Tin Giáo Hội Hoàn Vũ
Tin Giáo Hội Hoàn Vũ
Trước phản ứng của dư luận quốc tế, Thủ tướng Israel Benjamin Netanyahu đã lên án hành động này “một cách mạnh mẽ nhất”.
Phúc Nhạc | RVA
Điều tra hình sự
Ban đầu có nghi ngờ về danh tính binh sĩ, nhưng sau đó đã được xác nhận là thuộc lực lượng Israel. Quân đội Israel tuyên bố đang điều tra vụ việc “với mức độ nghiêm khắc cao nhất”, trong khi Ngoại trưởng Gideon Sa’ar gọi hành vi này là “đáng xấu hổ”.
Thủ tướng Netanyahu cũng lên án vụ việc “một cách mạnh mẽ nhất”. Ông viết trên mạng xã hội X rằng ông “bị sốc và đau buồn như phần lớn người dân Israel khi biết một binh sĩ đã phá hoại biểu tượng tôn giáo Công giáo tại miền nam Liban”.
Ông khẳng định quân đội đang tiến hành điều tra hình sự và sẽ áp dụng các biện pháp kỷ luật nghiêm khắc.
Yêu cầu trừng phạt nghiêm khắc
Ông Netanyahu xin lỗi về vụ việc và nỗi đau gây ra cho các tín hữu tại Liban và trên toàn thế giới.
Quân đội Israel nhấn mạnh hành vi của binh sĩ “hoàn toàn không phù hợp với các giá trị của lực lượng”, đồng thời cho biết các binh sĩ khác đã cố gắng hỗ trợ cộng đồng khôi phục lại tượng.
Đại sứ Mỹ tại Israel Mike Huckabee cũng lên tiếng trên X, cho rằng cần “các biện pháp trừng phạt nhanh chóng, nghiêm khắc và công khai”.
[Tông du Guinea Xích Đạo] Đức Thánh Cha Lêô XIV gặp gỡ Chính quyền, Xã hội dân sự và Ngoại giao đoàn
Vatican News
Sáng sớm ngày 21/04, sau khi cử hành Thánh lễ riêng và từ biệt Tòa Sứ thần Tòa Thánh tại Angola, Đức Thánh Cha đã di chuyển tới Sân bay Quốc tế Luanda. Tại đây, Tổng thống João M. G. Lourenço đã chủ trì nghi thức tiễn biệt trang trọng trước khi Ngài lên chuyên cơ ITA A330-900neo khởi hành đi Guinea Xích Đạo.
Hành trình dài 1.564 km với hơn 2 giờ bay, ngang qua không phận các nước Cộng hoà Dân chủ Congo, Gabon và Camerun trước khi hạ cánh xuống Sân bay Quốc tế Malabo của Guinea Xích Đạo vào lúc 11:45. Tổng thống Teodoro O. N. Mbasogo và phu nhân đã nồng nhiệt chào đón Đức Thánh Cha trong nghi thức tiếp đón trang trọng với 21 phát đại bác chào mừng, duyệt đội danh dự cùng màn tặng hoa từ hai trẻ em trong trang phục truyền thống.
Sau đó, Đức Thánh Cha đã đến Dinh Tổng thống để thăm hữu nghị Ngài Teodoro O. N. Mbasogo – nhà lãnh đạo tại vị lâu nhất châu Phi với hơn 46 năm cầm quyền kể từ năm 1979. Tại đây, Đức Thánh Cha đã có cuộc gặp gỡ quan trọng với giới chức chính quyền, đại diện xã hội dân sự và ngoại giao đoàn.
Trong bài diễn văn của mình, Đức Thánh Cha nói:
Thưa Ngài Tổng thống,
các Cấp Chính quyền và các thành viên Ngoại giao đoàn cùng tất cả quý vị!
Tôi gửi lời chào nồng nhiệt đến quý vị, với lòng biết ơn về sự đón tiếp và những lời tốt đẹp đã dành cho tôi. Tôi rất hạnh phúc khi được hiện diện nơi đây để thăm viếng người dân Guinea Xích Đạo yêu dấu. Thưa Ngài Tổng thống, khi đến thăm đất nước này, Đức Thánh Giáo hoàng Gioan Phaolô II đã định nghĩa con người của Ngài là “trung tâm biểu tượng quy tụ những khát vọng mãnh liệt của một dân tộc nhằm thiết lập một bầu khí xã hội của tự do đích thực, công lý, tôn trọng và thúc đẩy quyền lợi của mỗi cá nhân hay nhóm người, cũng như những điều kiện sống tốt đẹp hơn, cho phép tất cả mọi người được hoàn thiện bản thân với tư cách là con người và là con cái Thiên Chúa” (Thánh Gioan Phaolô II, Diễn văn gửi Tổng thống Guinea Xích Đạo, Malabo). Đó là những lời vẫn luôn mang tính thời sự và là lời chất vấn bất kỳ ai đang đảm đương trách nhiệm công vụ.
Mặt khác, “vui mừng và hy vọng, ưu sầu và lo âu của con người ngày nay, nhất là của những người nghèo và những ai đang đau khổ, cũng chính là vui mừng và hy vọng, ưu sầu và lo âu của các môn đệ Chúa Kitô, và không có gì thực sự là của con người mà không tìm thấy tiếng vang trong tâm hồn họ” (Hiến chế Mục vụ Gaudium et spes, 1). Những diễn đạt này từ Hiến chế Gaudium et spes của Công đồng Vaticanô II thể hiện rõ nhất những lý do và tình cảm đã đưa tôi đến với quý vị, để củng cố đức tin và an ủi người dân của đất nước đang chuyển mình nhanh chóng này. Bởi lẽ, cũng như trong trái tim Thiên Chúa, tiếng vang của những gì đang diễn ra dưới trần gian này, giữa hàng triệu người nam và người nữ mà Chúa Giêsu Kitô Chúa chúng ta đã hiến dâng mạng sống, cũng vang vọng trong trái tim của Giáo hội.
Quý vị biết rằng Thánh Augustinô đã nhìn nhận các sự kiện và lịch sử theo mô hình của hai thành đô: thành đô Thiên Chúa, vĩnh cửu, đặc trưng bởi tình yêu vô điều kiện của Người, hiệp nhất với tình yêu tha nhân, đặc biệt là người nghèo; và thành đô trần thế, nơi trú ngụ tạm thời, nơi con người sinh sống cho đến khi qua đời. Trong viễn cảnh này, hai thành đô tồn tại song hành cho đến tận thế (x. De civitate Dei, 19,14) và mỗi con người, qua những quyết định hằng ngày của mình, sẽ thể hiện mình muốn thuộc về thành đô nào.
Tôi được biết quý vị đã thực hiện dự án đồ sộ là xây dựng một thành phố, mà từ vài tháng nay đã trở thành thủ đô mới của đất nước. Quý vị đã muốn đặt cho nó một cái tên dường như vang vọng tên của thành Giê-ru-sa-lem trong Kinh Thánh: Ciudad de la Paz (Thành phố của Hòa bình). Mong sao một quyết định như thế sẽ chất vấn mọi lương tâm về việc họ muốn phụng sự thành đô nào! Như tôi đã có dịp nói với Ngoại giao đoàn cạnh Tòa Thánh, theo vị đại giáo phụ Augustinô, thành đô trần thế tập trung vào tình yêu vị kỷ đầy kiêu ngạo, vào sự khao khát quyền lực và vinh quang trần thế dẫn đến sự hủy diệt.
Ngược lại, thánh Augustinô cho rằng các Kitô hữu được Thiên Chúa kêu gọi sống trong thành đô trần thế với trái tim và tâm trí hướng về thành đô trên trời, quê hương đích thực của họ. Đó là thành phố mà Tổ phụ Áp-ra-ham “nhờ đức tin, ông Áp-ra-ham đã vâng nghe tiếng Chúa gọi mà ra đi đến một nơi ông sẽ được lãnh nhận làm gia nghiệp, và ông đã ra đi mà không biết mình đi đâu. Nhờ đức tin, ông đã tới cư ngụ tại Đất Hứa như tại một nơi đất khách, ông sống trong lều cũng như ông I-xa-ác và ông Gia-cóp là những người đồng thừa kế cùng một lời hứa, vì ông trông đợi một thành có nền móng do chính Thiên Chúa vẽ mẫu và xây dựng” (Dt 11,8-10). Mỗi con người đều có thể thấu hiểu được nhận thức có từ xa xưa về việc sống trên trần gian như khách lữ hành. Điều căn bản là phải nhận thấy sự khác biệt giữa những gì bền vững và những gì chóng qua, giữ cho mình tự do khỏi sự giàu sang bất chính và ảo tưởng về sự thống trị. Đặc biệt, “người Kitô hữu, khi sống trong thành đô trần thế, không xa lạ với thế giới chính trị, và nỗ lực áp dụng đạo đức Kitô giáo, được linh hứng từ Kinh Thánh, vào việc quản trị dân sự. Thành đô Thiên Chúa không đề xuất một chương trình chính trị nhưng mang lại những suy tư quý giá về những vấn đề căn bản của đời sống xã hội và chính trị” (Diễn văn gửi Ngoại giao đoàn, ngày 9 tháng 1 năm 2026).
