiện, 200.000 đánh giá năm sao và là ứng dụng Công giáo số 1 trên thế giới.
Đây là lần thứ hai “Hallow” đạt vị trí dẫn đầu, sau một đợt tăng trưởng tương tự năm 2024. Tuy nhiên, việc sự kiện năm nay trùng với ngày khai mạc Mùa Chay đã tạo nên ý nghĩa biểu tượng đặc biệt.
Alex Jones, người đồng sáng lập ứng dụng “Hallow”, nhấn mạnh rằng đây không chỉ là thành công thương mại mà còn là dấu chỉ cho thấy khát vọng tâm linh trong thời đại số.
Ra đời như một ứng dụng cầu nguyện và suy niệm, “Hallow” kết hợp yếu tố tĩnh tâm hiện đại với truyền thống chiêm niệm Công giáo. Ứng dụng hiện cung cấp hơn 10.000 nội dung âm thanh hướng dẫn, từ Kinh Mân Côi, suy niệm theo linh đạo Thánh Inhã, đến cầu nguyện trước khi ngủ và suy niệm Kinh Thánh. Nhiều gương mặt quen thuộc tham gia đọc nội dung như diễn viên Jonathan Roumie, linh mục Mike Schmitz, Giám mục Robert Barron và tài tử Mark Wahlberg.
Làn sóng tải xuống năm nay gắn liền với chương trình Mùa Chay “Pray40: The Return” (Cầu nguyện 40 ngày: Sự Trở Về), lấy cảm hứng từ tiểu thuyết “Anh em nhà Karamazov” của Fyodor Dostoevsky và tác phẩm tu đức cổ điển “Cuộc trở về của người con hoang đàng” của Cha Henri Nouwen. Chủ đề xoay quanh hành trình trở về – nối kết văn chương, dụ ngôn Kinh Thánh và sự hoán cải cá nhân.
Các ứng dụng tôn giáo không còn là những thứ xa lạ chỉ dành cho một nhóm nhỏ người dùng. Ứng dụng Kinh Thánh do YouVersion phát triển đã vượt qua một tỷ lượt tải xuống trên toàn cầu, chứng tỏ nhu cầu bền vững đối với các công cụ tôn giáo kỹ thuật số. Chương trình “Kinh Thánh trong một năm” của Cha Mike Schmitz vẫn là podcast tôn giáo thành công nhất trong lịch sử.
Thành công của “Hallow” không phủ nhận thực trạng thế tục hóa, nhưng cho thấy vào những thời điểm phụng vụ trọng đại, đức tin vẫn có thể tạo nên sức bật mạnh mẽ ngay giữa trung tâm thế giới kỹ thuật số.
Sự kiện này phản ánh xu hướng rộng lớn hơn: đời sống thiêng liêng ngày càng gắn với công nghệ. Nếu trước đây việc thực hành đức tin gắn với giáo xứ và sách kinh, thì nay điện thoại thông minh trở thành phương tiện cầu nguyện hằng ngày.
Svitlana Dukhovych
Suy tư về những năm đã trôi qua kể từ khi Nga tiến hành cuộc xâm lược toàn diện Ucraina vào năm 2022, một cuộc chiến “đáng lẽ không bao giờ nên bắt đầu”, ngài cho biết rằng mặc dù thảm kịch ngày càng trầm trọng, người dân Ucraina vẫn tiếp tục kháng cự và vẫn biết ơn sự liên đới quốc tế. Trong khi cảm ơn sự liên đới của Giáo hội hoàn vũ cũng như cộng đồng quốc tế, ngài kêu gọi mọi người hãy hứa với Thiên Chúa và với chính mình: xây dựng hòa bình. Mọi người phải thi hành bổn phận của mình, phải làm mọi điều có thể để ngăn chặn kẻ xâm lược. Và cuối cùng, ngài tiếp tục xin cầu nguyện cho Ucraina.
** Thưa Đức Tổng Giám mục, đã bốn năm trôi qua kể từ khi cuộc chiến tranh quy mô lớn tại Ucraina bắt đầu. Nhân dịp này, ngài muốn nói điều gì?
- Tôi muốn nói rằng đây là một ngày kỷ niệm đầy bi thảm. Không ai có thể tưởng tượng một cuộc chiến ở châu Âu lại kéo dài bốn năm. Và khi chúng ta nói bốn năm, chúng ta chỉ đang đề cập đến cuộc xâm lược quy mô lớn của Nga. Thực tế, chiến tranh đã bắt đầu từ năm 2014 với việc chiếm đóng Crimea và một phần miền đông Donbas.
