Sống Lời Chúa Hôm Nay
- Viết bởi Linh mục Anthony Đinh Minh Tiên, OP
Kính Thánh Batôlômêô Tông Đồ
Bài đọc: Rev 21:9b-14; Jn 1:45-51.
GIỚI THIỆU CHỦ ĐỀ: Đến mà xem.
Có những sự vật vì ngôn ngữ không đủ để diễn tả; nên con người cần phải đến mà xem mới biết; ví dụ, các kỳ quan thế giới. Có những danh nhân được nhiều người ca tụng; nhưng để hiểu con người của họ, một người cần đến tiếp xúc trực tiếp với họ; ví dụ, nữ hoàng Phương Nam đến gặp vua Solomon để học hỏi sự khôn ngoan của ông. Đức Kitô là đối tượng của niềm tin mà con người cần học hỏi và có kinh nghiệm trực tiếp. Người khác có thể giới thiệu hay nói về Đức Kitô cho con người; nhưng để có thể tin chắc chắn vào Đức Kitô, con người cần đến với Ngài để học hỏi và có kinh nghiệm cá nhân với Ngài.
Các Bài Đọc hôm nay muốn nhấn mạnh đến kinh nghiệm trực tiếp một người phải có, trước khi tin vào đối tượng mà họ đang muốn tìm hiểu. Trong Bài Đọc I, thiên thần của Thiên Chúa mang tác giả lên một ngọn núi cao, để ông có thể chiêm ngưỡng tận mắt Hiền Thê của Con Chiên là Giáo Hội. Hiền Thê đây chính là Thành Thánh Jerusalem lý tưởng đến từ trời, là tập hợp của 12 chi tộc Israel của Thiên Chúa trong Cựu Ước và 12 Tông-đồ của Đức Kitô trong Tân Ước.
Trong Phúc Âm, Philip sau khi nhận biết Đức Kitô, đến gặp Nathanael để giới thiệu Đức Kitô với ông. Nathanael nghi ngờ khi Philip nói Đức Kitô đến từ Nazareth; nhưng Philip nhấn mạnh ông cứ đến mà xem cho chính ông. Nathanael đã tới và nhận ra Đức Kitô.
KHAI TRIỂN BÀI ĐỌC:
1/ Bài đọc I: "Lại đây, tôi sẽ chỉ cho ông thấy Tân Nương, Hiền Thê của Con Chiên."
1.1/ Giáo Hội là Tân Nương, Hiền Thê của Đức Kitô: Một thiên thần đến bảo tác giả: "Lại đây, tôi sẽ chỉ cho ông thấy Tân Nương, Hiền Thê của Con Chiên." Rồi đang khi tôi xuất thần, thì người đem tôi lên một ngọn núi cao hùng vĩ, và chỉ cho tôi thấy Thành Thánh, là Jerusalem, từ trời, từ nơi Thiên Chúa mà xuống, chói lọi vinh quang Thiên Chúa. Thành rực sáng tựa đá quý tuyệt vời, như ngọc thạch trong suốt tựa pha lê."
+ Giáo Hội được ví như thành thánh Jerusalem, nơi là nguồn gốc và trung tâm điểm của Giáo Hội. Sự kiện Thành Thánh Jerusalem xuất hiện từ trời muốn nói lên đây là mô hình kiểu mẫu mà Thiên Chúa đã chuẩn bị cho Giáo Hội. Giáo Hội lữ hành trần thế sẽ được chung hưởng vinh quang với Giáo Hội vinh quang trên trời.
+ Vinh quang của Giáo Hội là phản ánh vinh quang của Thiên Chúa: Sự hiện diện của Thiên Chúa làm vinh quang của Ngài bao trùm Giáo Hội. Những chi tiết mô tả ở đây muốn nói lên sự thánh thiện vô tì tích của Giáo Hội sau khi đã được tẩy rửa và thánh hóa bởi Máu của Con Chiên là Đức Kitô.
1.2/ Giáo Hội là sự kết hợp liên tục giữa Cựu Ước và Tân Ước:
+ 12 chi tộc Israel (Eze 48:30-35, Exo 28:17-31): "Thành có tường rộng và cao, với mười hai cửa do mười hai thiên thần canh giữ, và trên các cửa có ghi tên mười hai chi tộc con cái Israel."
+ 4 phương: Đông, Tây, Nam, Bắc; mỗi phương có 3 cửa để tiếp nhận mọi dân tộc vào Giáo Hội.
+ 12 Tông-đồ của con chiên (Mt 19:28, Lk 22:29): "Tường thành xây trên mười hai nền móng, trên đó có tên mười hai Tông Đồ của Con Chiên."
2/ Phúc Âm: "Thưa Thầy, chính Thầy là Con Thiên Chúa, chính Thầy là Vua Ít-ra-en!"
2.1/ Phải trút bỏ thành kiến để học hỏi những điều mới lạ: Thánh Thomas Aquinas nói: "Yêu ai là mong muốn sự tốt lành cho người ấy." Trong quãng đời công khai rao giảng của Đức Kitô, chúng ta thấy kiểu mời gọi này: Khi đã nhận biết Đức Kitô, Gioan Tẩy Giả giới thiệu Ngài cho hai môn đệ đi theo (Jn 1:35-37). Một trong hai môn đệ là Anrê đã giới thiệu Đức Kitô cho em mình là Phêrô (Jn 1:40-42). Trong trình thuật hôm nay, Philip mời gọi ông Nathanael đến gặp Chúa và nói: "Đấng mà sách Luật Moses và các ngôn sứ nói tới, chúng tôi đã gặp: đó là ông Giêsu, con ông Giuse, người Nazareth." Ông Nathanael liền bảo: "Từ Nazareth, làm sao có cái gì hay được?" Ông Philíp trả lời: "Cứ đến mà xem!"
Thành kiến giam hãm và ngăn cản con người không nhìn ra sự thật. Hai điều có thể ngăn cản Nathanael không đến với Chúa: Thứ nhất, sự cạnh tranh giữa các làng mạc: Nathanael quê ở Cana; giữa Cana và Nazareth có thể có sự cạnh tranh vì hai làng rất gần nhau. Thứ hai, theo Kinh Thánh, Đấng Thiên Sai sẽ xuất hiện tại Bethlehem là quê hương của vua David, chứ đâu xuất hiện tại Nazareth, một làng quê mùa phía Bắc như vậy. Đứng trước nhận định khinh thường như thế, Philip không nản chí, nhưng vẫn khuyến khích bạn: thì cứ thử đến mà xem! Nathanael có lẽ vì nể tình bạn với Philip, nên đi đến gặp Đức Kitô.
2.2/ Cuộc hạnh ngộ giữa Đức Kitô và Nathanael.
(1) Đức Kitô khơi dậy niềm tin nơi Nathanael: Đức Giêsu thấy ông Nathanael tiến về phía mình, liền nói về ông rằng: "Đây đích thật là một người Israel, lòng dạ không có gì gian dối." Đây là ý tưởng của Thánh Vịnh 32:2, "Hạnh phúc thay, người Chúa không hạch tội, và lòng trí chẳng chút gian tà."
Phản ứng trước tiên của Nathanael là sửng sốt vì ông chưa gặp Ngài bao giờ, thế mà Ngài lại thấu suốt cuộc đời của ông. Ông Nathanael hỏi Người: "Làm sao Ngài lại biết tôi?" Đức Giêsu trả lời: "Trước khi Philíp gọi anh, lúc anh đang ở dưới cây vả, tôi đã thấy anh rồi." Lại một ngạc nhiên nữa, Chúa Giêsu có khả năng nhìn thấy mọi nơi, điển hình là lúc ông đang nói chuyện với Philip dưới gốc cây vả. Biết mình không còn gì có thể giấu Chúa Giêsu, ông khiêm nhường thú nhận: "Thưa Thầy, chính Thầy là Con Thiên Chúa, chính Thầy là Vua Israel!"
(2) Đức Kitô hứa sẽ cho Nathanael thấy những điều kỳ diệu hơn nữa: Đức Giêsu đáp: "Vì tôi nói với anh là tôi đã thấy anh ở dưới cây vả, nên anh tin! Anh sẽ còn được thấy những điều lớn lao hơn thế nữa." Người lại nói: "Thật, tôi bảo thật các anh, các anh sẽ thấy trời rộng mở, và các thiên thần của Thiên Chúa lên lên xuống xuống trên Con Người."
+ Thị kiến chiếc thang của Jacob: Cụm từ "Thiên thần lên lên xuống xuống" nhắc nhở chúng ta thị kiến chiếc thang trong giấc mơ của tổ-phụ Jacob tại Bethel (Gen 28:12-13). Đức Kitô giải thích Ngài là chiếc thang nối kết giữa Trời và Đất, các sứ thần của Thiên Chúa sẽ không ngừng lên xuống để dâng lời cầu nguyện của con người lên Thiên Chúa, và chuyển ơn thánh từ Thiên Chúa xuống cho con người.
+ Ai là Nathanael mà Tin Mừng Gioan đề cập đến ở đây? Có nhiều cách cắt nghĩa khác nhau: (1) một hình ảnh lý tưởng tượng trưng cho con cái Israel; (2) có người cho là Phaolô hay người "môn đệ được Chúa yêu;" và (3), là tông-đồ Bartholomew mà Tin Mừng Nhất Lãm đề cập tới. Sự kiện chúng ta mừng lễ thánh Bartholomew chứng tỏ Giáo Hội chấp nhận cách giải thích số (3).
ÁP DỤNG TRONG CUỘC SỐNG:
- Chúng ta cần dành thời giờ để học hỏi và phát triển mối liên hệ mật thiết với Đức Kitô. Chỉ có thế mới giúp chúng ta có được một niềm tin yêu vững mạnh nơi Ngài.
- Bổn phận của chúng ta là giới thiệu cho mọi người đến với Đức Kitô, chứ không phải tập trung vào chúng ta. Chúng ta có thể giới thiệu Đức Kitô cho tha nhân bằng lời giảng hay bằng cuộc sống chứng nhân của mình. Chúng ta đừng bao giờ ngăn cản tha nhân đến với Thiên Chúa vì lời giảng hay hành động của chúng ta.