Ngày nay, Học thuyết Xã hội của Giáo hội đại diện cho một sự trợ giúp cho bất kỳ ai muốn đối mặt với những “thứ mới mẻ” đang làm mất ổn định hành tinh và sự chung sống của con người, bằng cách trước hết tìm kiếm Nước Thiên Chúa và sự công chính của Người. Đây là một phần căn bản trong sứ mạng của Giáo hội: góp phần vào việc đào tạo lương tâm qua việc loan báo Tin Mừng, đưa ra các tiêu chuẩn luân lý và các nguyên tắc đạo đức đích thực, trong sự tôn trọng tự do của mỗi cá nhân cũng như quyền tự trị của các dân tộc và chính phủ của họ. Mục tiêu của Học thuyết Xã hội là giáo dục để đối mặt với các vấn đề vốn luôn thay đổi, bởi mỗi thế hệ đều mới mẻ, với những thách thức mới, những ước mơ mới và những câu hỏi mới.
Đặc biệt, trước mắt chúng ta đang nổi lên những vấn đề làm rung chuyển nền tảng kinh nghiệm của con người. Như tôi đã có dịp nhấn mạnh, khi so sánh thời đại của chúng ta với thời điểm Đức Giáo hoàng Lêô XIII ban hành Thông điệp Tân Sự (Rerum novarum), thì ngày nay “sự loại trừ chính là bộ mặt mới của bất công xã hội. Khoảng cách giữa một ‘nhóm thiểu số nhỏ’ – 1,1% dân số – và đại đa số còn lại đã mở rộng một cách thê thảm. [...] Khi nói về sự loại trừ, chúng ta cũng đối diện với một nghịch lý. Tình trạng thiếu đất đai, thực phẩm, nhà ở và việc làm xứng đáng đang tồn tại song song với khả năng tiếp cận các công nghệ mới vốn đang lan rộng khắp nơi thông qua thị trường toàn cầu hóa. Điện thoại di động, mạng xã hội và thậm chí cả trí tuệ nhân tạo đều nằm trong tầm tay của hàng triệu người, bao gồm cả những người nghèo” (Diễn văn gửi các Phong trào Bình dân, 23 tháng 10 năm 2025). Do đó, nhiệm vụ không thể trì hoãn của các Cấp Chính quyền và của một nền chính trị tốt là loại bỏ những rào cản đối với sự phát triển con người toàn diện, trong đó việc phân chia tài sản phổ quát và tinh thần đoàn kết là những nguyên tắc nền tảng.
Chẳng hạn, chúng ta không thể che giấu rằng sự tiến hóa công nghệ thần tốc mà chúng ta đang chứng kiến đã đẩy nhanh sự đầu cơ liên quan đến nhu cầu nguyên liệu thô, điều dường như làm người ta quên đi những nhu cầu thiết yếu như bảo vệ công trình sáng tạo, quyền lợi của cộng đồng địa phương, phẩm giá lao động và bảo vệ sức khỏe cộng đồng. Về vấn đề này, tôi xin lặp lại lời kêu gọi của Đức Giáo hoàng Phanxicô, người đã rời bỏ thế giới này đúng một năm trước: “Ngày nay chúng ta phải nói ‘không’ với một nền kinh tế của sự loại trừ và bất bình đẳng. Nền kinh tế ấy giết người” (Phanxicô, Tông huấn Evangelii Gaudium, 53). Thật vậy, so với vài năm trước, ngày nay càng thấy rõ hơn rằng một trong những động cơ chính của việc gia tăng các cuộc xung đột vũ trang là việc chiếm đóng các mỏ dầu và khoáng sản, bất chấp luật pháp quốc tế và quyền tự quyết của các dân tộc.
Chính các công nghệ mới dường như cũng được thiết kế và sử dụng chủ yếu cho mục đích chiến tranh, và trong những mức độ ý nghĩa, chúng cũng không cho thấy sự gia tăng cơ hội cho tất cả mọi người. Ngược lại, nếu không có sự thay đổi nhịp độ trong việc đảm nhận trách nhiệm chính trị và không có sự tôn trọng đối với các thể chế và thỏa thuận quốc tế, thì vận mệnh của nhân loại có nguy cơ bị tổn hại một cách bi thảm. Thiên Chúa không muốn điều này. Thánh Danh Người không thể bị xúc phạm bởi ý chí thống trị, bởi sự độc đoán và kỳ thị: trên hết, danh Người không bao giờ được viện dẫn để biện minh cho các lựa chọn và hành động chết chóc. Đất nước của quý vị đừng ngần ngại kiểm tra lại lộ trình phát triển của mình và những cơ hội tích cực để định vị bản thân trên trường quốc tế nhằm phục vụ luật pháp và công lý.
Đất nước của quý vị là một đất nước trẻ! Do đó, tôi chắc chắn rằng nơi Giáo hội, quý vị sẽ tìm thấy sự trợ giúp để đào tạo những lương tâm tự do và trách nhiệm, để cùng nhau tiến về tương lai. Trong một thế giới bị thương tổn bởi sự độc đoán, các dân tộc đang đói khát công lý. Cần phải trân trọng những ai tin vào hòa bình và dám thực hiện những chính sách lội ngược dòng, lấy công ích làm trung tâm. Cần có sự can đảm của những tầm nhìn mới và một cam kết giáo dục để dành không gian và niềm tin cho giới trẻ. Thành đô của Thiên Chúa, thành đô của hòa bình, thực sự cần được đón nhận như một món quà đến từ trên cao, nơi chúng ta hướng về bằng khát vọng và mọi nguồn lực của mình. Đó vừa là lời hứa, vừa là nhiệm vụ. Cư dân nơi ấy sẽ “đúc gươm đao thành cuốc thành cày, rèn giáo mác nên liềm nên hái” (Is 2,4) và sau khi mọi giọt nước mắt được lau khô, họ sẽ tham dự vào bàn tiệc không còn dành riêng cho một tầng lớp thượng lưu, vì những thức ăn béo ngậy, rượu ngon và những món ăn thượng hạng (x. Is 25,6) sẽ được sẻ chia cho tất cả mọi người.
Thưa Ngài Tổng thống, thưa quý vị, chúng ta hãy cùng nhau bước đi, với sự khôn ngoan và hy vọng, hướng về Thành đô của Thiên Chúa, là thành đô của hòa bình.
Kết thúc cuộc gặp gỡ, trên đường di chuyển đến Tòa Giám mục Malabo, Đức Thánh Cha đã dừng chân tại Nhà thờ Chính tòa dâng kính Thánh Êlisabét nước Hungary để cầu nguyện và chầu Thánh Thể, trước khi về dùng bữa trưa và nghỉ ngơi tại Tòa Giám mục.
Trong cuộc phỏng vấn dành cho báo “France Catholique”, nhân kỷ niệm sắp kỷ niệm một năm Giáo hoàng của Đức Thánh cha Lêô XIV, Đức Hồng y Kurt Koch, Bộ trưởng Bộ Hiệp nhất các tín hữu Kitô, tuyên bố rằng: “Đặt Chúa Kitô ở trung tâm Giáo hội, hiệp nhất trong Giáo hội và theo đuổi hòa bình, đó là ba định hướng chính nổi bật trong triều đại Giáo hoàng của Đức Thánh cha đương kim”.