Chúng tôi đang đối diện với một thảm kịch thực sự, và tình hình đã trở nên tồi tệ hơn trong những tháng gần đây. Con số thường dân thiệt mạng và bị thương tiếp tục gia tăng. Tôi có thể nói rằng ngay cả vào thời điểm đầu của cuộc xâm lược năm 2022, tình hình cũng không bi thảm như hiện nay, đặc biệt là trong mùa đông này, nhất là tại thủ đô của Ucraina.
** Những người sống gần nhà thờ chính tòa của ngài ở Kyiv, chẳng hạn, đang xoay xở ra sao? Giáo hội đang giúp đỡ để đối phó với những thách đố này như thế nào?
- Kyiv đang trải qua một thảm kịch thực sự, mà hiện nay một số người gọi là “Kholodomor”, từ tiếng Ucraina “kholod”, nghĩa là “lạnh”. Tất cả chúng ta đều quen thuộc với từ “Holodomor”, nghĩa là nạn diệt chủng thông qua nạn đói nhân tạo; nhưng giờ đây chúng tôi đang đối diện với một hình thức diệt chủng khác, gắn liền với cái lạnh mùa đông. Mùa đông này khắc nghiệt nhất trong một thập kỷ: nhiệt độ ở Kyiv đã giảm xuống âm hai mươi độ. Người Nga đang phá hủy cách có hệ thống cơ sở hạ tầng thiết yếu của các thành phố Ucraina, đặc biệt là thủ đô.
Kyiv, một trong những thủ đô lớn nhất châu Âu, có dân số gần bốn triệu người. Hệ thống sưởi ấm và điện được tập trung hóa: mỗi khu phố có nhà máy điện riêng cung cấp điện và nước nóng cho các tòa nhà. Khu phố của chúng tôi không có khí đốt: chúng tôi nấu ăn bằng điện, và điện cũng cần thiết để bơm nước uống lên các tòa nhà chín tầng hoặc hai mươi tầng. Mùa đông này, nhiều nhà máy điện được xây dựng từ thời Liên Xô, vì thế người Nga biết rõ, đã bị phá hủy. Khi nhiệt độ xuống dưới âm hai mươi độ, việc cung cấp điện và nước nóng không còn khả thi; các đường ống bị đóng băng và vỡ, và hệ thống vệ sinh cũng bị hư hại nghiêm trọng. Hãy tưởng tượng một tòa nhà với ba ngàn người: mọi thứ trong các căn hộ đều bị đóng băng, nhiệt độ bên trong chỉ cao hơn bên ngoài vài độ, và phòng tắm không thể sử dụng được. Nhiều người bị mắc kẹt trong nhà và không biết phải đi đâu.
Chúng tôi đối phó thế nào? Các Trung tâm Đối phó được thiết lập trước những tòa nhà lớn: những chiếc lều được sưởi ấm bằng máy phát điện, nơi mọi người có thể sạc thiết bị của mình, uống trà nóng, ở bên nhau và sưởi ấm. Một số người qua đêm tại đó. Các trường học và nhà trẻ cũng được điều chỉnh để cung cấp nơi trú ẩn.
Chúng tôi đã mở một Trung tâm Đối phó trong khu trú ẩn ở tầng hầm của nhà thờ chính tòa. Máy phát điện của chúng tôi chạy gần hai mươi giờ mỗi ngày, vì chúng tôi chỉ nhận được điện từ lưới điện thành phố trong hai hoặc ba giờ. Nhiều người ngủ ở đó và thực sự sinh sống tại đó: chúng tôi phải cung cấp mọi thứ, vì họ không thể trở về nhà của mình.
Thị trưởng Kyiv đã mời những ai có thể thì tạm thời rời khỏi thành phố; ước tính gần nửa triệu người đã rời đi. Tuy nhiên, nhiều người vẫn ở lại vì họ đang làm việc hoặc không có lựa chọn nào khác. Trường học, đại học, siêu thị, bệnh viện và nhà thuốc vẫn mở cửa, nhưng vấn đề lớn vẫn là sự vận hành của cơ sở hạ tầng thiết yếu. Và sự phá hủy có hệ thống này vẫn tiếp diễn: các máy bay không người lái bay qua thành phố, xác định những nhà máy điện còn hoạt động, rồi bằng tên lửa và các cuộc tấn công có mục tiêu, chúng bị đánh trúng. Tóm lại, đó là tình hình mà chúng tôi đang trải qua.