Linh mục Anthony Đinh Minh Tiên, OP
- Viết bởi Linh mục Anthony Đinh Minh Tiên, OP
Chúa Nhật 21 Thường Niên, Năm B
Bài đọc: Jos 24:1-2, 15-17; Eph 5:21-32; Jn 6:60-69.
GIỚI THIỆU CHỦ ĐỀ: Phải biết làm các quyết định khôn ngoan trong cuộc đời.
Con người phải thường xuyên làm rất nhiều quyết định trong cuộc đời: có những quyết định không quan trọng cho lắm như ăn gì, uống gì, mặc gì; nhưng cũng có những quyết định quan trọng ảnh hưởng đến cả cuộc đời như chọn nghề nghiệp, chọn người để kết hôn, chọn tôn giáo để tin. Khi con người làm quyết định, con người phải chịu trách nhiệm và lãnh nhận mọi hậu quả sẽ xảy ra; vì thế, con người phải biết quyết định cách khôn ngoan. Để biết quyết định cách khôn ngoan, con người cần học hỏi và suy xét để biết trước những hậu quả có thể xảy ra.
Các Bài Đọc hôm nay dẫn chứng những trường hợp con người phải quyết định cách khôn ngoan. Trong Bài Đọc I, Thủ Lãnh Joshua triệu tập đại hội tại Shechem, để buộc con cái Israel phải biết quyết định dứt khoát: thờ phượng một Thiên Chúa hay thờ phượng các thần ngoại bang. Trong Bài Đọc II, thánh Phaolô đưa ra hình ảnh lý tưởng của sự kết hiệp giữa Đức Kitô và Hội Thánh để làm gương cho vợ chồng phải trung thành với nhau suốt đời. Để có thể trung thành suốt đời, vợ cần phải vâng lời chồng, và chồng cần phải yêu thương vợ như yêu chính thân thể của mình. Trong Phúc Âm, sau khi đã làm hai phép lạ cả thể, dạy dỗ và mặc khải cho dân chúng về mầu nhiệm Thánh Thể, có hai phản ứng trái ngược nhau xảy ra: Một số các môn đệ chọn bỏ Chúa Giêsu vì không thể chấp nhận "ăn thịt và uống máu" Ngài để được sống. Nhưng Phêrô đại diện cho Nhóm Mười Hai chọn ở lại và tuyên xưng đức tin vào Chúa Giêsu: "Thưa Thầy, bỏ Thầy thì chúng con biết đến với ai? Thầy mới có những lời đem lại sự sống đời đời."
KHAI TRIỂN BÀI ĐỌC:
1/ Bài đọc I: Phần tôi và gia đình tôi, chúng tôi chọn phụng thờ Đức Chúa.
1.1/ Anh em có quyền lựa chọn thần nào thích để thờ: Sau khi đã dẹp tan các dân bản xứ và định cư con cái Israel trong Đất Hứa, ông Joshua biết mình đã hoàn tất nhiệm vụ Chúa trao và sẵn sàng về yên nghỉ với cha ông; nên ông truyền quy tụ ở Shechem mọi chi tộc Israel, tất cả các kỳ mục của Israel, các thủ lãnh, thẩm phán và ký lục. Họ đứng trước nhan Thiên Chúa.
Rồi ông Joshua nói với toàn dân: "Đức Chúa, Thiên Chúa của Israel, phán thế này: "Thuở xưa, khi còn ở bên kia Sông Cả, cha ông các ngươi, cho đến Terah là cha của Abraham và của Nahor, đã phụng thờ các thần khác. Nếu anh em không bằng lòng phụng thờ Đức Chúa, thì hôm nay anh em cứ tuỳ ý chọn thần mà thờ hoặc là các thần cha ông anh em đã phụng thờ bên kia Sông Cả, hoặc là các thần của người Amorites mà anh em đã chiếm đất để ở. Về phần tôi và gia đình tôi, chúng tôi sẽ phụng thờ Đức Chúa."
1.2/ Chúng tôi chọn thờ Đức Chúa: Dân đáp lại: "Chúng tôi không hề có ý lìa bỏ Đức Chúa để phụng thờ các thần khác! Vì chính Đức Chúa, Thiên Chúa của chúng tôi, đã đem chúng tôi cùng với cha ông chúng tôi lên từ đất Ai-cập, từ nhà nô lệ, đã làm trước mắt chúng tôi những dấu lạ lớn lao đó, đã gìn giữ chúng tôi trên suốt con đường chúng tôi đi, giữa mọi dân tộc chúng tôi đã đi ngang qua."
2/ Bài đọc II: Trung thành trong ơn gọi gia đình.
Để bảo vệ hạnh phúc gia đình, cả hai vợ chồng đều phải quyết định làm những gì cần thiết; một người quyết định không đủ để gìn giữ hạnh phúc gia đình. Thánh Phaolô dùng một mối liên hệ bao quát và thâm sâu hơn để diễn tả mối liên hệ vợ chồng.
2.1/ Bổn phận của người vợ: "Người làm vợ hãy tùng phục chồng như tùng phục Chúa, vì chồng là đầu của vợ cũng như Đức Kitô là đầu của Hội Thánh, chính Người là Đấng cứu chuộc Hội Thánh, thân thể của Người. Và như Hội Thánh tùng phục Đức Kitô thế nào, thì vợ cũng phải tùng phục chồng trong mọi sự như vậy." Mục đích của sự vâng lời là cho sự hiệp nhất trong gia đình và Giáo Hội. Nếu thân xác con người không thể có hai đầu, gia đình và Giáo Hội cũng không thể có hai nhà lãnh đạo hay hai Chúa.
2.2/ Bổn phận của người chồng: "Người làm chồng, hãy yêu thương vợ, như chính Đức Kitô yêu thương Hội Thánh và hiến mình vì Hội Thánh." Ba điều Đức Kitô làm để tỏ tình yêu thương với Hội Thánh:
(1) Hiến mình vì Hội Thánh: Không có tình yêu nào thâm sâu và cao quí cho bằng tình của người sẵn sàng hy sinh mạng sống cho người yêu. Đức Kitô hiến mình chuộc tội để Hội Thánh khỏi phải chết và được sống.
(2) Thánh hoá và thanh tẩy Hội Thánh bằng nước và lời hằng sống: Vì muốn có một Hội Thánh xinh đẹp lộng lẫy, không tỳ ố, không vết nhăn hoặc bất cứ một khuyết điểm nào, nhưng thánh thiện và tinh tuyền; Đức Kitô đã dùng nước để rửa Hội Thánh sạch mọi tội, dùng Lời để chỉ dẫn điều hay lẽ phải, và dùng ơn thánh qua các Bí-tích để thánh hóa mọi phần tử của Hội Thánh.
(3) Nuôi nấng và chăm sóc Hội Thánh: như chăm sóc thân thể của chính mình: Cũng thế, chồng phải yêu vợ như yêu chính thân thể mình. Yêu vợ là yêu chính mình. Quả vậy, có ai ghét thân xác mình bao giờ; trái lại, người ta nuôi nấng và chăm sóc thân xác mình, cũng như Đức Kitô nuôi nấng và chăm sóc Hội Thánh, vì chúng ta là bộ phận trong thân thể của Người.
3/ Phúc Âm: Lời dạy của Đức Kitô về Thánh Thể dẫn tới hai quyết định trái ngược nhau.
3.1/ Nhiều môn đệ rút lui, không còn đi theo Người nữa: Nghe rồi, nhiều môn đệ của Người liền nói: "Lời này chướng tai quá! Ai mà nghe nổi?" Nhưng Đức Giê-su tự mình biết được là các môn đệ đang xầm xì về vấn đề ấy, Người bảo các ông: "Điều đó, anh em lấy làm chướng, không chấp nhận được ư? Vậy nếu anh em thấy Con Người lên nơi đã ở trước kia thì sao? Thần khí mới làm cho sống, chứ xác thịt chẳng có ích gì. Lời Thầy nói với anh em là thần khí và là sự sống. Nhưng trong anh em có những kẻ không tin." Quả thật, ngay từ đầu, Đức Giêsu đã biết những kẻ nào không tin, và kẻ nào sẽ nộp Người. Người nói tiếp: "Vì thế, Thầy đã bảo anh em: không ai đến với Thầy được, nếu Chúa Cha không ban ơn ấy cho."
Tại sao các môn đệ không tin, rút lui, và không còn đi theo Chúa nữa?
(1) Họ không nhận ra Chúa Giêsu là ai: Nếu họ nhận ra, họ đã không bỏ đi. Họ không nghĩ Chúa Giêsu là giải pháp độc nhất cho cuộc đời của họ. Chúa Giêsu nhận ra đây là sứ vụ quan trọng nhất trong sứ vụ của Ngài, nên Ngài làm mọi sự có thể để khơi dậy niềm tin nơi con người.
(2) Họ không hiểu các mặc khải và những lời dạy dỗ khôn ngoan của Chúa Giêsu: Trước tiên, họ không hiểu về Kế Hoạch Cứu Độ của Thiên Chúa. Thứ đến, họ không hiểu về mục đích của cuộc đời và làm sao để đạt mục đích đó. Sau cùng, họ không hiểu tại sao phải ăn thịt và uống máu Chúa để có sự sống và đạt được cuộc sống đời đời.
(3) Họ cậy dựa hoàn toàn vào lý luận của con người và không biết giới hạn của con người: Họ nghĩ họ chỉ tin những gì có thể hiểu được và từ chối không tin những gì vượt quá sự hiểu biết của họ. Chúa Giêsu nói rõ đức tin và mầu nhiệm Thánh Thể vượt quá sự hiểu biết của con người, họ chỉ có thể hiểu được với ơn thánh của Thiên Chúa (6:37, 44, 65).
(4) Họ không biết, không hiểu, và hiểu sai Kinh Thánh: Chúa Giêsu sửa sai họ: "Không phải ông Moses đã cho họ ăn manna, mà là Thiên Chúa" (6:32); và đây là hình bóng của những gì Ngài đang nói với họ về Bí-tích Thánh Thể. Ngài làm hoàn hảo lời các ngôn sứ (Isa 54:13, Jer 31:33-34) khi ngồi giữa họ để dạy họ hiểu biết những gì về Thiên Chúa.