G. Trần Đức Anh, O.P. | RVA
Chúa Kitô ở trung tâm của Giáo hội
Đặc điểm đầu tiên mà Đức Hồng y Koch nhấn mạnh là tính quy hướng mạnh mẽ về Chúa Kitô của triều đại Giáo hoàng này. Đức Hồng y nói: “Đức Lêô XIV hoàn toàn xác tín rằng cần phải đặt Chúa Kitô ở trung tâm của Giáo hội”, không phải như một khẩu hiệu thiêng liêng, nhưng là điều kiện cho mọi điều khác... chỉ từ vị trí trung tâm này, thách đố lớn thứ hai - sự hiệp nhất - mới có thể được giải quyết. Trong bối cảnh Giáo hội đang trải qua những căng thẳng nội bộ và sự đa dạng các xu hướng, Đức Giáo hoàng nhấn mạnh rằng sự hiệp thông không thể được xây dựng trên những thỏa hiệp mang tính con người, mà trên một điểm quy chiếu chung: Chúa Kitô.”
Hiệp nhất như một thách đố nội tại
Đức Hồng y Koch nhìn nhận rằng trong Giáo hội có “nhiều xu hướng” và cả “những căng thẳng”, khiến việc đạt được hiệp nhất trở thành nhiệm vụ cấp bách. Đây không chỉ là vấn đề nội bộ: một Giáo hội bị chia rẽ sẽ mất uy tín khi đề xuất hòa giải cho thế giới. “Nếu Giáo hội là một cộng đoàn chia rẽ, làm sao có thể giúp tái lập sự hiệp nhất giữa các Kitô hữu? Làm sao có thể góp phần khôi phục hòa bình thế giới?”. Theo Đức Hồng y Bộ trưởng Bộ Hiệp nhất các tín hữu, mô hình mà Đức Giáo hoàng Lêô XIV hướng tới không phải là sự đồng nhất, nhưng là hiệp nhất trong đa dạng, theo gương Ba Ngôi Thiên Chúa: những Ngôi vị khác biệt nhưng hiệp nhất sâu xa.
Một triều đại Giáo hoàng mang gốc rễ Augustinô
Một đặc điểm khác, theo Đức Hồng y Koch là ảnh hưởng của linh đạo của thánh Augustinô, vốn hiện diện thường xuyên trong các bài phát biểu và bài giảng của Đức Thánh cha. Đức Thánh cha đặc biệt nhấn mạnh mối liên hệ giữa Giáo hội và Bí tích Thánh Thể, với ý tưởng truyền thống: “Giáo hội làm nên Thánh Thể, và Thánh Thể làm nên Giáo hội.” Khẩu hiệu giám mục của Đức Giáo hoàng, In illo uno unum: Trong Đấng là Một, chúng ta nên một, cũng cần được hiểu trong bối cảnh này, tóm lược tầm nhìn của ngài: một Giáo hội đa dạng nhưng hiệp nhất trong Chúa Kitô.
Châu Âu - một mối quan tâm căn bản
Trong bối cảnh chung này, nổi lên một mối quan tâm cụ thể, đó là châu Âu. Đức Hồng y Koch, người Thụy Sĩ Đức, tiết lộ rằng Đức Lêô XIV đang lo lắng theo dõi tình trạng tinh thần của một châu lục nơi đức tin không còn giữ vị trí trung tâm. Ngài nhận định một cách thận trọng nhưng rõ ràng: đức tin tại châu Âu “đang đứng trước nguy cơ bị lãng quên nghiêm trọng”. Đây không chỉ là một mất mát tôn giáo, nhưng còn chạm đến chính bản sắc của lục địa này, vốn có nguy cơ đánh mất nền tảng nếu chỉ tập trung vào lợi ích vật chất mà thiếu một nền tảng tinh thần chung.
Sự thay đổi trong nền tảng xã hội
Cuộc khủng hoảng đặc biệt rõ trong lĩnh vực sự sống con người. Đức Hồng y Koch chỉ ra sự thay đổi sâu sắc trong cách hiểu về quyền con người: “Trước đây, nền tảng của nhân quyền là quyền được sống. Nay người ta nói đó là quyền được giết. Đó là điều hoàn toàn trái ngược.” Nhận định này liên quan đến các tranh luận hiện nay, như vấn đề an tử, mà theo ngài là dấu hiệu của việc đánh mất những điểm quy chiếu căn bản.
Một triều đại Giáo hoàng đang hình thành
Theo Đức Hồng y Koch, gần một năm sau khi được bầu chọn, Đức Lêô XIV đang tỏ ra là một vị Giáo hoàng có đường nét rõ ràng: tập trung vào Chúa Kitô, hướng đến hiệp nhất và nhạy bén trước những thách thức đe dọa đức tin, đặc biệt tại châu Âu. Trong bối cảnh căng thẳng nội bộ và sự mất phương hướng tại phương Tây, Đức Giáo hoàng gợi ý rằng ưu tiên hàng đầu chính là khôi phục điều nền tảng nhất: đức tin - bởi nếu thiếu điều này, Giáo hội sẽ mất khả năng trở thành dấu chỉ, và châu Âu có nguy cơ đánh mất căn tính của mình.
(ekai.pl 20-4-2026)
Thứ Ba, ngày 21 tháng Tư năm 2026, Đức Thánh cha Lêô XIV sẽ giã từ Angola để bay tới nước Guinea Xích đạo, chặng chót trong chuyến tông du của ngài tại châu Phi.
Phúc Nhạc | RVA
Đức Thánh cha sẽ đến thành phố Malabo, thủ đô cũ của nước này, dự kiến lúc gần 12 giờ trưa.
Sau nghi thức tiếp đón ở phi trường, Đức Thánh cha sẽ đến thăm Tổng thống, rồi gặp chung các đại diện chính quyền, các tầng lớp xã hội và ngoại giao đoàn lúc 13 giờ trưa.
Ban chiều cùng ngày, lúc 16 giờ Đức Thánh cha sẽ viếng thăm Đại học mới được đặt tên là “Giáo hoàng Lêô XIV”. Tiếp đến, Đức Thánh cha còn thăm một bệnh viện tâm trí trước khi về Tòa Tổng Giám địa phương, nơi ngài sẽ ở trong hai ngày viếng thăm nước Guinea Xích đạo.
Đức Giáo hoàng Lêô XIV đã được Tạp chí Time ở Mỹ đưa vào danh sách 100 người được xem là có ảnh hưởng lớn nhất thế giới.
G. Trần Đức Anh, O.P. | RVA
Tạp chí này hằng năm vẫn công bố danh sách các nhân vật có ảnh hưởng lớn nhất thế giới.
Việc một người Mỹ được bầu làm Giáo hoàng đánh dấu một “bước ngoặt trong lịch sử của Giáo hội Công giáo Rôma”. Đạo diễn huyền thoại Hollywood Martin Scorsese đã nhận định như thế trong một bài viết với tư cách là khách mời. Ông kỳ vọng vị lãnh đạo mới của Giáo hội sẽ mang lại những động lực mới - đặc biệt trong việc tăng cường vai trò của giáo dân trong việc điều hành Giáo hội.
Cùng với Đức Giáo hoàng, danh sách năm 2026 bao gồm nhiều nhân vật từ các lĩnh vực khác nhau, như Tổng thống Mỹ Donald Trump, Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình, Bà Tổng thống Mexico Claudia Sheinbaum, Tổng giám đốc Cơ quan Năng lượng Nguyên tử Quốc tế Rafael Grossi, nhà hoạt động nhân quyền Iran Shirin Ebadi, CEO Google Sundar Pichai và nữ ca sĩ người Anh Victoria Beckham.
Đức Lêô XIV không phải là vị Giáo hoàng đầu tiên góp mặt trong danh sách này. Các vị tiền nhiệm của ngài cũng từng nhiều lần được vinh danh, như Đức Giáo hoàng Phanxicô (6 lần) và Đức Giáo hoàng Biển Đức XVI (3 lần).
TGPSG/Vatican News -- Cuộc hành hương của Đức Giáo hoàng Lêô XIV đến 4 quốc gia châu Phi làm nổi bật sức mạnh của những dân tộc đã từ lâu mang gánh nặng của ách thực dân, đồng thời mời gọi chúng ta tham gia xây dựng một hiện tại và tương lai công bằng hơn, huynh đệ hơn và giàu lòng trắc ẩn hơn.
Hành trình của Đức Giáo hoàng tại châu Phi mời gọi chúng ta mở rộng đôi mắt và đổi mới con tim, thúc đẩy chúng ta hành động để nhân loại có thể biểu lộ một khuôn mặt chân thật hơn. Trong những ngày này, hàng ngàn người chờ đợi và đồng hành với Đức Thánh Cha, tụ họp dọc theo những con đường đất đỏ bụi bặm và các phố phường. Đằng sau các rào chắn thường là những mái nhà lợp tôn và những công trình cũ kỹ, mong manh; thế nhưng ánh mắt của người dân lại tràn đầy niềm vui, và nụ cười xuất hiện ngay khi ánh nhìn gặp một lời chào.