** Kể từ khi cuộc chiến tranh quy mô lớn bắt đầu, Giáo hội tại Ucraina luôn đứng về phía người dân. Trong suốt bốn năm qua, có thể phân biệt nhiều giai đoạn của sự dấn thân này. Ngài mô tả giai đoạn hiện tại, được đặc trưng bởi sự mệt mỏi của dân chúng, như thế nào? Và ngày nay Giáo hội tiếp tục nâng đỡ và đồng hành với người dân ra sao?
- Tất cả chúng tôi đều cùng một dân tộc và chúng tôi cùng nhau chịu đau khổ. Tôi là một công dân của Kyiv; cái lạnh không hỏi: “Bạn là linh mục hay giám mục?” hoặc “Bạn thuộc về Giáo hội nào? Bạn cầu nguyện với Thiên Chúa thế nào?” Trước thảm kịch này, tất cả chúng tôi đều bình đẳng. Chúng tôi cố gắng hiệp nhất, giúp đỡ lẫn nhau và cũng tìm ra ý nghĩa Kitô giáo: làm thế nào để sống như những người Kitô hữu trong những điều kiện này.
Hiện tại có một số nét đặc thù. Khi chính quyền ra lệnh di tản bắt buộc khỏi các vùng chiến sự, người dân muốn chuyển đến những thành phố lớn gần nhất, như Kharkiv, Chernihiv hoặc Sumy. Rõ ràng một trong những mục tiêu của các cuộc oanh kích chính là làm nản lòng dân chúng, buộc họ rời bỏ nhà cửa. Một số nhà phân tích cho rằng mục đích là tạo ra một vùng đệm không có dân thường để tạo điều kiện cho các hoạt động quân sự. Nhưng người dân vẫn ở lại, không rời đi, và chúng tôi cố gắng đưa viện trợ đến những nơi có cả trẻ em và người cao tuổi. Có lẽ kẻ thù đã mong đợi người Ucraina sẽ bỏ chạy, nhưng điều đó không xảy ra.
Một quan sát khác từ Kyiv là không có cảm giác mệt mỏi dẫn đến tuyệt vọng hay cam chịu: trái lại, với những cuộc tấn công bằng tên lửa liên tục này, ý chí kháng cự đang gia tăng. Tôi không thể giải thích hiện tượng này, nhưng tôi có thể kể lại một câu chuyện xảy ra trong nhà thờ chính tòa của tôi. Một cậu bé năm tuổi, luôn tham dự phụng vụ, đã trả lời như sau khi tôi hỏi ở nhà em có lạnh không: “Nếu con có thể đánh bại cái lạnh, thì Ucraina cũng sẽ chiến thắng”. Rõ ràng là nhà em rất lạnh vì em mặc quần áo dày cộm, nhưng bất chấp mọi sự, em cảm thấy mình như một anh hùng. Đối với tôi, đó không chỉ là tiếng nói của gia đình ấy, mà của cả dân tộc. Trong các Trung tâm Đối phó, người ta mỉm cười và ca hát; trong các sân chung cư và trước những tòa nhà bị đóng băng, họ chơi nhạc và nhảy múa. Điều đó khiến ngay cả chúng tôi cũng kinh ngạc.
Nhưng dĩ nhiên, nỗi đau đang gia tăng, với rất nhiều người chết và bị thương. Theo Phái bộ Nhân quyền Liên Hiệp Quốc tại Ucraina, năm 2025 là năm chết chóc nhiều nhất đối với dân thường kể từ khi cuộc xâm lược bắt đầu. Số dân thường thiệt mạng và bị thương tăng 31% so với năm 2024 và tăng 70% so với năm 2023. Càng có nhiều cuộc nói chuyện về các thỏa thuận hòa bình, thì càng có nhiều máu đổ trên đất Ucraina. Trong khi những người quyền lực trên thế giới gặp nhau để bàn xem nên gây thêm áp lực lên ai, thì người dân phải chịu đau khổ. Đó là thực tế mà chúng tôi phải đối diện và đồng hành.