3.2/ Phêrô đại diện cho Nhóm Mười Hai tuyên xưng đức tin vào Chúa Giêsu: Đức Giêsu hỏi Nhóm Mười Hai: "Cả anh em nữa, anh em cũng muốn bỏ đi hay sao?" Ông Simon Phêrô liền đáp: "Thưa Thầy, bỏ Thầy thì chúng con biết đến với ai? Thầy mới có những lời đem lại sự sống đời đời. Phần chúng con, chúng con đã tin và nhận biết rằng chính Thầy là Đấng Thánh của Thiên Chúa."
+ Tin Mừng Gioan không tường thuật biến cố tuyên xưng đức tin của Phêrô tại Caersarea Philippi; nhưng thay thế bằng lời tuyên xưng đức tin của Phêrô hôm nay.
+ "Đấng Thánh của Thiên Chúa:" có thể so sánh với "Đấng Thiên Sai" hay "Đấng được xức dầu" trong Tin Mừng Nhất Lãm. Chỉ có 3 nhân vật được gọi là Đấng Thánh trong Tin Mừng Gioan: Chúa Cha (17:11), Chúa Giêsu (6:69), và Chúa Thánh Thần (1:33, 14:26, 20:33). Vì Ba Ngôi tự bản chất là thánh, nên họ có thể thánh hóa con người.
Chúng ta hãy suy xét những lý do Phêrô có thể dùng để tuyên xưng đức tin vào Chúa Giêsu:
(1) Phêrô đã chứng kiến ít nhất hai phép lạ từ đầu chương 6: Bánh hóa nhiều để nuôi 5,000 người ăn và Chúa Giêsu làm cho sóng gió phải yên lặng. Mục đích của phép lạ là để khơi dậy niềm tin. Chứng kiến hai phép lạ to lớn này, Phêrô nhận ra Chúa Giêsu sở hữu quyền lực của Thiên Chúa.
(2) Phêrô đã lắng nghe những lời mặc khải và dạy dỗ khôn ngoan của Chúa Giêsu; nhất là lời mặc khải về mục đích của cuộc đời (Jn 6:39-40). Con người sống trên đời này là cho một mục đích: để về hưởng hạnh phúc đời đời bên Thiên Chúa. Để đạt mục đích này, con người cần tin vào Đức Kitô.
(3) Phêrô đã lắng nghe Chúa Giêsu giải nghĩa Kinh Thánh: Nhiều người cũng đọc Kinh Thánh, nhưng không phải ai cũng có thể hiểu Kinh Thánh. Chúa Giêsu cắt nghĩa về manna và sự nối kết cần thiết với mầu nhiệm Thánh Thể; và về lời sấm "mọi người sẽ được Thiên Chúa dạy bảo" của tiên tri Isaiah và Jeremiah. Ngài vạch ra cho mọi người thấy Ngài đến để làm trọn những lời tiên tri này khi ngồi giữa để dạy dỗ họ về những mầu nhiệm của Thiên Chúa.
(4) Phêrô đã lắng nghe những cuộc đối thoại giữa Chúa Giêsu và người Do-thái: Những cuộc đối thoại này cần thiết để nhận ra chân lý từ những sai lầm. Những sai lầm của người Do-thái được sửa chữa bằng những lý luận khôn ngoan và vững chắc của Đức Kitô.
(5) Phêrô biết Thiên Chúa, biết mình, và biết giới hạn của con người: Phêrô thú nhận một sự thật: Chỉ có Thiên Chúa mới có những Lời mang lại sự sống đời đời. Con người không phát minh sự thật, nhưng học hỏi sự thật từ Thiên Chúa. Khi con người không hiểu sự thật, không có nghĩa là sự thật không có; nhưng vì khả năng hiểu biết con người quá hạn hẹp và yếu kém.
(6) Phêrô biết tổng hợp tất cả những điều trên để đi đến kết luận là tuyên xưng đức tin của mình vào Thiên Chúa.
ÁP DỤNG TRONG CUỘC SỐNG:
- Chúng ta phải dành nhiều thời giờ để học hỏi thì mới biết quyết định cách khôn ngoan. Nếu không chịu học hỏi, chúng ta sẽ dễ dàng quyết định cách không chín chắn hoặc sai lầm.
- Sai một ly đi một dặm. Quyết định sai lầm sẽ dẫn chúng ta đến thiệt hại to lớn, và ngăn cản chúng ta đạt được mục đích của cuộc đời.
- Bí-tích Thánh Thể vô cùng quan trọng cho cuộc đời. Hiểu sai về Bí-tích này sẽ gây rất nhiều thiệt hại trong cuộc sống, và ngăn cản chúng ta không đạt được cuộc sống đời sau.
Linh mục Anthony Đinh Minh Tiên, OP
- Viết bởi Linh mục Anthony Đinh Minh Tiên, OP
Thứ Bảy Tuần 20 TN1, Năm lẻ.
Bài đọc: Ruth 2:1-3, 8-11, 4:13-17; Mt 23:1-12.
GIỚI THIỆU CHỦ ĐỀ: Thiên Chúa ghé mắt nhìn xem những người khiêm nhường phục vụ.
Con người ham hố quyền hành, danh vọng, chức tước; nên khi phải làm gì, họ muốn làm trước đám đông để được tiếng khen và được lựa chọn vào những vị thế quyền cao chức trọng. Ngược lại, Thiên Chúa yêu thương những kẻ khó nghèo, khiêm nhường, và phục vụ tha nhân, như lời Kinh Magnificat của Đức Mẹ chúng ta thường đọc: "Kẻ đói nghèo, Chúa ban của đầy dư. Người giầu có, đuổi về bàn tay trắng... Người lật đổ người quyền hành khỏi ngai vàng và nâng cao những người phận nhỏ thấp hèn." Gương khiêm nhường của Mẹ Maria là một trường hợp điển hình: từ phận nữ tỳ hèn hạ, Chúa đã nâng Mẹ lên Nữ Vương cả trời và đất.
Các Bài Đọc hôm nay so sánh hai loại người đối nghịch nhau này. Trong Bài Đọc I, vì yêu thương phục vụ mẹ chồng, nàng Ruth sẵn sàng chịu cực khổ đi mót lúa về nuôi mẹ chồng. Hành động khiêm nhường phục vụ này không qua khỏi mắt của ông Boaz và Thiên Chúa. Ông Boaz dành mọi dễ dãi cho nàng để kiềm được nhiều lúa, và Thiên Chúa thúc đẩy ông Boaz cưới nàng làm vợ; để hai mẹ con bà Ruth có chỗ nương tựa, và có người con trai nối dõi tông đường. Trong Phúc Âm, Chúa Giêsu lên án cuộc sống của các kinh-sư và biệt-phái: không phải vì giáo lý họ giảng dạy; nhưng lối sống hai mặt của họ khi làm các việc lành phúc đức.
KHAI TRIỂN BÀI ĐỌC:
1/ Bài đọc I: Nó sẽ giúp bà lấy lại sức sống, và sẽ là người nâng đỡ bà trong tuổi già.
1.1/ Ở hiền gặp lành: Bà Naomi có một thân nhân bên họ nhà chồng, một người khá giàu, thuộc thị tộc Elimelech. Người ấy tên là Boaz.
(1) Ruth đi mót lúa để nuôi mẹ chồng: Vì cả hai mẹ con đều góa bụa, và mới trở về Bethlehem từ ngoại quốc, họ không biết làm gì để sinh sống; nên nàng Ruth, người Moab, nói với bà Naomi: "Xin mẹ để con đi ra ruộng mót lúa đằng sau người nào có lòng nhân từ đoái nhìn con." Bà trả lời: "Con cứ đi đi." Nàng đi và đến ruộng mót lúa đằng sau thợ gặt. Nàng may mắn gặp được một thửa ruộng của ông Boaz, người trong thị tộc Elimelech.
Ông chủ ruộng là Boaz nói với Ruth: "Này con, con có nghe không? Đừng đi mót ở ruộng nào khác, cũng đừng rời khỏi đây, nhưng cứ theo sát các tớ gái của ta. Con nhìn thửa ruộng chúng gặt và cứ đi theo chúng. Nào ta đã chẳng ra lệnh cho các tôi tớ không được đụng tới con sao? Nếu khát, con cứ đến chỗ để bình mà uống nước các tôi tớ đã múc."
(2) Lý do Ruth được ông Boaz đoái thương đến: Thấy ông Boaz đối xử với mình quá tốt, nàng Ruth liền cúi rạp xuống đất mà lạy ông, rồi nói: "Sao con lại được ông lấy lòng nhân từ đoái nhìn và quan tâm đến, dù con là một người ngoại quốc?" Ông Boaz đáp: "Người ta đã kể lại cho ta nghe tất cả những gì con đã làm cho mẹ chồng sau khi chồng con mất, cũng như chuyện con đã bỏ cả cha mẹ và quê hương, mà đến với một dân trước kia con không hề biết tới."
1.2/ Thiên Chúa quan phòng và chúc lành cho cuộc hôn nhân thứ hai của bà Ruth: Sau đó ít lâu, "ông Boaz lấy cô Ruth, và nàng trở thành vợ ông. Ông đến với nàng. Nhờ ơn Đức Chúa, nàng đã thụ thai và sinh một con trai." Có nhiều chi tiết cần để ý trong cuộc hôn nhân này:
+ Ông Boaz là người trong họ hàng với chồng bà Naomi. Theo tục lệ, ông có thể lấy nàng Ruth để có con nối dõi tông đường cho gia đình bà Naomi.
+ Có nhà chú giải cho bà Naomi hay nàng Ruth có ý chọn thửa ruộng của ông Boaz để mót lúa. Điều này có thể; nhưng ông Boaz là người giầu có, ông có thể từ chối vì nàng Ruth quá nghèo. Hơn nữa, Ruth còn là người ngoại quốc.
+ Dù sao chăng nữa, Thiên Chúa cũng là người quan phòng cách khôn ngoan cho cuộc hôn nhân thứ hai của nàng Ruth: để hai mẹ con có người săn sóc trong cảnh góa bụa nghèo khó, và nhất là để hai bà góa có con cháu nối dõi tông đường. Các phụ nữ nói với bà Naomi: "Chúc tụng Đức Chúa, Đấng hôm nay đã không để cho bà phải thiếu người bảo tồn giòng dõi: tên tuổi con trẻ sẽ được tung hô tại Israel! Nó sẽ giúp bà lấy lại sức sống, và sẽ là người nâng đỡ bà trong tuổi già, vì người con dâu biết yêu quý bà đã sinh ra nó, nàng quý giá hơn bảy đứa con trai."