Nhiều người chờ đợi hàng giờ chỉ để thoáng thấy chiếc xe của Đức Giáo hoàng hay đoàn xe tháp tùng, hy vọng có được một bức ảnh hoặc một kỷ niệm đáng nhớ. Họ hát, nhảy múa, vẫy cờ và cành lá, giơ cao đôi tay.
Chuyến viếng thăm này là một hành trình đi vào những vết thương và niềm hy vọng của những dân tộc thường bị lãng quên, nhưng đồng thời cũng là lời mời gọi dành cho mọi người: thay đổi cách nhìn, không quay lưng, và xây dựng những mối dây huynh đệ cùng các tương quan chân thực mà không nhượng bộ trước sợ hãi hay sự buông xuôi.
Châu Phi mà Đức Giáo hoàng Lêô gặp gỡ cho thấy một sức sống và năng lực đáng kinh ngạc, cùng một tiềm năng rộng lớn cho tương lai. Đồng thời, gánh nặng của những hình thức ảnh hưởng thực dân vẫn còn rõ nét, khi các thế lực toàn cầu tiếp tục hạn chế và kiểm soát tiềm năng này.
Tại những nơi tài nguyên bị khai thác, đất đai bị tàn phá bởi chất thải độc hại, và xung đột, chia rẽ, tham nhũng được nuôi dưỡng, các thế lực chính trị và kinh tế đã chiếm đoạt không chỉ của cải, mà còn tước đoạt cả hiện tại và tương lai của toàn thể nhiều thế hệ.
Trong một thế giới bị ghi dấu bởi chiến tranh và bạo lực, Đấng kế vị Thánh Phêrô lại dấn thân xây dựng những nhịp cầu, cổ võ sự gặp gỡ, hòa giải, ý thức, hiệp nhất và hòa bình.
Điều này được thể hiện rõ, chẳng hạn tại thành phố Bamenda ở tây bắc Cameroon, nơi đã được tái kết nối với phần còn lại của đất nước trong chuyến viếng thăm. Do bạo lực liên quan đến cuộc khủng hoảng ly khai, khiến hàng ngàn người phải di dời và nhiều người thiệt mạng, các con đường hầu như biến mất, và sân bay đã không thể sử dụng trong suốt tám năm. Sự hiện diện của Đức Giáo hoàng đã góp phần khởi động lại không chỉ việc tái thiết cơ sở vật chất mà còn cả sự hồi sinh của niềm hy vọng.
Qua hành trình này, Đức Giáo hoàng cũng làm nổi bật những thực tại riêng biệt của các quốc gia mà ngài viếng thăm, thách thức xu hướng nhìn châu Phi như một thực thể đồng nhất thay vì một lục địa đa dạng. Ngài chỉ ra sự hiệp nhất trong đa dạng và phẩm giá chung của gia đình nhân loại, trong đó mỗi người đều là con cái của Thiên Chúa.
Ngài cho thấy sự phong phú của nhiều tiếng nói trong Giáo hội, được mời gọi chia sẻ sứ điệp Tin Mừng, sứ điệp mà khi được sống, sẽ khơi dậy sáng tạo và góp phần xây dựng những xã hội công bằng hơn, huynh đệ hơn và liên đới hơn.
Đức Giáo hoàng kêu gọi trách nhiệm chung và, từ châu Phi, ngài nói với toàn thế giới. Ngài đặt ra một câu hỏi căn bản mời gọi mỗi người tiến đến với tha nhân: gặp gỡ, tha thứ, nâng đỡ và cùng nhau bước đi, nhận trách nhiệm xây dựng một tương lai chung.
Trong một thế giới thường bị chi phối bởi chia rẽ, kiêu ngạo và đe dọa, Đức Thánh Cha giới thiệu dung mạo của Đức Kitô, Đấng mời gọi mỗi người hoán cải bằng cách sống cam kết ấy trong đời sống hằng ngày.
Qua hành trình này, Đức Lêô đang góp phần tái kết nối nhân loại, trả lại cho các dân tộc phẩm giá và tự do để phát triển, đồng thời thách thức những tham vọng thống trị và kiểm soát.
Vatican News
Trưa ngày 20/4/2026, sau khi dừng lại cầu nguyện và viếng Thánh Thể tại Nhà thờ Chính tòa Đức Mẹ Hồn xác Lên trời, Đức Thánh Cha Lêô XIV đi xe papamobile đến Quảng trường ở thành phố Saurimo để cử hành Thánh lễ trước sự hiện diện tham dự của khoảng 30.000 tín hữu
Trong bài giảng, dựa trên lời Đức Giêsu nhắc nhở dân chúng hãy tìm kiếm Chúa để có lương thực thường tồn đem lại phúc trường sinh, Đức Thánh Cha cảnh giác những động cơ sai lầm khi tìm kiếm Đức Kitô, xem Người như một phương tiện để đạt được một mục đích. Ngài nói: “Điều này xảy ra khi đức tin đích thực bị thay thế bằng những thực hành mê tín, trong đó Thiên Chúa trở thành một ngẫu tượng, chỉ được tìm đến khi chúng ta cần, và bao lâu chúng ta còn cần”.
Đức Thánh Cha nói:
Anh chị em thân mến,
trên khắp thế giới, Giáo hội sống như một dân lữ hành bước theo Đức Kitô, người anh và Đấng Cứu Độ của chúng ta: Người, Đấng Phục Sinh, soi sáng con đường dẫn chúng ta đến cùng Chúa Cha và, nhờ quyền năng của Thánh Thần, thánh hóa chúng ta, để chúng ta biến đổi lối sống của mình theo tình yêu của Người. Đây chính là Tin Tin Vui, là Phúc Âm chảy như dòng máu trong huyết quản, nâng đỡ chúng ta trên hành trình. Một hành trình hôm nay đã đưa tôi đến đây, ở giữa anh chị em! Trong niềm vui và vẻ đẹp của cộng đoàn, quy tụ nhân danh Đức Giêsu, chúng ta hãy lắng nghe với tâm hồn rộng mở Lời cứu độ của Người, bởi Lời ấy giúp chúng ta suy tư về lý do và mục đích khiến chúng ta bước theo Chúa.
Chúng ta tìm Chúa vì lòng biết ơn hay vì lợi ích, vì tính toán hay vì tình yêu?
Thật vậy, khi Con Thiên Chúa nhập thể làm người, Người thực hiện những hành động đầy ý nghĩa để tỏ lộ ý muốn của Chúa Cha: Người chiếu ánh sáng trong bóng tối khi mở mắt cho người mù, ban tiếng nói cho kẻ bị áp bức khi mở lưỡi cho người câm, làm no thỏa cơn đói công lý của chúng ta khi hóa bánh ra nhiều cho người nghèo và người yếu thế. Những ai nghe nói về các việc ấy đều bắt đầu đi tìm Đức Giêsu. Đồng thời, Chúa nhìn thấy trong lòng chúng ta và hỏi liệu chúng ta tìm Người vì lòng biết ơn hay vì lợi ích, vì tính toán hay vì tình yêu. Thật vậy, Người nói với đám đông theo Người: “Các ông đi tìm tôi không phải vì các ông đã thấy dấu lạ, nhưng vì các ông đã được ăn bánh no nê” (Ga 6,26). Những lời của Người vạch trần ý hướng của những ai không mong gặp gỡ một con người, nhưng chỉ muốn tiêu thụ mọi thứ. Đám đông nhìn Đức Giêsu như một phương tiện để đạt được một mục đích, như một người cung cấp dịch vụ. Nếu Người không cho họ thứ gì để ăn, thì những hành động và lời giảng dạy của Người cũng không còn hấp dẫn họ.