Tôi cũng phải nói rằng nỗi sợ của người dân trong các cuộc oanh kích đang giảm dần: họ đang dần quen với điều đó, và điều này rất nguy hiểm vì đôi khi chúng ta đánh mất sự nhạy cảm trước nỗi đau của người khác. Vì thế, Giáo hội phải luôn nuôi dưỡng nơi con người ý thức tôn giáo về sự tôn trọng đối với đau khổ của con người, bởi chúng ta biết rằng trong mỗi nỗi đau đều có chính nỗi đau của Đức Kitô.
** Có lẽ các linh mục và tu sĩ tiếp tục cảm nhận sự đồng cảm sâu sắc, phần nào bởi vì chính họ cũng đã trải qua tang tóc trong gia đình mình…
- Dĩ nhiên, không có gia đình nào ở Ucraina mà không từng trải qua đau thương hoặc tang tóc vì mất đi một người anh, người chị, cha mẹ hoặc con cái đã bị thiệt mạng hay bị thương. Kể từ Thượng Hội đồng Giám mục, chúng tôi đã khởi xướng một chương trình hỗ trợ dành cho các linh mục và những người sống đời thánh hiến của chúng tôi. Chúng tôi đã thực hiện một bảng câu hỏi để hiểu xem họ đang sống thế nào. Điều thú vị là đại đa số nói rằng họ không muốn nghỉ phép hay nghỉ ngơi. Ban đầu tôi nghĩ: “Thật đáng khâm phục!” Nhưng các nhà tâm lý trị liệu giải thích với chúng tôi rằng đó là một dấu hiệu của sang chấn: về mặt tâm lý, họ không thể rời khỏi giáo xứ hoặc cộng đoàn vì họ sợ rằng điều gì đó nghiêm trọng có thể xảy ra tại nhà hoặc nhà thờ của họ trong thời gian họ vắng mặt.
Đối với tôi cũng vậy, thật khó để rời khỏi Ucraina: tôi liên tục nhận được tin tức về những biến cố mới nhất ở Kyiv. Một nhà tâm lý trị liệu đã nói với tôi: “Khi Kyiv bị oanh kích, ngài có đau khổ dù đang ở Roma không? Đó là một dấu hiệu của sang chấn.”
Vì thế, chúng tôi đồng hành với các linh mục của mình qua một chương trình “chữa lành các vết thương”: những người đã trải qua và vượt qua đau khổ của chính mình, trở thành “những người chữa lành mang thương tích”, có khả năng thấu hiểu những ai đang đau khổ và hướng dẫn họ tiến tới sự chữa lành, bao gồm cả sự chữa lành về tâm lý và tinh thần.
Sức khỏe tinh thần và thiêng liêng là trung tâm trong sự dấn thân của chúng tôi. Chúng tôi đang tích lũy một kinh nghiệm mà trước đây chưa từng có, kinh nghiệm này có thể trở thành một kho tàng cho các Giáo hội khác chưa từng trải qua một thảm kịch tương tự, để giúp con người đến gần Thiên Chúa hơn, đến gần Đức Kitô, nguồn ơn cứu độ và chữa lành, không chỉ về mặt thiêng liêng mà còn cả về tâm lý và thể lý.
** Trong bốn năm qua, Giáo hội tại Ucraina đã có thể cảm nghiệm sự liên đới của Giáo hội hoàn vũ theo nhiều cách khác nhau. Ngài có muốn chia sẻ với chúng tôi một vài ví dụ cụ thể về sự gần gũi này không?
- Trong suốt bốn năm qua, chúng tôi đã nhận được rất nhiều sự liên đới từ toàn thể Giáo hội hoàn vũ, được thúc đẩy trước hết bởi Đức Thánh Cha – trước tiên là Đức Giáo hoàng Phanxicô đáng kính, và nay là Đức Giáo hoàng Lêô. Chúng tôi thực sự biết ơn Đức Thánh Cha và tất cả anh chị em của chúng tôi trong Đức Kitô, cũng như mọi người thiện chí đã bày tỏ sự gần gũi của mình.