+ Thiên Chúa quan phòng cho đứa trẻ này nằm trong giòng tộc của vua David và của Đức Kitô, Đấng Cứu Thế. Trình thuật kể: "Các bà hàng xóm láng giềng đặt tên cho đứa trẻ là Obed. Đó là cha của ông Jesse, là ông nội vua David."
2/ Phúc Âm: Người làm lớn hơn cả phải là người phục vụ anh em.
2.1/ Hãy nghe những gì các kinh sư nói; nhưng đừng bắt chước những gì họ làm: Trước tiên, Chúa không chê trách giáo lý và Lề Luật mà các kinh-sư và biệt-phái dạy dỗ dân chúng. Điều Chúa lên án là việc làm của họ: "Các kinh sư và các người Pharisees ngồi trên toà ông Moses mà giảng dạy. Vậy, tất cả những gì họ nói, anh em hãy làm, hãy giữ, còn những việc họ làm, thì đừng có làm theo, vì họ nói mà không làm." Lý do:
(1) Họ không làm gương sáng cho người khác bắt chước: Họ muốn người khác làm, nhưng chính họ thì lại không buồn động ngón tay vào.
(2) Họ làm mọi việc cốt để cho thiên hạ thấy: Quả vậy, họ đeo những hộp kinh thật lớn, mang những tua áo thật dài. Họ ưa ngồi cỗ nhất trong đám tiệc, chiếm hàng ghế đầu trong hội đường, ưa được người ta chào hỏi ở những nơi công cộng và được thiên hạ gọi là "Rabbi."
2.2/ Lãnh đạo bằng khiêm nhường phục vụ: Ngược lại với lối sống giả hình của các kinh-sư và biệt-phái, Chúa Giêsu khuyên các môn đệ:
(1) Đừng ham địa vị, chức tước, quyền hành: "Phần anh em, thì đừng để ai gọi mình là "Rabbi," vì anh em chỉ có một Thầy; còn tất cả anh em đều là anh em với nhau. Anh em cũng đừng gọi ai dưới đất này là cha của anh em, vì anh em chỉ có một Cha là Cha trên trời. Anh em cũng đừng để ai gọi mình là người lãnh đạo, vì anh em chỉ có một vị lãnh đạo, là Đức Kitô." Khi nói những điều này, Chúa Giêsu không chú ý đến từ ngữ cho bằng đến ý hướng bên trong. Ví dụ, Ngài không đả kích việc con cái phải gọi người sinh ra mình là cha; nhưng ngài đả kích sự ham thích của một người muốn được làm Thầy, Cha, nhà lãnh đạo của thiên hạ. Một cách tuyệt đối, chỉ có Thiên Chúa và Đức Kitô mới xứng đang những danh hiệu này.
(2) Hãy biết khiêm nhường phục vụ tha nhân: "Trong anh em, người làm lớn hơn cả, phải là người phục vụ anh em. Ai tôn mình lên, sẽ bị hạ xuống; còn ai hạ mình xuống, sẽ được tôn lên."
ÁP DỤNG TRONG CUỘC SỐNG:
- Chúng ta phải biết kính sợ Thiên Chúa và chân thành yêu thương tha nhân. Thiên Chúa luôn ghé mắt nhìn đến và chúc lành cho những người hết lòng yêu thương và phục vụ tha nhân.
- Để làm chứng cách hiệu quả cho Thiên Chúa và cho con người, lời nói của chúng ta phải luôn đi đôi với hành động. Đừng bao giờ nói mà không làm.
Linh mục Anthony Đinh Minh Tiên, OP
- Viết bởi Linh mục Anthony Đinh Minh Tiên, OP
Thứ Sáu Tuần 20 TN1, Năm B
Bài đọc: Ruth 1:1, 3-6, 14b-16, 22; Mt 22:34-40.
GIỚI THIỆU CHỦ ĐỀ: Mến Chúa, yêu người.
Ngày xưa, khi còn ở Việt-nam, các con dâu rất sợ mẹ chồng và sợ làm dâu cho gia đình chồng, vì có những bà mẹ chồng rất khắc nghiệt. Họ quan niệm phải trả thù con dâu, vì ngày xưa khi làm dâu, họ cũng từng bị đối xử như vậy. Ngày nay, bên các xứ Âu Mỹ này, các mẹ chồng lại sợ con dâu, và nhiều còn gọi là "bà dâu." Họ sợ con dâu bầy ra những lý do để cho họ vào viện dưỡng lão, và nhất là sợ con dâu sẽ ly dị để con trai mình phải ở góa. Cả hai thái cực đều quá đáng, và cả mẹ chồng lẫn con dâu Công Giáo cần phải thay đổi thái độ. Khi đối xử với nhau xung khắc như thế, họ đã không giữ giới răn "mến Chúa yêu người" như Chúa dạy. Ngoài ra, họ còn đặt con trai hay người chồng của họ vào vị thế phải điên đầu chọn lựa giữa "bên tình, bên hiếu." Chọn bên nào cũng không được vì Thiên Chúa đòi phải chọn cả hai.
Các Bài Đọc hôm nay cung cấp các chất liệu cho mọi người, cách riêng mẹ chồng con dâu, những chất liệu để suy tư. Trong Bài Đọc I, tác giả cho chúng ta một mẫu gương tuyệt vời về mối liên hệ giữa mẹ chồng Naomi và con dâu Ruth. Bà Naomi phải cư xử với con dâu đặc biệt thế nào, đến nỗi khi con trai của Bà chết rồi mà nàng Ruth có thể thưa với Bà: "Xin mẹ đừng ép con bỏ mẹ mà trở về không theo mẹ nữa, vì mẹ đi đâu, con đi đó, mẹ ở đâu, con ở đó, dân của mẹ là dân của con, Thiên Chúa của mẹ là Thiên Chúa của con." Trong Phúc Âm, khi một kinh sư đến hỏi thử Chúa Giêsu: "Thưa Thầy, trong sách Luật Moses, điều răn nào là điều răn trọng nhất?" Chúa Giêsu đã tuyên bố rõ ràng hai giới răn: Mến Chúa, yêu người.
KHAI TRIỂN BÀI ĐỌC:
1/ Bài đọc I: Dân của mẹ là dân của con, Thiên Chúa của mẹ là Thiên Chúa của con.
1.1/ Hoàn cảnh đáng thương của bà Naomi: Tác giả kể: "Vào thời các thủ lãnh cai trị, một nạn đói xảy ra trong xứ. Có một người cùng với vợ và hai con trai bỏ Bethlehem miền Judah mà đến ở trong cánh đồng Moab. Rồi ông Elimelech, chồng bà Naomi, chết đi, còn lại bà Naomi và hai đứa con. Hai người này lấy vợ Moab, một người tên là Orpah, người kia tên là Ruth. Họ ở lại đó chừng mười năm. Rồi Mahlon và Chilion cả hai đều chết, còn lại bà Naomi mất chồng, mất con."
Không thể sống trong cảnh góa bụa nơi đất khách quê người, bà Naomi quyết định bỏ cánh đồng Moab để trở về quê hương là Bethlehem, vì Bà nghe nói là Đức Chúa đã viếng thăm dân Người và cho họ có bánh ăn ở đó.
1.2/ Sự trung thành và kính mến mẹ chồng của bà Ruth.
(1) Lời khuyên của bà Naomi cho hai nàng dâu người Moab: Trước khi lên đường, bà Naomi gọi hai người con dâu tới mà nói với họ: vì hai con trai của Bà đã chết, và Bà cũng chẳng có người con trai nào nữa cho họ kết hôn; nên họ không có bổn phận phải đi theo Bà. Họ có thể ở lại quê hương của họ và tái hôn như lòng họ mong muốn.
(2) Phản ứng của hai nàng dâu ngoại quốc: Hai người con dâu lại oà lên khóc. Orpah ôm hôn từ giã mẹ chồng, còn Ruth thì cứ khắng khít theo bà. Bà Naomi nói: "Kìa chị dâu con trở về với dân tộc của nó và các thần của nó. Con cũng vậy, hãy theo chị dâu con mà về đi!" Ruth đáp: "Xin mẹ đừng ép con bỏ mẹ mà trở về, không theo mẹ nữa, vì mẹ đi đâu, con đi đó, mẹ ở đâu, con ở đó, dân của mẹ là dân của con, Thiên Chúa của mẹ là Thiên Chúa của con."
Đây là một lời khuyên xứng đáng được người Do-thái cho vào lịch sử vì những lý do sau:
+ Tình cảm đặc biệt giữa mẹ chồng và nàng dâu: Mối liên hệ này thường không tốt đẹp. Để nàng Ruth có thể thốt lên những lời này, nhất là khi chồng nàng không còn nữa, đòi bà Naomi phải chiếm được cảm tình đặc biệt của con dâu mình.
+ Mối liên hệ giữa người Do-thái và người Moab: Truyền thống Do-thái có thói quen khinh thường mọi dân tộc khác; họ không muốn có liên hệ gì với những người dân ngoại. Để nàng Ruth có thể thốt lên câu "dân của mẹ là dân của con,'' đòi bà Naomi đối xử với con dâu mình như một người Do-thái. Hơn nữa, đây cũng là điềm tiên báo khi Đấng Cứu Thế đến, sẽ không còn chia cách giữa người Do-thái và Dân Ngoại như thánh Phaolô mô tả.
+ Tình người giữa hai mẹ con dẫn nàng Ruth tới chỗ chấp nhận "Thiên Chúa của mẹ là Thiên Chúa của con." Cuộc sống của bà Naomi đã trở nên gương sáng cho nàng Ruth biết và tin vào Thiên Chúa.
2/ Phúc Âm: Hai điều răn quan trọng nhất
2.1/ Kính mến Thiên Chúa trên hết mọi sự: Khi nghe tin Đức Giêsu đã làm cho nhóm Sadducees phải câm miệng, thì những người Pharisees họp nhau lại. Rồi một người thông luật trong nhóm hỏi Đức Giêsu để thử Người rằng: "Thưa Thầy, trong sách Luật Moses, điều răn nào là điều răn trọng nhất?" Đức Giêsu đáp: "Ngươi phải yêu mến Đức Chúa, Thiên Chúa của ngươi, hết lòng, hết linh hồn và hết trí khôn ngươi. Đó là điều răn quan trọng nhất và điều răn thứ nhất."