Những động cơ sai lầm khi tìm kiếm Đức Kitô
Điều này xảy ra khi đức tin đích thực bị thay thế bằng những thực hành mê tín, trong đó Thiên Chúa trở thành một ngẫu tượng, chỉ được tìm đến khi chúng ta cần, và bao lâu chúng ta còn cần. Ngay cả những ân sủng cao đẹp nhất của Chúa, Đấng luôn chăm sóc dân Người, cũng bị biến thành đòi hỏi, phần thưởng hay công cụ mặc cả, và bị hiểu sai bởi chính những người lãnh nhận. Trình thuật Tin Mừng giúp chúng ta hiểu rằng có những động cơ sai lầm khi tìm kiếm Đức Kitô, đặc biệt khi Người bị coi như một “thầy pháp” hay một bùa may mắn. Ngay cả mục tiêu mà đám đông ấy theo đuổi cũng không thích hợp: họ không tìm một vị Thầy họ yêu mến, nhưng là một thủ lãnh để tôn sùng vì lợi ích riêng.
Chúa không muốn những nô lệ hay khách hàng
Thái độ của Đức Giêsu đối với chúng ta hoàn toàn khác: Người không từ chối sự tìm kiếm thiếu chân thành này, nhưng mời gọi hoán cải. Người không xua đuổi đám đông, nhưng mời gọi mỗi người xét lại điều đang rung động trong lòng họ. Đức Kitô kêu gọi chúng ta đến với tự do: Người không muốn những nô lệ hay khách hàng, nhưng tìm kiếm những anh chị em để Người hiến trọn chính mình cho họ. Để đáp lại tình yêu này bằng đức tin, chỉ nghe nói về Đức Giêsu thôi chưa đủ: cần đón nhận ý nghĩa lời Người. Chỉ thấy những gì Người làm thôi cũng không đủ: cần bước theo và noi theo gương của Người. Chỉ khi chúng ta nhận ra ý muốn của Đấng Cứu Độ, Đấng hiến mình cho chúng ta, trong dấu chỉ tấm bánh được chia sẻ, thì khi đó chúng ta mới tiến gần hơn với cuộc gặp gỡ đích thực với Đức Giêsu, cuộc gặp gỡ trở thành môn đệ của Người, trở thành sứ vụ và phục vụ.
Chúa dạy chúng ta cách đúng đắn để tìm kiếm bánh sự sống
Như thế, lời cảnh báo của Chúa dành cho đám đông trở thành một lời mời gọi: “Các ông hãy ra công làm việc không phải vì lương thực mau hư nát, nhưng để có lương thực thường tồn đem lại phúc trường sinh” (Ga 6,27). Qua những lời này, Đức Kitô chỉ cho chúng ta ân ban đích thực của Người: Người không kêu gọi chúng ta dửng dưng với lương thực hằng ngày mà chính Người ban dồi dào và dạy chúng ta cầu xin trong lời cầu nguyện. Người dạy chúng ta cách đúng đắn để tìm kiếm bánh sự sống, lương thực nâng đỡ chúng ta mãi mãi. Khát vọng của đám đông như thế được đáp lại bằng một câu trả lời còn lớn lao và bất ngờ hơn: Đức Giêsu không ban cho chúng ta thứ lương thực sẽ cạn, nhưng là tấm bánh không làm chúng ta hư mất, bởi đó là lương thực của sự sống đời đời.
Đức Kitô đang sống! Người là Đấng Cứu Độ của chúng ta
Ân sủng của Người soi sáng hiện tại của chúng ta: ngày nay, chúng ta thấy nhiều khát vọng của con người bị bạo lực làm thất vọng, bị kẻ mạnh khai thác và bị của cải đánh lừa. Khi bất công làm băng hoại con tim, lương thực của mọi người trở thành tài sản của một số ít. Trước những sự dữ này, Đức Kitô lắng nghe tiếng kêu của các dân tộc và canh tân lịch sử của chúng ta: Người nâng chúng ta dậy từ mọi sa ngã, Người an ủi chúng ta trong mọi đau khổ, Người khích lệ chúng ta trong sứ vụ. Như bánh hằng sống mà Người luôn ban cho chúng ta là Thánh Thể, lịch sử của Người không có kết thúc, và vì thế Người loại bỏ sự tận cùng, tức là cái chết, khỏi lịch sử của chúng ta, lịch sử mà Đấng Phục Sinh mở ra bằng quyền năng Thánh Thần. Đức Kitô đang sống! Người là Đấng Cứu Độ của chúng ta. Đây là Phúc Âm chúng ta loan báo, làm cho mọi dân tộc trên trái đất trở thành anh em. Đây là lời loan báo biến tội lỗi thành ơn tha thứ. Đây là đức tin cứu độ sự sống!
Chúng ta không được tạo thành để chết. Chúng ta không được sinh ra để trở thành nô lệ
Vì thế, chứng tá Phục Sinh trước hết nói về Đức Kitô, Đấng đã chịu đóng đinh và đã sống lại, nhưng chính vì thế cũng nói về chúng ta: trong Người vang lên lời loan báo về sự phục sinh của chúng ta. Chúng ta không được tạo thành để chết. Chúng ta không được sinh ra để trở thành nô lệ, cũng không để bị hư nát thân xác hay tâm hồn: mọi hình thức áp bức, bạo lực, khai thác và dối trá đều phủ nhận sự phục sinh của Đức Kitô, ân ban cao cả của sự tự do của chúng ta. Sự giải thoát khỏi sự dữ và cái chết này không chỉ xảy ra vào ngày tận thế, nhưng ngay trong lịch sử hằng ngày. Chúng ta phải làm gì để đón nhận ân ban ấy? Chính Phúc Âm dạy chúng ta: “Việc Thiên Chúa muốn các ông làm là tin vào Đấng Người đã sai đến” (Ga 6,29). Vâng, chúng con tin! Hôm nay, cùng nhau, chúng con tuyên xưng điều đó cách mạnh mẽ và với lòng biết ơn hướng về Chúa, lạy Đức Giêsu. Chúng con muốn bước theo và phục vụ Chúa nơi tha nhân: Lời của Chúa là quy tắc sống, là tiêu chuẩn chân lý cho chúng con.
Chúa luôn bước đi cùng nhịp với chúng ta
“Hạnh phúc thay ai biết vâng theo luật pháp Chúa Trời” (x. Tv 119/118,1): chúng ta đã hát như thế trong Thánh vịnh. Anh chị em thân mến, chính Chúa vạch ra con đường cho hành trình này, chứ không phải những nhu cầu cấp bách hay trào lưu nhất thời. Vì thế, khi bước theo Đức Giêsu, hành trình của Giáo hội luôn là một “công nghị của sự phục sinh và hy vọng” (Tông huấn Ecclesia in Africa, 13), như thánh Gioan Phaolô II đã khẳng định trong Tông huấn dành cho Phi Châu: chúng ta hãy tiếp tục tiến bước theo hướng đi khôn ngoan này! Với Phúc Âm trong lòng, anh chị em sẽ có can đảm trước khó khăn và thất vọng: con đường Thiên Chúa mở ra cho chúng ta không bao giờ mất đi. Thật vậy, Chúa luôn bước đi cùng nhịp với chúng ta, để chúng ta có thể tiến bước trên đường của Người: chính Đức Kitô ban định hướng và sức mạnh cho hành trình, một hành trình mà chúng ta muốn ngày càng học sống đúng như bản chất của nó, nghĩa là mang tính hiệp hành.
Giáo hội cũng loan báo Tin Mừng qua chứng tá đời sống
Đặc biệt, “Giáo hội loan báo Tin Mừng không chỉ qua việc công bố lời đã lãnh nhận từ Chúa, nhưng còn qua chứng tá đời sống, nhờ đó các môn đệ Đức Kitô làm chứng cho đức tin, đức cậy và đức mến nơi họ” (ibid., 55). Khi chia sẻ Thánh Thể, bánh ban sự sống đời đời, chúng ta được mời gọi phục vụ dân tộc của mình với lòng tận hiến, để nâng con người đứng dậy sau mọi sa ngã, tái xây dựng những gì bạo lực phá hủy, và vui tươi chia sẻ tình huynh đệ. Qua chúng ta, sức năng động của ân sủng Thiên Chúa sinh hoa trái tốt đẹp, nhất là trong nghịch cảnh, như gương của thánh Stêphanô, vị tử đạo tiên khởi (x. Cv 6,8-15).