Sự liên đới này có lúc thăng lúc trầm. Tôi nhớ những ngày đầu của cuộc chiến, khi viện trợ nhân đạo đến với số lượng lớn từ nhiều quốc gia châu Âu và trên khắp thế giới. Tuy nhiên, năm ngoái, vào năm 2025, viện trợ hầu như đã biến mất. Ngày càng khó để được phê duyệt các dự án nhằm hỗ trợ những người không có phương tiện để sinh tồn. Vào đầu năm 2025, ước tính có khoảng năm triệu người ở Ucraina rơi vào tình trạng mất an ninh lương thực, nhưng chỉ 2,5 triệu người có thể nhận được hỗ trợ. Mùa đông này, bi thảm vì cái lạnh và những khó khăn, những hình ảnh về người dân đau khổ nhưng vẫn cố gắng kháng cự đã khơi dậy lại làn sóng liên đới quốc tế, gợi nhớ đến tháng Hai–tháng Ba năm 2022.
Tôi muốn kể lại một sự kiện cụ thể. Sau mỗi đợt oanh kích ở Kyiv, tôi thường chia sẻ thông tin cập nhật với bạn bè. Tôi đã gửi cho khoảng mười hai người một bức ảnh về hậu quả của một cuộc tấn công kèm theo một lời bình ngắn: “Chúng tôi đã sống sót qua một đêm địa ngục nữa ở Kyiv. Nhiệt độ âm hai mươi độ. Cuộc đấu tranh cho sự sống, cho nhân tính và cho tình liên đới vẫn tiếp tục.” Trong số những người nhận có Đức Hồng y Grzegorz Ryś, Tổng Giám mục Krakow, người đã lập tức bày tỏ sự liên đới. Chúa Nhật kế đó, ngài thông báo một cuộc quyên góp cho Kyiv, công khai thông điệp của tôi. Ba ngày sau, ngài viết cho chúng tôi rằng một triệu zloty [khoảng 235.000 euro] đã được chuyển vào tài khoản Caritas. Bốn ngày sau, những chiếc xe tải đầu tiên chở máy phát điện đã lên đường đến Kyiv. Bình luận về cử chỉ này, tôi đã nhắc lại câu châm ngôn Latinh “Bis dat qui cito dat” – “Ai cho nhanh là cho gấp đôi.” Thật vậy, những máy phát điện ấy vô cùng cấp thiết để cứu các sinh mạng.
Tính tự phát của sự liên đới này cũng được Đức Thánh Cha ghi nhận, và ngài đã cảm ơn những ai đã hành động ngay lập tức để giúp đỡ. Sau đó, Hội đồng Giám mục Ba Lan và các Giáo hội châu Âu khác, đặc biệt là Hội đồng Giám mục Ý thông qua Caritas, cũng đã thúc đẩy các cuộc quyên góp viện trợ nhân đạo và đóng góp phần của mình.
Ngày nay, chúng tôi đang trải nghiệm một làn sóng liên đới vượt ra ngoài sự hỗ trợ tài chính: điều quan trọng đối với chúng tôi là tất cả các giáo xứ châu Âu nói về nỗi đau khổ của Kyiv, bởi vì ký ức và lời cầu nguyện Kitô giáo đã có thể đánh động lương tâm và con tim. Chúng tôi hết lòng biết ơn tất cả những ai đã góp phần cứu sống các sinh mạng tại Ucraina.
** Thưa Đức Tổng Giám mục, trong dịp kỷ niệm bốn năm này, ngài muốn gửi thông điệp gì đến cộng đồng quốc tế và các tín hữu trên toàn thế giới?
- Tôi nghĩ rằng kỷ niệm bốn năm của cuộc chiến này là một nỗi ô nhục cho nhân loại. Thật đáng xấu hổ khi trong bốn năm, cộng đồng quốc tế đã không thể ngăn chặn bàn tay chết chóc của kẻ xâm lược. Một số sử gia nhận xét rằng Chiến tranh Thế giới thứ Hai trên chính vùng đất của chúng tôi còn kéo dài ngắn hơn cuộc xâm lược hiện nay của Nga chống lại Ucraina. Đó là điều lẽ ra không bao giờ nên bắt đầu và giờ đây phải chấm dứt.
Vì thế, trong ngày kỷ niệm buồn này, tôi kêu gọi mọi người hãy hứa với Thiên Chúa và với chính mình: xây dựng hòa bình. Các chính trị gia phải làm bổn phận của họ. Những người của Giáo hội và các nhà ngoại giao, kể cả các nhà ngoại giao Kitô giáo, phải làm phần việc của mình. Quân đội, các tình nguyện viên: tất cả đều được mời gọi thực hiện phần trách nhiệm của mình. Chúng ta phải làm mọi điều có thể để ngăn chặn kẻ xâm lược. Rồi một thời điểm khác sẽ đến: thời điểm chữa lành những tổn thương và tái thiết những gì chiến tranh đã phá hủy. Nhưng đó sẽ là một câu chuyện khác. Orate pro nobis. Xin cầu nguyện cho chúng tôi.