Đây là điều răn thứ nhất trong Thập Giới mà Thiên Chúa ban cho người Do-thái qua ông Moses trên núi Sinai. Người Do-thái gọi điều răn này là Shema; và để cho khỏi quên, họ viết vào giấy rồi đeo nó trên đầu như thẻ kinh, và đựng vào hai cái hộp nhỏ để đeo trên hai cánh tay mỗi khi cầu nguyện. Ngoài ra họ còn dán trên cửa nhà và cửa thành, để nhắc nhở cho những ai qua lại phải nhớ. Một giới răn quan trọng và được dán khắp mọi nơi như thế, mà các kinh-sư và biệt-phái còn hỏi Chúa Giêsu! Chúng ta không tìm thấy lý do nào khác ngoài lý do họ khinh thường Chúa.
Điều răn này tuy dễ để nhớ, nhưng không dễ để thi hành, cho cả người Do-thái xưa lẫn các Kitô hữu ngày nay. Người Do-thái biết phải kính mến Thiên Chúa trên hết mọi sự, nhưng vẫn đúc bê vàng để thờ hay chạy theo các thần ngoai bang khác. Người tín hữu ngày nay vẫn đặt các thứ thần khác lên trên Thiên Chúa như các thần: tiền, danh vọng, chức quyền, khoái lạc ... Họ có thể bỏ lễ Chủ Nhật hay các việc thờ phượng để làm việc, coi football, đi du lịch ...
2.2/ Yêu người thân cận như chính mình: "Còn điều răn thứ hai, cũng giống điều răn ấy, là: ngươi phải yêu người thân cận như chính mình. Tất cả Luật Moses và các sách ngôn sứ đều tuỳ thuộc vào hai điều răn ấy." Hai luật "mến Chúa, yêu người" không thể tách rời nhau, nhưng bổ xung cho nhau. Thánh Gioan tuyên bố: Ai nói mình mến Chúa mà không yêu anh em là kẻ nói dối, và sự thực không có nơi người ấy.
ÁP DỤNG TRONG CUỘC SỐNG:
- Khi con dâu thương mẹ chồng là nàng thương chồng. Điều răn thứ tư dạy phải thảo hiếu cả bố mẹ ruột lẫn bố mẹ chồng; đừng ích kỷ chỉ biết thảo hiếu bố mẹ ruột của mình mà thôi.
- Khi mẹ chồng thương con dâu là thương con trai mình. Các bà mẹ đừng bao giờ để con trai mình phải chọn giữa mẹ và vợ. Thiên Chúa muốn con mình vừa phải thảo hiếu cha mẹ, vừa phải trung thành với vợ cho đến chết.
- Kính mến Thiên Chúa là phải yêu thương tha nhân và giữ các giới răn của Ngài.
Linh mục Anthony Đinh Minh Tiên, OP
- Viết bởi Linh mục Anthony Đinh Minh Tiên, OP
Thứ Năm Tuần 20 TN1, Năm B
Bài đọc: Judg 11:29-39a; Mt 22:1-14.
GIỚI THIỆU CHỦ ĐỀ: Trung tín giữ những gì đã thề hứa.
Con người ngày nay tìm đủ mọi lý do để không phải giữ những gì mình đã thề hứa: tại không biết những gì sẽ xảy ra, tại hoàn cảnh khó khăn, tại đương sự, tại gia đình ... Nhưng người quân tử là người giữ những lời mình đã thề hứa: "nhất ngôn xuất khẩu, tứ mã nan truy," có nghĩa: một lời nói ra khỏi miệng, bốn con ngựa chạy theo cũng không đuổi kịp. Để giữ những gì mình thề hứa, con người cần có nhân đức anh hùng để vượt qua mọi trở ngại ngăn cản thi hành lời hứa.
Các Bài Đọc hôm nay dẫn chứng hai sự thật trái ngược nhau. Trong Bài Đọc I, Sách Thủ Lãnh tường thuật sự trung tín và lòng can đảm của ông Jephthah, khi ông dám sát tế đứa con gái duy nhất để giữ trọn lời ông đã thề hứa với Thiên Chúa. Trong Phúc Âm, nhà vua tức giận vì các khách được mời dự tiệc đã không giữ lời hứa đến dự tiệc, nên đã sai các đầy tớ đi tru diệt các khách được mời, và sai các đầy tớ đi khắp các nẻo đường để mời mọi người vào tham dự tiệc cưới của con mình.
KHAI TRIỂN BÀI ĐỌC:
1/ Bài đọc I: Ông Jephthah giữ lời đã khấn hứa với Đức Chúa.
1.1/ Lời khấn kỳ lạ của ông Jephthah với Đức Chúa: Thủ Lãnh Jephthah khấn hứa với Đức Chúa rằng: "Nếu Ngài trao con cái Ammon vào tay con, thì - khi con đã thắng con cái Ammon mà trở về bình an - hễ người nào ra khỏi cửa nhà con để đón con, người đó sẽ thuộc về Đức Chúa, và con sẽ dâng nó làm lễ toàn thiêu." Ông Jephthah qua bên con cái Ammon để giao chiến với chúng, và Đức Chúa đã trao chúng vào tay ông. Ông đánh chúng tơi bời từ Aroer cho tới gần Minnith, tất cả là hai mươi thành, và cho tới Abelkeramim. Thật là một cuộc đại bại: con cái Ammon bị hạ nhục trước mặt con cái Israel.
1.2/ Ông Jephthah giết con gái để giữ trọn lời thề.
(1) Ông Jephthah không ngờ hậu quả của lời hứa: Khi ông Jephthah trở về nhà ông tại Mizpah, thì này con gái ông ra đón ông, vừa đánh trống vừa nhảy múa. Cô là con gái độc nhất của ông: ngoài cô ra, ông không có con trai con gái nào khác. Thoạt nhìn thấy cô, ông liền xé áo và nói: "Ôi, con gái của cha, thật con làm khổ cha rồi! Chính con lại ở trong số những kẻ gây bất hạnh cho cha! Cha đã trót mở miệng khấn hứa cùng Đức Chúa và không thể rút lại được." Thiên Chúa muốn thử đức tin của Thủ Lãnh Jephthah: thật là dễ dàng khi phải hy sinh người dưng nước lã, nhưng thật khó biết bao khi phải hy sinh máu mủ ruột thịt của mình, đưa con độc nhất mà ông có.
(2) Sự anh hùng của cô con gái: Đây là lời thề hứa của cha cô, cô có thể từ chối không cộng tác để cha thi hành lời hứa; nhưng cô là người biết kính sợ Thiên Chúa, nên cô đã anh hùng thưa với cha: "Thưa cha, cha đã trót mở miệng khấn hứa cùng Đức Chúa, thì cha cứ thi hành cho con như lời cha đã khấn hứa, vì Đức Chúa đã cho cha trả thù được con cái Ammon, kẻ thù của cha."
Cô chỉ xin cha cô một điều: "Xin cha cho con điều này là hoãn cho con hai tháng để con đi lang thang trên các núi đồi, mà khóc cho đời con gái của con cùng với các bạn con." Ông nói: "Con cứ đi," và ông để cho cô đi hai tháng. Cô ra đi cùng với các bạn, khóc cho đời con gái của cô trên các núi đồi. Sau hai tháng, cô trở về với cha, và ông thi hành cho cô lời ông đã khấn hứa. Cô chưa biết đến việc vợ chồng.
Hành động anh hùng của cô đã nên gương sáng cho con cái Israel; mỗi năm, họ đều dành ngày này để kính nhớ cô, và đã thành một tục lệ trong Israel.
2/ Phúc Âm: Kẻ được gọi thì nhiều, mà người được chọn thì ít.
2.1/ Dân chúng không đáp trả lời mời của Đức Vua: Đức Giêsu lại dùng dụ ngôn mà nói với họ rằng: "Nước Trời cũng giống như chuyện một vua kia mở tiệc cưới cho con mình. Nhà vua sai đầy tớ đi thỉnh các quan khách đã được mời trước, xin họ đến dự tiệc, nhưng họ không chịu đến. Nhà vua lại sai những đầy tớ khác đi, và dặn họ: "Hãy thưa với quan khách đã được mời rằng: Này cỗ bàn, ta đã dọn xong, bò tơ và thú béo đã hạ rồi, mọi sự đã sẵn. Mời quý vị đến dự tiệc cưới!"
Theo truyền thống Do-thái, người ta có thói quen đi đến tất cả nhà các người quen để mời đến dự tiệc, chủ nhà sẽ báo cho các quan khách biết lý do, nơi chốn, và ngày giờ dự tiệc. Khi đã biết bao nhiêu người đến dự tiệc, chủ nhà sẽ chuẩn bị cho phần ăn cho bấy nhiêu người; rồi sai các đầy tớ đi thỉnh các quan khách đã được mời đến dự tiệc.
Nhà vua tức giận vì quan khách đã không giữ lời hứa. Họ chẳng những không thèm đếm xỉa tới, lại bỏ đi: kẻ thì đi thăm trại, người thì đi buôn; còn những kẻ khác lại bắt các đầy tớ của vua mà sỉ nhục và giết chết. Nhà vua liền nổi cơn thịnh nộ, sai quân đi tru diệt bọn sát nhân ấy và thiêu huỷ thành phố của chúng.
2.2/ Quyết định của vua: Rồi nhà vua bảo đầy tớ: "Tiệc cưới đã sẵn sàng rồi, mà những kẻ đã được mời lại không xứng đáng. Vậy các ngươi đi ra các ngã đường, gặp ai cũng mời hết vào tiệc cưới." Đầy tớ liền đi ra các nẻo đường, gặp ai, bất luận xấu tốt, cũng tập hợp cả lại, nên phòng tiệc cưới đã đầy thực khách.
(1) Người không chịu mặc y phục lễ cưới: "Bấy giờ nhà vua tiến vào quan sát khách dự tiệc, thấy ở đó có một người không mặc y phục lễ cưới, mới hỏi người ấy: "Này bạn, làm sao bạn vào đây mà lại không có y phục lễ cưới?" Người ấy câm miệng không nói được gì. Nhà vua liền bảo những người phục dịch: "Trói chân tay nó lại, quăng nó ra chỗ tối tăm bên ngoài, ở đó người ta sẽ phải khóc lóc nghiến răng! Vì kẻ được gọi thì nhiều, mà người được chọn thì ít."