Anh chị em thân mến, chứng tá của các thánh tử đạo và các thánh khích lệ và thúc đẩy chúng ta bước đi trên con đường hy vọng, hòa giải và hòa bình, nơi ân ban của Thiên Chúa trở thành sự dấn thân của con người trong gia đình, trong cộng đoàn Kitô hữu và trong xã hội. Khi cùng nhau bước đi dưới ánh sáng Phúc Âm, Giáo hội tại Angola lớn lên trong sự phong nhiêu thiêng liêng bắt nguồn từ Thánh Thể và tiếp tục trong việc chăm sóc toàn diện mỗi con người và toàn dân. Đặc biệt, sức sống của các ơn gọi mà anh chị em đang cảm nghiệm là dấu chỉ của việc đáp lại ân ban của Chúa, Đấng luôn ban dư dật cho những ai đón nhận với tâm hồn trong sạch. Nhờ Bánh Sự Sống mới mà chúng ta cùng chia sẻ hôm nay, chúng ta có thể tiếp tục cuộc hành trình hướng tới Nước Thiên Chúa của toàn thể Giáo hội, nơi ánh sáng là đức tin và huyết mạch là lòng bác ái.
Kết thúc Thánh lễ, Đức Thánh Cha từ giã Saurimo và trở về thủ đô Luanda.
Vatican News
Hành trình của Đức Thánh Cha bắt đầu rất sớm từ Toà Sứ thần Toà Thánh với quãng đường 27,4 km đến Sân bay quốc tế Luanda. Sau đó, chuyên cơ TAAG A220 đã đưa Đức Thánh Cha cùng phái đoàn bay khoảng 945 km hướng về phía Đông Bắc. Sau gần 1 giờ rưỡi bay, Đức Thánh Cha đã đặt chân đến Saurimo – thành phố nằm ở độ cao hơn 1.000 mét so với mực nước biển, vốn là thủ phủ của tỉnh Lunda Sul và là vùng đất giàu bản sắc văn hóa của người Lunda-Cokwe.
Sau khi di chuyển thêm 11,5 km bằng ô tô từ sân bay Saurimo “Deolinda Rodrigues”, Đức Thánh Cha đã tới thăm một Nhà đón tiếp người cao tuổi. Tại đây, ngài được chào đón bởi Giám đốc cơ sở, đại diện Bộ Y tế Angola, 62 cụ già (gồm 26 cụ ông và 36 cụ bà) cùng các nhân viên và tình nguyện viên phục vụ.
Trong lời chào mừng, vị Giám đốc cơ sở bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc trước sự hiện diện của Đức Thánh Cha, đồng thời gọi mái ấm là “nơi cứu cuộc đời” của những người “đã từng phải đối mặt với đủ loại tổn thương do bị gia đình bỏ rơi”. Bà cho biết “Chính quyền tỉnh Lunda-Sul đã xây dựng cơ sở này làm nơi trú ẩn cho những người già bị ngược đãi, khinh rẻ, thậm chí bị cáo buộc là phù thủy”. Vị Giám đốc cũng tạ ơn Thiên Chúa đã “soi sáng trái tim của những người thiện chí để tạo nên trung tâm đón tiếp những người bị suy giảm thể chất và tinh thần này”. Với việc Đức Thánh Cha viếng thăm, bà cảm nhận mái ấm đã “được chúc phúc vì được tình yêu của Thiên Chúa chạm đến”, đồng thời cầu chúc ngài sức khỏe và trường thọ để dẫn dắt Hội Thánh của Chúa.
Thay mặt cho các thành viên tại mái ấm, một người cao tuổi cũng bày tỏ niềm vui đầy biết ơn vì được gặp gỡ Đức Thánh Cha “như sứ giả của Chúa”. Chuyến thăm của Đức Thánh Cha là lý do mang lại “niềm vui lớn lao và làm tăng thêm hy vọng sống” cho họ - những con chiên trong đoàn chiên của ngài.
Trong lời đáp từ, Đức Thánh Cha cảm ơn mọi người ở mái ấm vì sự đón tiếp đầy đức tin đã chạm đến trái tim ngài và là nguồn an ủi lớn lao cho sứ mạng của ngài. Đức Thánh Cha bày tỏ ấn tượng đặc biệt trước từ “Lar” (Mái ấm hoặc Nhà) mà cơ sở sử dụng, đồng thời khẳng định tình yêu thương chính là dấu chỉ rõ nét nhất của Thiên Chúa. Ngài nói:
Tôi rất ấn tượng khi nghe anh chị em gọi nơi này là ‘lar’, một từ gợi lên ý nghĩa gia đình. Tôi tạ ơn Thiên Chúa vì điều đó, và tôi hy vọng tất cả anh chị em thực sự có thể sống ở đây trong một bầu khí gia đình, trong chừng mực có thể.
Chúa Giêsu rất thích ở tại nhà của những người bạn của Ngài. Tin Mừng kể rằng Ngài đã đến nhà của ông Phêrô ở Ca-phác-na-um, nơi một ngày nọ Ngài đã chữa lành mẹ vợ của ông. Tin Mừng cũng nhắc chúng ta về tình bạn của Ngài với Maria, Mátta và Ladarô: tại nhà của họ ở Bethania, Ngài được đón tiếp như là Thầy và là Chúa, đồng thời cũng đầy sự thân thuộc.
Vì vậy, anh chị em thân mến, tôi thích nghĩ rằng Chúa Giêsu cũng đang ở đây, trong ngôi nhà này. Đúng vậy, Ngài ở giữa anh chị em mỗi khi anh chị em cố gắng yêu thương và giúp đỡ lẫn nhau như anh chị em một nhà. Mỗi khi, sau một hiểu lầm hay một xúc phạm nhỏ, anh chị em biết tha thứ và hòa giải với nhau. Mỗi khi một vài người hay tất cả anh chị em cùng cầu nguyện với lòng đơn sơ và khiêm hạ.
Tôi bày tỏ sự cảm kích đối với chính quyền Angola vì những sáng kiến dành cho những người cao tuổi túng thiếu nhất, cũng như với tất cả các cộng tác viên và tình nguyện viên. Việc chăm sóc những người yếu thế là một dấu chỉ rất quan trọng về chất lượng đời sống xã hội của một quốc gia. Và chúng ta đừng quên: người cao tuổi không chỉ cần được hỗ trợ, trước hết họ cần được lắng nghe, bởi vì họ gìn giữ sự khôn ngoan của một dân tộc. Và chúng ta nợ họ lòng biết ơn, vì họ đã đối mặt với những khó khăn lớn lao vì lợi ích của cộng đồng.
Anh chị em thân mến, tôi sẽ mang trong tim kỷ niệm về cuộc gặp gỡ này với anh chị em. Xin Đức Trinh Nữ Maria, Đấng đã đong đầy đức tin và tình yêu cho Ngôi nhà Nazarét, luôn trông nom cộng đoàn này. Và xin cho phép lành của tôi cũng đồng hành cùng anh chị em.
Sau lời chào thăm, Đức Thánh Cha đã trao tặng mái ấm bức tượng “Thánh Giuse và Chúa Hài Đồng”. Món quà mang ý nghĩa an ủi sâu sắc, nhắc nhớ rằng trong truyền thống Kitô giáo, Thánh Giuse là quan thầy của ơn chết lành và là lời mời gọi sống đức tin kiên vững vì mỗi giai đoạn của cuộc đời đều vô cùng quý giá trước mặt Thiên Chúa.
Kết thúc buổi gặp gỡ, Đức Thánh Cha đã dừng chân cầu nguyện và chầu Thánh Thể tại Nhà thờ Chính tòa Đức Mẹ Hồn Xác Lên Trời trước khi đến cử hành Thánh lễ tại quảng trường Saurimo vào lúc 11:15 trưa cùng ngày (giờ địa phương).
Lúc 15 giờ 30 Chúa nhật ngày 19 tháng Tư vừa qua, Đức Thánh cha Lêô XIV đã ra phi trường quốc tế Luanda, cách Tòa Sứ thần gần bốn cây số rưỡi, để đáp trực thăng đến Đền thánh Đức Mẹ Mamãn Muxima, cách đó 110 cây số.
Phúc Nhạc | RVA
Sau nửa giờ bay, Đức Thánh cha đã tới khu vực Icolo e Bengo. Tại đây, có Đền thánh Mamã Muxima, có nghĩa là “Mẹ của Trái Tim” trong tiếng Kimbundu, một trong những ngôn ngữ được sử dụng rộng rãi ở miền bắc Angola. Thị trấn này được người Bồ Đào Nha xây dựng vào thế kỷ XVII trên một ngọn đồi nhìn ra sông Kwanza, con sông lớn nhất Angola.