Vatican News
Quyết định tiến hành các lễ tấn phong giám mục mà không có sự chấp thuận của Đức Thánh Cha đã được xác nhận trong lá thư đề ngày 18/2 của linh mục Davide Pagliarani, Bề trên Tổng quyền Huynh đoàn Thánh Piô X, gửi Đức Hồng y Víctor Manuel Fernández, Tổng trưởng Bộ Giáo lý Đức tin. Trong thư, Huynh đoàn cho biết không thể chấp nhận “quan điểm và mục tiêu” đối thoại mà Bộ đề xuất, đồng thời khẳng định việc tấn phong sẽ “cấu thành một sự đoạn tuyệt hiệp thông” với Giáo hội.
Tuy nhiên, Đức Hồng y Gerhard Müller, nguyên Tổng trưởng Bộ Giáo lý Đức tin giai đoạn 2012–2017, đã ra tuyên bố ngày 21/2 nhấn mạnh rằng những “nhạy cảm cá nhân” phải được đặt sang một bên vì sự hiệp nhất của Giáo hội. Ngài khẳng định “Nếu Huynh đoàn Piô X muốn có tác động tích cực đến lịch sử Giáo hội, thì không thể đấu tranh cho đức tin chân chính từ xa, từ bên ngoài, chống lại Giáo hội hiệp nhất với Đức Giáo hoàng”. Theo ngài, việc nhìn nhận thẩm quyền của Đức Giáo hoàng “không chỉ trên lý thuyết mà còn trên thực tiễn”. Ngài nói rằng Huynh đoàn phải tuân phục thẩm quyền giảng dạy của Giáo hội “vô điều kiện”.
Đức Hồng y Müller nhận định: “Không một người Công giáo chính thống nào có thể viện dẫn lý do lương tâm nếu họ rút khỏi thẩm quyền chính thức của Đức Giáo hoàng về sự hiệp nhất hữu hình của Giáo hội bí tích để thiết lập một cơ chế Giáo hội không hiệp thông trọn vẹn với ngài.”
Cùng quan điểm, Đức Hồng y Robert Sarah, Tổng trưởng Bộ Phụng tự và Kỷ luật các Bí tích từ năm 2014 đến năm 2021, bày tỏ “lo âu và đau buồn sâu sắc” trong bài viết đăng ngày 22/2. Ngài đặt câu hỏi: “Phải chăng việc mong muốn ơn cứu rỗi linh hồn lại dẫn đến việc xé nát thân thể huyền nhiệm của Chúa Kitô theo cách không thể đảo ngược? Có bao nhiêu linh hồn đang gặp nguy hiểm vì sự chia rẽ mới này?”. Đức Hồng y kêu gọi Huynh đoàn hiệp nhất với Giáo hội được trao phó cho Thánh Phêrô và các đấng kế vị.
Đức Hồng y Sarah viết: “Liệu chúng ta có thể thực sự hành động mà không noi theo Chúa Kitô trong sự khiêm nhường của Người đến thập giá không? Đó chẳng phải là sự phản bội truyền thống khi nương náu vào những phương tiện của con người [và] duy trì những việc làm của chúng ta, dù chúng có tốt đến đâu?”.
Ngày 1/7 được Huynh đoàn Thánh Piô chọn tấn phong giám mục trùng với dịp kỷ niệm sự kiện năm 1988, khi Tổng Giám mục Marcel Lefebvre bị tuyệt thông vì tự ý truyền chức cho bốn giám mục mà không có phép của Tòa Thánh.
Vatican News
Phông chữ Michelangelus sẽ được tích hợp vào các phiên bản mới nhất của bộ ứng dụng Office, cho phép tái hiện trung thực những nét chữ thanh thoát, kéo dài và giàu cá tính của tác giả mái vòm nổi tiếng của Đền thờ Thánh Phêrô. Theo giới thiệu, không chỉ bảng chữ cái mà cả các con số do chính Michelangelo từng viết tay cũng được phân tích và phục dựng tỉ mỉ, đến mức “mỗi con số giống như một tác phẩm nghệ thuật”.