Nhiều người thắc mắc không hiểu lý do tại sao nhà vua bắt khách qua đường tham dự phải mặc y phục lễ cưới. Một người có thể trả lời ngược lại: tại sao bao khách qua đường khác lại có thời gian mặc y phục lễ cưới! Điều Chúa Giêsu có lẽ muốn nhấn mạnh ở đây là phải có những điều kiện tối thiểu để được vào Nước Trời, chứ không phải ai cũng vào được.
(2) Áp dụng của dụ ngôn: Nhiều nhà chú giải áp dụng dụ ngôn này cho người Do-thái: Họ là những quan khách được mời trước; khách gặp các nẻo đường là người Dân Ngoại. Vì người Do-thái từ chối không tham dự tiệc cưới Người Con của Thiên Chúa là Đức Kitô; nên ơn cứu độ của Thiên Chúa được mở rộng đến mọi người.
ÁP DỤNG TRONG CUỘC SỐNG:
- Chúng ta phải suy xét cẩn thận trước khi thề hứa bất cứ điều gì với Thiên Chúa: trong đời sống thánh hiến hay trong đời sống gia đình. Chúa muốn chúng ta trung thành với điều chúng ta đã khấn nguyện.
- Chúng ta chắc chắn sẽ phải đương đầu với nhiều khó khăn và trở ngại, nhưng chúng ta phải cố gắng vượt qua, và Thiên Chúa ban ơn thánh đủ để chúng ta có thể giữ trọn vẹn lời thề.
Linh mục Anthony Đinh Minh Tiên, OP
- Viết bởi Linh mục Anthony Đinh Minh Tiên, OP
Thứ Tư Tuần 20 TN1, Năm B
Bài đọc: Judg 9:6-15; Mt 20:1-16.
GIỚI THIỆU CHỦ ĐỀ: Sự khác biệt giữa Vua Trời và vua chúa trần gian
Vua chúa trần gian trước khi được lên ngôi hứa hẹn rất nhiều với dân chúng, nhưng một khi đã lên ngôi rồi, họ quên hết những gì đã hứa với dân chúng, hay nếu có thi hành, cũng chẳng được bao nhiêu. Trái lại, Thiên Chúa trung thành giữ tất cả những gì Ngài hứa với con người, cho dẫu con người không trung thành với những gì họ hứa. Hơn nữa, Ngài luôn tìm cách để giúp đỡ những người nghèo khó, tội lỗi, hay yếu kém hơn.
Các Bài Đọc hôm nay cho chúng ta thấy sự khác biệt giữa Thiên Chúa và các nhà lãnh đạo trần thế. Trong Bài Đọc I, Abimelech trở về quê hương để vận động những người đồng hương tôn mình lên làm vua, vì ông biết họ có khuynh hướng chọn những người đồng hương để có thể nhờ vả sau này. Một khi đã được làm vua, Abimelech quên hết ân nghĩa và thẳng tay trừng trị những người đã tôn ông lên làm vua. Trong Phúc Âm, Chúa Giêsu ví Nước Trời như một gia chủ mướn thợ vào làm vườn nho của mình. Ông thỏa thuận với thợ lương công nhật là một đồng một ngày. Sau đó, ông trở ra và kêu gọi nhiều thợ nữa vào làm vườn nho với những giờ khác nhau. Chiều đến, khi trả công, các người làm việc sớm than trách vì ông trả những người đến làm sau bằng họ. Gia chủ tuyên bố ông đã công bằng trả cho họ những gì ông và họ đã thỏa thuận; họ không có quyền ngăn cản ông thương xót và rộng lượng cho những người làm việc sau.
KHAI TRIỂN BÀI ĐỌC:
1/ Bài đọc I: Hãy nghe tôi đây, thì Thiên Chúa cũng sẽ nghe các người.
1.1/ Lý do dân chúng Shechem tôn Abimelech lên làm vua: Abimelech là con của Thủ Lãnh Gideon với một nàng hầu mà chúng ta đã đọc ngày hôm qua. Gideon có nhiều vợ nên có rất nhiều con, tất cả hơn 70 người. Mẹ của Abimelech sinh ra ở Shechem. Đó là lý do Abimelech trở về quê hương để thuyết phục những người đồng hương tôn ông nên làm vua, với những lời lẽ như sau: "Xin bà con hỏi các thân hào Shechem xem điều nào tốt cho các vị: để cho 70 người, tức là tất cả các con ông Gideon (Jerubbaal) cai trị các vị; hay để một người cai trị các vị mà thôi? Xin các vị nhớ cho tôi là anh em ruột thịt của quí vị."
Abimelech rất khôn lanh vì biết dân chúng sẽ vì tình đồng hương mà tôn ông nên làm vua với hy vọng sẽ được hưởng những lợi nhuận sau này. Bấy giờ tất cả thân hào Shechem cùng toàn dân Bethmillo họp lại, kéo đến tôn Abimelech lên làm vua, bên cạnh cây sồi trước bia đá ở Shechem. Abimelech dùng tiền thâu được của đồng hương Shechem, thuê du đãng đi giết các anh em cùng cha của mình tại Ophrah, tất cả là 70 người trên cùng một tảng đá; chỉ có Jotham là người con út của Gideon thoát khỏi.
1.2/ Ông Jotham vạch trần nguy hiểm của việc tấn phong này: Khi người ta báo tin ấy cho ông Jotham, ông liền lên đứng trên đỉnh núi Gerizim, cất tiếng gọi và nói với những người kia rằng: "Hỡi các thân hào Shechem! Hãy nghe tôi đây, thì Thiên Chúa cũng sẽ nghe các người." Sau đó, ông kể cho họ nghe một dụ ngôn về các cây cối đã lên đường đi xức dầu phong một vua cai trị chúng. Dụ ngôn được dùng để chỉ nói lên một điều quan trọng mà thôi. Trong dụ ngôn này, Jotham muốn ám chỉ vị vua đó chính là Abimelech, và cây cối chính là dân chúng ở Shechem. Abimelech được ví như một "bụi gai," có nghĩa là một người không xứng đáng và không tài đức, chỉ được tôn làm vua sau khi cây cối đã bị tất cả các cây khác từ chối lời mời làm vua. Jotham báo trước tai hại mà người Shechem sẽ phải lãnh nhận từ Abimelech, khi bụi gai nói với các cây cối: "Nếu quả thật các ngươi xức dầu phong ta làm vua cai trị các ngươi, thì hãy tới nương náu dưới bóng ta; bằng không, lửa sẽ bốc ra từ bụi gai và sẽ thiêu rụi các cây bá hương Lebanon!" Sau khi Abimelech lên làm vua, ông đã thẳng tay trừng trị dân thành Shechem và họ cũng toa rập với nhau để chống lại ông.
2/ Phúc Âm: Này bạn, tôi đâu có xử bất công với bạn.
2.1/ Dụ ngôn các thợ làm vườn nho: Chúa Giêsu nói: "Nước Trời giống như chuyện gia chủ kia, vừa tảng sáng đã ra mướn thợ vào làm việc trong vườn nho của mình."
(1) Lương công nhật là một đồng: Sau khi đã thoả thuận với thợ là mỗi ngày một quan tiền, ông sai họ vào vườn nho làm việc.
(2) Thợ vào làm những giờ khác nhau: Khoảng giờ thứ ba, ông lại trở ra, thấy có những người khác ở không, đang đứng ngoài chợ. Ông cũng bảo họ: "Cả các anh nữa, hãy đi vào vườn nho, tôi sẽ trả cho các anh hợp lẽ công bằng." Họ liền đi. Khoảng giờ thứ sáu, rồi giờ thứ chín, ông lại trở ra và cũng làm y như vậy.
(3) Lý do tại sao vào làm trễ: Khoảng giờ mười một, ông trở ra và thấy còn có những người khác đứng đó, ông nói với họ: "Sao các anh đứng đây suốt ngày không làm gì hết?" Họ đáp: "Vì không ai mướn chúng tôi." Ông bảo họ: "Cả các anh nữa, hãy đi vào vườn nho!" Những người này chỉ làm có một tiếng đồng hồ mà thôi.
2.2/ Cách trả lương của gia chủ: Chiều đến, ông chủ vườn nho bảo người quản lý: "Anh gọi thợ lại mà trả công cho họ, bắt đầu từ những người vào làm sau chót tới những người vào làm trước nhất." Vậy những người mới vào làm lúc giờ mười một tiến lại, và lãnh được mỗi người một quan tiền.
(1) Phản ứng của các thợ làm trước nhất: Khi đến lượt những người vào làm trước nhất, họ tưởng sẽ được lãnh nhiều hơn, thế nhưng cũng chỉ lãnh được mỗi người một quan tiền. Họ vừa lãnh vừa cằn nhằn gia chủ: "Mấy người sau chót này chỉ làm có một giờ, thế mà ông lại coi họ ngang hàng với chúng tôi là những người đã phải làm việc nặng nhọc cả ngày, lại còn bị nắng nôi thiêu đốt."
(2) Phản ứng của gia chủ: Ông chủ trả lời cho một người trong bọn họ: "Này bạn, tôi đâu có xử bất công với bạn. Bạn đã chẳng thoả thuận với tôi là một quan tiền sao? Cầm lấy phần của bạn mà đi đi. Còn tôi, tôi muốn cho người vào làm sau chót này cũng được bằng bạn đó. Chẳng lẽ tôi lại không có quyền tuỳ ý định đoạt về những gì là của tôi sao? Hay vì thấy tôi tốt bụng, mà bạn đâm ra ghen tức?"
(3) Áp dụng của dụ ngôn: Nhiều nhà chú giải đã áp dụng dụ ngôn này cho:
+ Người Do-thái và Dân Ngoại: Mặc dù người Do-thái được Thiên Chúa chọn trước, nhưng ơn cứu độ được phân phối đồng đều cho cả người Do-thái lẫn Dân Ngoại.
+ Người đạo gốc và tân tòng: Người đạo gốc, cho dù đã theo Chúa lâu năm, cũng được Chúa thưởng đồng đều như người tân tòng mới trở lại đạo, dù chỉ một ngày.