Trong gần 300 năm, nơi này là điểm tập trung của các nô lệ bị đưa ra bờ biển để bắt đầu hành trình không trở lại sang châu Mỹ. Đền thánh có kiến trúc đơn giản theo phong cách Bồ Đào Nha; nó bị người Hà Lan đốt cháy vào năm 1641, sau đó được xây dựng lại và cải tạo.
Tại đây, người ta tôn kính một tượng Đức Mẹ Vô Nhiễm Nguyên Tội rất cổ kính, được các tín hữu đặc biệt sùng kính. Mỗi năm, từ tháng Tám đến tháng Chín, các cuộc hành hương toàn quốc được tổ chức với sự tham gia của hàng nghìn người, họ bày tỏ lòng tôn kính đối với Đức Maria bằng cách đi bằng đầu gối trong nhà thờ và tham gia cuộc rước nến ban đêm đầy ấn tượng.
Kinh Mân côi
Đến khu vực Đền thánh vào lúc 16 giờ 30, Đức Thánh cha được Đức cha Emilio Sumbelelo, Giám mục Giáo phận Viana sở tại, đón tiếp và cùng ngồi xe Golf tiến qua quảng trường, chào thăm đông đảo các tín hữu tu tập trước Đền thánh. Đi vào bên trong thánh đường, Đức Thánh cha đã cầu nguyện Trước Mình Thánh Chúa và tượng Đức Mẹ Mân côi, dâng hoa lên Đức Mẹ, rồi tiến ra quảng trường bên ngoài. Sau lời chào mừng của Đức giám mục Giáo phận Viana, Đức Thánh cha cùng cộng đoàn đọc kinh và suy niệm các mầu nhiệm Mân côi bằng các thứ tiếng khác nhau.
Huấn từ của Đức Thánh cha
Ngỏ lời với các tín hữu, Đức Thánh cha bày tỏ vui mừng vì được hiệp thông cầu nguyện với cộng đoàn, đặc biệt là các bạn trẻ và các thành viên Hội đạo binh Đức Mẹ (Legio Mariae). Ngài nhấn mạnh giá trị của Kinh Mân côi - một kinh nguyện đơn sơ nhưng sâu sắc, đã gắn bó lâu đời với đời sống Giáo hội. Theo lời thánh Gioan Phaolô II, đây là lời cầu nguyện giúp người Kitô hữu giữ được sự tươi mới của đức tin và mạnh mẽ loan báo Chúa Kitô cho thế giới.
Nhìn vào cộng đoàn Angola, Đức Thánh cha nhận thấy một Giáo hội sống động, trẻ trung, đầy nhiệt huyết và được thúc đẩy bởi Chúa Thánh Thần. Ngài đặc biệt nhắc đến Đền thánh Mamã Muxima - nơi qua nhiều thế kỷ đã trở thành điểm tựa thiêng liêng cho biết bao người trong những lúc vui cũng như lúc đau khổ. Đức Mẹ được gọi là “Mẹ của trái tim”, luôn lắng nghe, đón nhận và cầu bầu cho mọi người, kể cả những ai không thể trực tiếp đến hành hương.
Đức Thánh cha cũng nhắc nhở rằng: “Qua việc suy niệm các mầu nhiệm Mân côi, đặc biệt là các mầu nhiệm vinh hiển, người tín hữu được mời gọi chiêm ngắm chiến thắng của Chúa Kitô Phục Sinh trên sự chết và nhận ra ơn gọi của mình: hướng về trời cao và mang ánh sáng của Chúa đến cho thế giới. Mẹ Maria được trình bày như mẫu gương hoàn hảo - một người mẹ biết ghi nhớ, suy niệm và sống trọn vẹn tình yêu dành cho Thiên Chúa và tha nhân.
Đức Thánh cha cũng nhấn mạnh rằng việc lần chuỗi Mân côi không chỉ là cầu nguyện mà còn là cam kết sống yêu thương cụ thể. Như một người mẹ yêu thương mọi con cái, người Kitô hữu cũng được mời gọi yêu thương tất cả mọi người, đặc biệt là những người nghèo khổ và yếu thế. Điều này bao gồm việc chăm lo cho người đói ăn, người bệnh được chữa trị, trẻ em được giáo dục và người già được sống an vui. Mẹ Maria không chỉ quan tâm đến đời sống thiêng liêng mà còn đến những nhu cầu thiết thực của con người, và mời gọi chúng ta làm điều tương tự.
Đức Thánh cha đặc biệt hướng đến giới trẻ, kêu gọi họ dấn thân xây dựng một thế giới mới tốt đẹp hơn - một thế giới không còn chiến tranh, bất công, nghèo đói hay gian dối. Việc xây dựng đền thánh mới được xem như một dấu chỉ cụ thể của hy vọng và trách nhiệm mà Đức Mẹ trao phó cho họ. Người trẻ được mời gọi trở thành những người kiến tạo hòa bình và công lý, lấy Tin mừng làm nền tảng cho hành động.
Thông điệp cốt lõi của bài huấn dụ của Đức Thánh cha là: tình yêu phải chiến thắng mọi sự, chứ không phải chiến tranh hay hận thù. Từ đền thánh này, mỗi người được sai đi như những “sứ giả” mang tình yêu của Đức Maria và phúc lành của Thiên Chúa đến cho mọi người.
Kết thúc, Đức Thánh cha mời gọi mọi người dâng hiến bản thân cho Đức Maria, xin Mẹ chuyển cầu để nhận lãnh ơn lành của Chúa, và sống tinh thần yêu thương, phục vụ trong đời sống hằng ngày.
Sau khi ban phép lành kết thúc, Đức Thánh cha chào từ biệt chính quyền địa phương và mọi người, rồi đáp máy bay trực thăng trở về thủ đô Luanda.
Lúc 9 giờ sáng Chúa nhật, ngày 19 tháng Tư vừa qua, Đức Thánh cha Lêô XIV đã rời Tòa Sứ thần Tòa Thánh, nơi ngài nghỉ đêm, để tới thành phố Quilamba, một khu đô thị thuộc tỉnh Luanda, và cách Tòa Sứ thần hơn 26 Km. Khu vực này mới được khánh thành ngày 11 tháng Bảy năm 2011 và được một công ty Trung Quốc thiết kế.
G. Trần Đức Anh, O.P. | RVA
Khu đô thị này nổi tiếng vì là nơi có Sân vận động Quốc gia tên là “11 de Novembro”, được sử dụng trong Cúp bóng đá châu Phi năm 2010. Dự án kiến thiết khu dân cư được hình thành để phát triển theo ba giai đoạn, với tổng cộng 82.000 căn hộ và diện tích tổng thể 54 cây số vuông. Bản thiết kế ban đầu được công bố vào ngày 31 tháng Tám năm 2008, và sau đó được Tổng thống José Eduardo dos Santos chính thức khánh thành ngày 11 tháng Bảy năm 2011.
Bản đồ khu đô thị Quilamba, lúc đó vẫn đang trong quá trình xây dựng hoàn chỉnh. Ban đầu, khu này dự kiến sẽ cung cấp chỗ ở cho 19.000 người trong 115 tòa nhà hoặc cao ốc, với tổng cộng 3.180 căn hộ, cùng với các trường học, tổ chức tài chính và các khu vực công cộng tích hợp. Theo ông Manuel Vicente, Chủ tịch Hội đồng Quản trị của Công ty Sonangol, giai đoạn đầu của dự án bao gồm 10 cây số đường lộ, 48 siêu thị, công viên giải trí, các tuyến đường sắt và xe buýt, cũng như các cơ sở khác trong trung tâm khu đô thị. Mục tiêu ban đầu của dự án bao gồm 710 tòa nhà, 24 trung tâm giáo dục mầm non, 9 trường tiểu học, 8 trường trung học và tổng cộng 50 km đường.
Cấu trúc
Khu đô thị Quilamba được chia thành bốn khu vực, mỗi khu đều có một trường mẫu giáo đặc biệt hiện đại, với hệ thống điều hòa không khí trong toàn bộ các phòng học. Một đường chạy điền kinh và một sân bóng đá tiêu chuẩn thể hiện rõ định hướng thể thao của khu đô thị. Hai nhà máy điện cung cấp năng lượng cho khu vực, và nước uống đã được xử lý, trong khi nước không uống được được xử lý hoàn toàn hoặc dùng cho các mục đích phi sinh hoạt.