Dự án là kết quả hợp tác giữa Microsoft và Cơ quan Bảo trì Đền thờ Thánh Phêrô. Trước đó, hai bên đã phối hợp trong nhiều sáng kiến nhằm ứng dụng công nghệ vào việc gìn giữ di sản văn hóa và tôn giáo của Vatican.
Để phát triển phông chữ này, các kỹ sư và chuyên gia đã nghiên cứu kỹ lưỡng những tài liệu lưu trữ tại Vatican, bao gồm thư từ, ghi chú cá nhân và các bản vẽ kỹ thuật do chính Michelangelo chấp bút khi công trình vẫn đang được xây dựng. Quá trình số hóa dựa trên một nghiên cứu cổ tự học chuyên sâu, nhằm đảm bảo từng chi tiết nhỏ nhất của nét chữ được chuyển thể chính xác sang môi trường kỹ thuật số.
Phát biểu trong buổi giới thiệu các hoạt động kỷ niệm 400 năm cung hiến đền thờ Thánh Phêrô, vào năm 1626 bởi Đức Giáo hoàng Urbano VIII, Đức Hồng y Mauro Gambetti, Giám quản Đền thờ Thánh Phêrô, nhấn mạnh rằng với phông chữ Michelangelus, “chữ viết của thiên tài Phục Hưng đã thích nghi với kỷ nguyên số”.
Sáng kiến này không chỉ là một bước tiến công nghệ, mà còn là minh chứng cho cách di sản nghệ thuật có thể được tái sinh trong thế giới hiện đại, kết nối quá khứ huy hoàng với đời sống kỹ thuật số hôm nay.
Vatican News
Theo văn bản bài phát biểu được Hội đồng Giám mục Đức công bố, Sứ thần Tòa Thánh tại Đức khẳng định bác ái phải thấm nhuần mọi chiều kích của đời sống Kitô hữu, bắt đầu từ các mối tương quan giữa những thành viên trong Giáo hội Công giáo. “Bác ái không đòi hỏi sự đồng nhất trong suy nghĩ và hành động, nhưng đòi hỏi sự hiệp nhất trong tính đa dạng chính đáng: của thần học, linh đạo, nghi lễ phụng vụ và kinh nghiệm mục vụ,” ngài nói.
Để minh họa, Đức Tổng Giám mục Eterović nhắc đến nhân vật gây tranh cãi là Tổng Giám mục Marcantonio de Dominis (1560–1624). Theo ngài, trường hợp này cho thấy những ý hướng cải cách tốt đẹp, thậm chí những công thức thần học tự chúng là đúng đắn, đôi khi vẫn có thể dẫn đến chia rẽ và thậm chí ly giáo nếu thiếu nền tảng hiệp thông. Đức Sứ thần nhấn mạnh rằng để tránh hậu quả bi thảm ấy, cần sống các nhân đức đối thần – tin, cậy, mến – trong sự gắn bó vững chắc với Giáo hội “duy nhất, thánh thiện, công giáo và tông truyền”, dưới sự bảo đảm hiệp nhất của Đức Giáo hoàng.
Ngài cũng trích dẫn châm ngôn Latinh nổi tiếng: “In necessariis unitas, in dubiis libertas, in omnibus caritas” (Trong những điều thiết yếu, phải hiệp nhất; trong những điều còn nghi vấn, được tự do; nhưng trong mọi sự, phải có bác ái).
Phần lớn bài phát biểu của Đức Sứ thần tại Đức tập trung vào khía cạnh mục vụ hơn là chính trị Giáo hội. Ngài nhấn mạnh rằng bác ái không phải là suy tư lý thuyết, nhưng là thái độ cụ thể của môn đệ Đức Kitô, thể hiện qua việc phục vụ người nghèo, bệnh nhân, tù nhân, người di dân và những ai bị bách hại. Trong bối cảnh thế giới đối diện nhiều khủng hoảng xã hội và nhân đạo, ngài mời gọi các giám mục noi gương Người Samari nhân hậu.
Trong những năm gần đây, vị Sứ thần này đã nhiều lần sử dụng lời chào của mình tại các phiên họp toàn thể của Hội đồng Giám mục Đức để kêu gọi lương tâm của các giám mục Đức trước những nỗ lực cải cách của Con đường Công nghị.