ÁP DỤNG TRONG CUỘC SỐNG:
- Thiên Chúa luôn trung thành với những gì Ngài hứa. Chúng ta hãy đặt trọn vẹn niềm tin tưởng nơi Ngài. Đừng tin tưởng nơi hàng quyền thế chẳng cứu nổi ai như Abimelech.
- Chúng ta đừng áp dụng tiêu chuẩn trần gian cho Chúa. Hãy để Chúa là Thiên Chúa khi Ngài rộng lượng thi ân cho tất cả mọi người.
- Thiên Chúa luôn công bằng, nhưng cũng rất nhân từ và khoan dung. Chúng ta trông cậy vào lòng nhân từ của Thiên Chúa hơn là đòi hỏi Ngài phải công bằng.
Linh mục Anthony Đinh Minh Tiên, OP
- Viết bởi Linh mục Anthony Đinh Minh Tiên, OP
Thứ Ba Tuần 20 TN1, Năm B
Bài đọc: Judg 6:11-24a; Mt 19:23-30.
GIỚI THIỆU CHỦ ĐỀ: Thiên Chúa chọn những kẻ khiêm cung, khó nghèo.
Tiêu chuẩn chọn lựa của Thiên Chúa khác hẳn tiêu chuẩn chọn lựa của thế gian. Trong khi thế gian chọn những kẻ tài giỏi, khỏe mạnh, giầu có; Thiên Chúa lại chọn kẻ ít tài, yếu đuối và nghèo khó. Hơn nữa, Đức Kitô còn mặc khải tiêu chuẩn chọn lựa của Thiên Chúa trong Ngày Phán Xét: "Nhiều kẻ đứng đầu sẽ phải xuống hàng chót, và nhiều kẻ đứng chót sẽ được lên hàng đầu."
Các Bài Đọc hôm nay dẫn chứng cách chọn lựa của Thiên Chúa. Trong Bài Đọc I, Thiên Chúa chọn Gideon làm Thủ Lãnh, một người trẻ nhất trong gia đình, thuộc một chi tộc nhỏ nhất của Israel, chi tộc Manasseh, để giải phóng dân chúng khỏi tay những người Midian. Trong Phúc Âm, Chúa Giêsu chọn 12 tông-đồ: đa số là nghèo khó, yếu đuối và thất học; để huấn luyện các ông trở nên những người rao giảng Tin Mừng. Tiêu chuẩn chọn lựa này chứng tỏ: tất cả thành công hay vinh quang con người có được là do sức mạnh và uy quyền của Thiên Chúa, chứ không đến từ con người.
KHAI TRIỂN BÀI ĐỌC:
1/ Bài đọc I: Thiên Chúa chọn Gideon là Thủ Lãnh cứu dân khỏi tay quân thù Midian.
1.1/ Thiên Chúa chọn ông Gideon: Khi con cái Israel quay lưng lại với Thiên Chúa và chạy theo thờ phượng các thần ngoại bang; nên Thiên Chúa không bảo vệ họ nữa, và để cho quân thù Midian bắt họ làm nô lệ cực khổ. Nhưng vì tình yêu trung thành, Thiên Chúa muốn chọn một vị Thủ Lãnh, để lãnh đạo và giải phóng con cái Israel khỏi ách nô lệ của quân thù.
Sách Thủ Lãnh kể: Sứ Thần của Đức Chúa đến và ngồi dưới cây tùng ở Ophrah. Cây này là của ông Joash, thuộc gia đình Abiezrite. Con ông là Gideon bấy giờ đang đập lúa trong bồn đạp nho để tránh mặt người Midian. Sứ Thần Đức Chúa nói với Gidion: "Chào chiến sĩ can trường! Đức Chúa ở với ông." Ông Gideon thưa với Sứ Thần: "Ôi, thưa Ngài, nếu Đức Chúa ở với chúng tôi, thì sao chúng tôi đến nông nỗi này? Đâu cả rồi những kỳ công mà cha ông đã kể lại cho chúng tôi nghe, rằng: chẳng phải Đức Chúa đã đưa chúng ta lên khỏi Ai-cập sao? Thế mà bây giờ Đức Chúa đã bỏ rơi chúng tôi, trao chúng tôi vào tay người Midian." Ông Gideon có lý do để nghi ngờ vì ông chỉ nghe thế hệ cha ông nói về những gì Thiên Chúa đã làm cho con cái Israel; nhưng chưa bao giờ ông chứng kiến Thiên Chúa tỏ uy quyền, mà chỉ thấy trước mắt cảnh dân Israel phải làm nô lệ cho người Midian.
Sứ thần Đức Chúa quay lại nhìn ông và nói: "Hãy mạnh bạo lên đường cứu Israel khỏi tay quân Midian. Không phải chính Ta sai ngươi sao?" Ông Gideon tỏ vẻ nghi ngờ: "Ôi, thưa Ngài, con lấy gì mà cứu Israel? Này giòng họ con thấp kém nhất trong chi tộc Manasseh, mà con lại nhỏ nhất trong nhà cha con." Đức Chúa phán với ông: "Ta sẽ ở với ngươi, và ngươi sẽ đánh quân Midian như đánh có một người."
1.2/ Ông Gideon xin sứ thần một dấu chỉ để biết chắc chắn sự chọn lựa của Thiên Chúa.
Ông Gideon thưa với Sứ Thần: "Nếu Ngài thương con thì xin cho con một dấu chứng tỏ Ngài đang nói với con. Xin Ngài đừng rời khỏi đây cho tới khi con trở lại, mang theo của lễ đặt trước nhan Ngài." Người phán: "Ta sẽ ở lại cho tới khi ngươi trở về."
Ông Gideon đi bắt một con dê non làm thịt, và lấy hai thùng bột làm mấy chiếc bánh không men. Thịt thì ông để trong một cái rổ, còn nước cốt thì đựng trong một cái thố. Rồi ông mang đến cho Người ở dưới cây tùng. Khi ông đến gần, thì Sứ Thần Thiên Chúa nói với ông: "Hãy lấy thịt và bánh không men đặt trên tảng đá này và rưới nước cốt lên." Ông đã làm như thế.
Sứ thần của Đức Chúa giơ đầu gậy đang cầm trong tay đụng vào thịt và bánh không men, lửa liền từ tảng đá bốc lên, đốt cháy hết thịt cùng bánh không men. Sứ Thần Đức Chúa biến khỏi mắt ông. Khi ông Gideon nhận ra đó chính là Thần sứ Đức Chúa, ông kêu lên: "Chết tôi rồi, lạy Đức Chúa là Chúa Thượng của tôi, vì tôi đã thấy Thần sứ Đức Chúa nhãn tiền!" Nhưng Đức Chúa phán với ông: "Bình an cho ngươi! Đừng sợ: ngươi không chết đâu."
2/ Phúc Âm: Đối với Thiên Chúa, mọi sự đều có thể được.
2.1/ Người giầu có khó vào nước Thiên Chúa: Trình thuật của Matthew hôm nay tiếp nối cuộc đàm đạo của Chúa Giêsu với chàng thanh niên giầu có. Khi chàng thanh niên buồn bã bỏ đi rồi, bấy giờ Chúa Giêsu nói với các môn đệ của Người: "Thầy bảo thật anh em, người giàu có khó vào Nước Trời. Thầy còn nói cho anh em biết: con lạc đà chui qua lỗ kim còn dễ hơn người giàu vào Nước Thiên Chúa." Nghe nói vậy, các môn đệ vô cùng sửng sốt và nói: "Thế thì ai có thể được cứu?"
Các môn đệ ngạc nhiên vì các ông đã quá quen tiêu chuẩn chọn lựa của thế gian. Có lẽ vì các môn đệ nghĩ rằng: giầu có được Thiên Chúa chúc phúc, nên mới sửng sốt khi Chúa Giêsu tuyên bố như vậy. Chúng ta cần hiểu quan niệm về sự sống đời sau của người Do-thái thời đó chưa rõ nét cho lắm. Nhiều người Do-thái quan niệm hạnh phúc cho những người tuân giữ luật pháp của Thiên Chúa được sống lâu, con đàn cháu đống, và được sung túc về của cải chỉ ở đời này. Phải đợi tới khoảng thế kỷ thứ hai trước Chúa Giêsu, chúng ta mới thấy nói về sự sống đời sau qua Sách Daniel và Maccabees. Khi Chúa Giêsu đến, Ngài mặc khải cho các môn đệ cách rõ ràng về sự sống đời sau và điều kiện để được vào Nước Trời.
Tại sao Chúa Giêsu dạy "người giàu có khó vào Nước Trời." Chúng ta có thể dẫn chứng những lý do sau đây:
(1) Người giầu có tin ở mình: thay vì họ phải tin ở tình yêu và sức mạnh của Thiên Chúa.
(2) Người giầu có không khôn ngoan: họ yêu của cải hơn Đấng dựng nên của cải.
(3) Người giầu có không biết tiêu chuẩn để được vào Nước Trời: hoàn toàn là do tình thương và ơn thánh của Thiên Chúa, chứ không do cố gắng của con người, như Đức Giêsu tuyên bố với các môn đệ: "Đối với loài người thì điều đó không thể được, nhưng đối với Thiên Chúa, thì mọi sự đều có thể được."
2.2/ Phần thưởng Chúa Giêsu hứa ban cho các môn đệ: Bấy giờ ông Phêrô lên tiếng thưa Người: "Thầy coi, phần chúng con, chúng con đã bỏ mọi sự mà theo Thầy. Vậy chúng con sẽ được gì?" Đức Giêsu đáp: "Thầy bảo thật anh em: anh em là những người đã theo Thầy, thì đến thời tái sinh, khi Con Người ngự toà vinh hiển, anh em cũng sẽ được ngự trên mười hai toà mà xét xử mười hai chi tộc Israel. Và phàm ai bỏ nhà cửa, anh em, chị em, cha mẹ, con cái hay ruộng đất, vì danh Thầy, thì sẽ được gấp bội và còn được sự sống vĩnh cửu làm gia nghiệp."
Mục đích của Thiên Chúa khi cho chúng ta vào cuộc đời này không phải để nỗ lực làm giầu; nhưng biết sống làm sao để đạt tới Nước Trời và giúp cho tha nhân cũng đạt được mục đích đó.
ÁP DỤNG TRONG CUỘC SỐNG:
- Chúng ta cần tập làm quen và sống theo những tiêu chuẩn chọn lựa của Thiên Chúa, thay vì sống theo các tiêu chuẩn chọn lựa của thế gian.