Khu đô thị không có bất kỳ rào cản kiến trúc nào, giúp người khuyết tật có thể di chuyển độc lập và an toàn. Ngoài ra, khu vực còn có một bệnh viện công, một số phòng khám tư và mười hai trung tâm y tế khác thuộc hệ thống quốc gia.
Dự kiến khu vực này sẽ lắp đặt nhiều thùng rác để cho phép phân loại rác chưa được phân loại trước đó. Bên ngoài khu dân cư có các không gian dành cho đầu tư tư nhân, mở cho những ai muốn xây dựng các công trình công cộng hoặc tư nhân; trong số các dự án đang triển khai có thư viện thành phố đầu tiên và một số trung tâm thương mại bổ sung.
Ngoài ra, tại Quilamba sẽ xây dựng các công trình đóng vai trò quan trọng trong đời sống chính trị - xã hội của khu vực, như Tòa án cấp huyện và Sở của Tỉnh Luanda, phối hợp với cơ quan chính tại thủ đô Angola.
Quilamba có cánh đồng rộng lớn và ban tổ chức đã chọn địa điểm này làm nơi Đức Thánh cha Lêô XIV cử hành thánh lễ. Hơn 100.000 tín hữu từ thủ đô Luanda và nhiều nơi khác đã tụ họp về đây để tham dự thánh lễ với Đức Thánh cha.
Đồng tế với Đức Thánh cha, có các hồng y và giám mục thuộc đoàn tùy tùng, 26 giám mục thuộc 20 giáo phận toàn quốc Angola cùng với hàng trăm linh mục.
Bài giảng của Đức Thánh cha
Trong bài giảng, đi từ bài Tin mừng thuật lại cuộc gặp gỡ của Chúa Giêsu Phục sinh với hai môn đệ thất vọng trên đường tiến về làng Emmaus, cũng như từ lịch sử đau thương của đất nước Angola (nửa triệu người chết trong chiến tranh giành độc lập), Đức Thánh cha nhấn mạnh đến chủ đề chính yếu là niềm hy vọng: sự hiện diện của Chúa Kitô Phục Sinh và lời mời gọi xây dựng một tương lai mới dựa trên đức tin và tình liên đới. Mở đầu, ngài bày tỏ lòng biết ơn vì được cử hành Thánh Thể cùng cộng đoàn và cảm kích trước sự đón tiếp nồng hậu.
Dựa trên trích đoạn Tin mừng về hai môn đệ trên đường Emmaus, Đức Thánh cha mời gọi mọi người suy niệm về hành trình đức tin của chính mình. Hai môn đệ rời Giêrusalem với tâm trạng buồn bã, thất vọng vì cái chết của Chúa Giêsu. Họ nói chuyện với nhau về những biến cố đã xảy ra, nhưng lại bị giam hãm trong nỗi đau và mất hy vọng.
Đức Thánh cha liên kết hình ảnh này với lịch sử Angola - một đất nước đẹp nhưng bị tổn thương bởi chiến tranh, chia rẽ và nghèo đói. Những đau khổ kéo dài có thể khiến con người rơi vào tình trạng giống hai môn đệ: vẫn bước đi nhưng không còn hy vọng, không biết bắt đầu lại từ đâu. Đây là nguy cơ lớn khi con người bị quá khứ đau thương chi phối.
Tuy nhiên, Tin mừng mang đến một sứ điệp quan trọng: Chúa Giêsu đã sống lại và luôn đồng hành với con người, đặc biệt trong những lúc khó khăn. Ngài đến gần hai môn đệ, lắng nghe họ, giải thích Kinh Thánh và giúp họ hiểu rằng họ không đơn độc. Khi Chúa bẻ bánh, mắt họ mở ra và nhận ra Ngài. Đây là dấu chỉ cho thấy Chúa hiện diện trong đời sống hằng ngày, đặc biệt qua Lời Chúa và Bí tích Thánh Thể.
Từ đó, Đức Thánh cha chỉ ra con đường để tái khởi đầu. Trước hết là tin tưởng rằng Chúa luôn ở bên, đồng hành và cảm thông với con người. Sự hiện diện này được cảm nghiệm qua cầu nguyện, lắng nghe Lời Chúa và tham dự Thánh Thể. Ngài cũng cảnh báo về những hình thức tôn giáo pha trộn mê tín, có thể làm lệch hướng đời sống đức tin, và kêu gọi tín hữu trung thành với giáo huấn của Giáo hội.
Bên cạnh đó, đức tin đòi hỏi một dấn thân cụ thể. Như Chúa Giêsu được nhận ra khi bẻ bánh, tín hữu Kitô cũng được mời gọi trở thành “tấm bánh được bẻ ra” cho người khác - nghĩa là sống tinh thần hy sinh, phục vụ và yêu thương. Điều này đặc biệt quan trọng trong bối cảnh Angola còn nhiều khó khăn về kinh tế, xã hội và các hình thức nghèo đói. Giáo hội cần hiện diện như một cộng đoàn biết lắng nghe, chữa lành và khơi lại hy vọng. Đức Thánh cha kêu gọi mọi thành phần trong Giáo hội - từ giám mục, linh mục, tu sĩ đến giáo dân - sống tinh thần dấn thân, xây dựng tình huynh đệ, tha thứ và liên đới. Qua đó, họ góp phần chữa lành những vết thương của quá khứ và xây dựng một xã hội mới, nơi không còn hận thù, bạo lực và tham nhũng, nhưng thay vào đó là công lý và chia sẻ.
Đức Thánh cha nhấn mạnh rằng nhờ ơn Chúa Kitô Phục Sinh, mỗi người có thể trở thành tác nhân biến đổi xã hội. Thánh Thể nhắc nhở mọi người rằng họ là một thân thể hiệp nhất, cùng hướng đến việc xây dựng một tương lai tốt đẹp hơn, đặc biệt cho giới trẻ - những người đang cần hy vọng.
Sau cùng, Đức Thánh cha khích lệ cộng đoàn tín hữu Angola can đảm nhìn về tương lai với niềm tin và chủ động xây dựng hy vọng. Ngài nhấn mạnh rằng Chúa Giêsu luôn đồng hành và nâng đỡ họ trên hành trình này. Bài giảng của Đức Thánh cha kết thúc với lời phó thác mọi người cho Đức Maria, xin Mẹ nâng đỡ họ trong đức tin, hy vọng và tình yêu, để họ trở thành chứng nhân của sự phục sinh và kiến tạo một xã hội mới tốt đẹp hơn.
Cuối thánh lễ, Đức Tổng giám mục Filomeno do Nascimento Vieira Dias, Tổng giám mục Giáo phận Luanda sở tại đã đại diện mọi người cám ơn Đức Thánh cha.
Sau đó, Đức Thánh cha mời gọi cộng đoàn đã cùng đọc kinh Lạy Nữ Vương Thiên Đàng.
Trong bài huấn dụ ngắn trước khi đọc kinh, Đức Thánh cha nói: “Anh chị em thân mến,
Giờ đây chúng ta cùng hiệp lời cầu nguyện với Đức Maria trong kinh Nữ Vương Thiên Đàng, để cùng với Mẹ - là Mẹ và là bạn đồng hành trên hành trình - chia sẻ niềm vui Phục sinh.
Với bài ca hân hoan này, chúng ta không muốn xóa bỏ hay dập tắt tiếng kêu của những người đang đau khổ, nhưng đúng hơn là ôm lấy tiếng kêu ấy và hòa vào tiếng nói của chúng ta, trong một sự hòa hợp mới, để ngay cả trong đau khổ, ánh sáng của đức tin vẫn luôn sống động, và cùng với đó là niềm hy vọng vào một thế giới tốt đẹp hơn.
Chúa Kitô đã chiến thắng sự chết, và chính với niềm xác tín này, tất cả chúng ta - hiệp nhất với Người và trong Người như một thân thể duy nhất - hôm nay cũng như mỗi ngày đều dấn thân làm cho quanh mình trổ sinh những hoa trái của lễ Phục Sinh, đó là tình yêu, công lý đích thực và hòa bình, vượt trên mọi trở ngại và khó khăn.
Xin Mẹ của Chúa Giêsu, Mẹ của Con Tim, giúp chúng ta luôn cảm nhận cách sống động và mạnh mẽ, bên cạnh chúng ta, sự hiện diện của Con Mẹ đã phục sinh.
Sau đọc kinh Lạy Nữ Vương Thiên Đàng và ban phép lành kết thúc, Đức Thánh cha trở về Tòa Sứ thần để dùng bữa trưa và nghỉ ngơi.