Bishop Erik Varden, OCSO
Khái niệm “tự do” đã trở thành một vấn đề gây tranh cãi trong diễn ngôn công cộng. Tự do là một điều thiện mà tất cả chúng ta đều khao khát; chúng ta phản kháng trước bất cứ điều gì đe dọa thu hẹp hay giam hãm tự do của mình. Vì thế, ngôn ngữ về tự do trở thành một công cụ hùng biện hữu hiệu.
Chỉ cần gợi ý rằng tự do của một nhóm nào đó đang bị đe dọa cũng đủ để khơi dậy làn sóng phẫn nộ tức thì trên mạng. Thậm chí, điều đó có thể thúc đẩy người ta đi đến quảng trường.
Nhiều phong trào chính trị tại châu Âu hiện nay khai thác thuật ngữ tự do. Hệ quả là nảy sinh căng thẳng. Điều mà một bộ phận xã hội xem là “giải phóng” lại bị những người khác coi là áp bức. Các chiến tuyến đối lập được dựng lên, với ngọn cờ “tự do” được giương cao ở mọi phía. Những xung đột cay đắng phát sinh từ các chương trình nghị sự giải phóng vốn không tương thích với nhau.
Tình trạng này đặt ra một thách đố cho Kitô hữu. Điều thiết yếu là phải xác định rõ chúng ta muốn nói gì, trong bối cảnh đức tin, khi chúng ta nói đến việc trở nên tự do. Đó cũng là điều thánh Bênađô thực hiện khi chú giải câu: “Vì Người đã giải thoát tôi khỏi lưới thợ săn và khỏi lời cay nghiệt.”
Đối với Thánh Bênađô, rõ ràng tự do đích thực không phải là điều “tự nhiên” nơi con người sa ngã. Điều có vẻ tự nhiên với chúng ta là muốn mọi sự theo ý mình, thỏa mãn ham muốn và thực hiện kế hoạch mà không bị cản trở, phô bày và được ca tụng vì ánh sáng rực rỡ của riêng mình. Nói với con người trong tình trạng ảo tưởng này, Thánh Bênađô mỉa mai một cách thú vị: “Ngươi tưởng mình là ai, hỡi kẻ nông cạn? Ngươi đã trở thành con thú mà người ta giăng bẫy để bắt.”
Việc chúng ta dễ dàng sa ngã, liên tục rơi vào những cạm bẫy cũ rích, dù biết rõ chúng ở đâu, đối với ngài, là bằng chứng đủ cho thấy chúng ta không tự do, không thể tự mình tiến vững chắc đến mục đích đích thực của đời mình, thay vào đó lại bị cuốn vào đủ loại trở ngại và sự xao nhãng.
Khi đặt nền tảng sự hiểu biết của ngài về tự do nơi tiếng “Xin vâng” của Người Con trước thánh ý Chúa Cha, Thánh Bênađô thực hiện một cuộc cách mạng trong cách ta hiểu thế nào là tự do. Tự do Kitô giáo không phải là chiếm lấy thế giới bằng sức mạnh; nhưng là yêu thế giới bằng tình yêu chịu đóng đinh, quảng đại đến mức khiến ta tự do ước muốn, nên một với Đức Kitô, hiến dâng mạng sống mình cho thế giới, để thế giới được giải thoát.
Cần thận trọng khi tự do – bị bắt làm con tin bởi quyền lực – bị thao túng nhằm hợp thức hóa hành động của những chủ thể vô danh như “Đảng phái”, “Nền kinh tế”, hay thậm chí “Lịch sử”. Theo lối tư duy Kitô giáo, không một chính sách áp bức nào có thể được cứu vãn nhờ viện dẫn “tự do” ý thức hệ. Tự do đích thực chỉ có ý nghĩa khi mang tính cá vị; và tự do của người này không thể hủy bỏ tự do của người khác.
Đón nhận quan niệm tự do Kitô giáo đồng nghĩa với chấp nhận đau khổ. Khi Đức Kitô nói: “Đừng chống lại điều ác”, Người không yêu cầu chúng ta dung túng bất công. Người cho ta thấy rằng đôi khi chính nghĩa được phục vụ tốt nhất bằng việc chịu đau khổ vì nó, và từ chối đáp trả bạo lực bằng bạo lực.
Biểu tượng của tự do đối với chúng ta vẫn là Con Thiên Chúa, Đấng “đã tự hủy mình ra không”.