- Vào Nước Trời không do nỗ lực và công lao của con người; nhưng do tình yêu và ơn thánh Chúa ban. Chúng ta cần biết khiêm nhường đón nhận và sống theo sự chỉ dạy của Chúa.
Linh mục Anthony Đinh Minh Tiên, OP
- Viết bởi Linh mục Anthony Đinh Minh Tiên, OP
Thứ Ba Tuần 20 TN1, Năm B
Bài đọc: Judg 6:11-24a; Mt 19:23-30.
GIỚI THIỆU CHỦ ĐỀ: Thiên Chúa chọn những kẻ khiêm cung, khó nghèo.
Tiêu chuẩn chọn lựa của Thiên Chúa khác hẳn tiêu chuẩn chọn lựa của thế gian. Trong khi thế gian chọn những kẻ tài giỏi, khỏe mạnh, giầu có; Thiên Chúa lại chọn kẻ ít tài, yếu đuối và nghèo khó. Hơn nữa, Đức Kitô còn mặc khải tiêu chuẩn chọn lựa của Thiên Chúa trong Ngày Phán Xét: "Nhiều kẻ đứng đầu sẽ phải xuống hàng chót, và nhiều kẻ đứng chót sẽ được lên hàng đầu."
Các Bài Đọc hôm nay dẫn chứng cách chọn lựa của Thiên Chúa. Trong Bài Đọc I, Thiên Chúa chọn Gideon làm Thủ Lãnh, một người trẻ nhất trong gia đình, thuộc một chi tộc nhỏ nhất của Israel, chi tộc Manasseh, để giải phóng dân chúng khỏi tay những người Midian. Trong Phúc Âm, Chúa Giêsu chọn 12 tông-đồ: đa số là nghèo khó, yếu đuối và thất học; để huấn luyện các ông trở nên những người rao giảng Tin Mừng. Tiêu chuẩn chọn lựa này chứng tỏ: tất cả thành công hay vinh quang con người có được là do sức mạnh và uy quyền của Thiên Chúa, chứ không đến từ con người.
KHAI TRIỂN BÀI ĐỌC:
1/ Bài đọc I: Thiên Chúa chọn Gideon là Thủ Lãnh cứu dân khỏi tay quân thù Midian.
1.1/ Thiên Chúa chọn ông Gideon: Khi con cái Israel quay lưng lại với Thiên Chúa và chạy theo thờ phượng các thần ngoại bang; nên Thiên Chúa không bảo vệ họ nữa, và để cho quân thù Midian bắt họ làm nô lệ cực khổ. Nhưng vì tình yêu trung thành, Thiên Chúa muốn chọn một vị Thủ Lãnh, để lãnh đạo và giải phóng con cái Israel khỏi ách nô lệ của quân thù.
Sách Thủ Lãnh kể: Sứ Thần của Đức Chúa đến và ngồi dưới cây tùng ở Ophrah. Cây này là của ông Joash, thuộc gia đình Abiezrite. Con ông là Gideon bấy giờ đang đập lúa trong bồn đạp nho để tránh mặt người Midian. Sứ Thần Đức Chúa nói với Gidion: "Chào chiến sĩ can trường! Đức Chúa ở với ông." Ông Gideon thưa với Sứ Thần: "Ôi, thưa Ngài, nếu Đức Chúa ở với chúng tôi, thì sao chúng tôi đến nông nỗi này? Đâu cả rồi những kỳ công mà cha ông đã kể lại cho chúng tôi nghe, rằng: chẳng phải Đức Chúa đã đưa chúng ta lên khỏi Ai-cập sao? Thế mà bây giờ Đức Chúa đã bỏ rơi chúng tôi, trao chúng tôi vào tay người Midian." Ông Gideon có lý do để nghi ngờ vì ông chỉ nghe thế hệ cha ông nói về những gì Thiên Chúa đã làm cho con cái Israel; nhưng chưa bao giờ ông chứng kiến Thiên Chúa tỏ uy quyền, mà chỉ thấy trước mắt cảnh dân Israel phải làm nô lệ cho người Midian.
Sứ thần Đức Chúa quay lại nhìn ông và nói: "Hãy mạnh bạo lên đường cứu Israel khỏi tay quân Midian. Không phải chính Ta sai ngươi sao?" Ông Gideon tỏ vẻ nghi ngờ: "Ôi, thưa Ngài, con lấy gì mà cứu Israel? Này giòng họ con thấp kém nhất trong chi tộc Manasseh, mà con lại nhỏ nhất trong nhà cha con." Đức Chúa phán với ông: "Ta sẽ ở với ngươi, và ngươi sẽ đánh quân Midian như đánh có một người."
1.2/ Ông Gideon xin sứ thần một dấu chỉ để biết chắc chắn sự chọn lựa của Thiên Chúa.
Ông Gideon thưa với Sứ Thần: "Nếu Ngài thương con thì xin cho con một dấu chứng tỏ Ngài đang nói với con. Xin Ngài đừng rời khỏi đây cho tới khi con trở lại, mang theo của lễ đặt trước nhan Ngài." Người phán: "Ta sẽ ở lại cho tới khi ngươi trở về."
Ông Gideon đi bắt một con dê non làm thịt, và lấy hai thùng bột làm mấy chiếc bánh không men. Thịt thì ông để trong một cái rổ, còn nước cốt thì đựng trong một cái thố. Rồi ông mang đến cho Người ở dưới cây tùng. Khi ông đến gần, thì Sứ Thần Thiên Chúa nói với ông: "Hãy lấy thịt và bánh không men đặt trên tảng đá này và rưới nước cốt lên." Ông đã làm như thế.
Sứ thần của Đức Chúa giơ đầu gậy đang cầm trong tay đụng vào thịt và bánh không men, lửa liền từ tảng đá bốc lên, đốt cháy hết thịt cùng bánh không men. Sứ Thần Đức Chúa biến khỏi mắt ông. Khi ông Gideon nhận ra đó chính là Thần sứ Đức Chúa, ông kêu lên: "Chết tôi rồi, lạy Đức Chúa là Chúa Thượng của tôi, vì tôi đã thấy Thần sứ Đức Chúa nhãn tiền!" Nhưng Đức Chúa phán với ông: "Bình an cho ngươi! Đừng sợ: ngươi không chết đâu."
2/ Phúc Âm: Đối với Thiên Chúa, mọi sự đều có thể được.
2.1/ Người giầu có khó vào nước Thiên Chúa: Trình thuật của Matthew hôm nay tiếp nối cuộc đàm đạo của Chúa Giêsu với chàng thanh niên giầu có. Khi chàng thanh niên buồn bã bỏ đi rồi, bấy giờ Chúa Giêsu nói với các môn đệ của Người: "Thầy bảo thật anh em, người giàu có khó vào Nước Trời. Thầy còn nói cho anh em biết: con lạc đà chui qua lỗ kim còn dễ hơn người giàu vào Nước Thiên Chúa." Nghe nói vậy, các môn đệ vô cùng sửng sốt và nói: "Thế thì ai có thể được cứu?"
Các môn đệ ngạc nhiên vì các ông đã quá quen tiêu chuẩn chọn lựa của thế gian. Có lẽ vì các môn đệ nghĩ rằng: giầu có được Thiên Chúa chúc phúc, nên mới sửng sốt khi Chúa Giêsu tuyên bố như vậy. Chúng ta cần hiểu quan niệm về sự sống đời sau của người Do-thái thời đó chưa rõ nét cho lắm. Nhiều người Do-thái quan niệm hạnh phúc cho những người tuân giữ luật pháp của Thiên Chúa được sống lâu, con đàn cháu đống, và được sung túc về của cải chỉ ở đời này. Phải đợi tới khoảng thế kỷ thứ hai trước Chúa Giêsu, chúng ta mới thấy nói về sự sống đời sau qua Sách Daniel và Maccabees. Khi Chúa Giêsu đến, Ngài mặc khải cho các môn đệ cách rõ ràng về sự sống đời sau và điều kiện để được vào Nước Trời.
Tại sao Chúa Giêsu dạy "người giàu có khó vào Nước Trời." Chúng ta có thể dẫn chứng những lý do sau đây:
(1) Người giầu có tin ở mình: thay vì họ phải tin ở tình yêu và sức mạnh của Thiên Chúa.
(2) Người giầu có không khôn ngoan: họ yêu của cải hơn Đấng dựng nên của cải.
(3) Người giầu có không biết tiêu chuẩn để được vào Nước Trời: hoàn toàn là do tình thương và ơn thánh của Thiên Chúa, chứ không do cố gắng của con người, như Đức Giêsu tuyên bố với các môn đệ: "Đối với loài người thì điều đó không thể được, nhưng đối với Thiên Chúa, thì mọi sự đều có thể được."
2.2/ Phần thưởng Chúa Giêsu hứa ban cho các môn đệ: Bấy giờ ông Phêrô lên tiếng thưa Người: "Thầy coi, phần chúng con, chúng con đã bỏ mọi sự mà theo Thầy. Vậy chúng con sẽ được gì?" Đức Giêsu đáp: "Thầy bảo thật anh em: anh em là những người đã theo Thầy, thì đến thời tái sinh, khi Con Người ngự toà vinh hiển, anh em cũng sẽ được ngự trên mười hai toà mà xét xử mười hai chi tộc Israel. Và phàm ai bỏ nhà cửa, anh em, chị em, cha mẹ, con cái hay ruộng đất, vì danh Thầy, thì sẽ được gấp bội và còn được sự sống vĩnh cửu làm gia nghiệp."
Mục đích của Thiên Chúa khi cho chúng ta vào cuộc đời này không phải để nỗ lực làm giầu; nhưng biết sống làm sao để đạt tới Nước Trời và giúp cho tha nhân cũng đạt được mục đích đó.
ÁP DỤNG TRONG CUỘC SỐNG:
- Chúng ta cần tập làm quen và sống theo những tiêu chuẩn chọn lựa của Thiên Chúa, thay vì sống theo các tiêu chuẩn chọn lựa của thế gian.
- Vào Nước Trời không do nỗ lực và công lao của con người; nhưng do tình yêu và ơn thánh Chúa ban. Chúng ta cần biết khiêm nhường đón nhận và sống theo sự chỉ dạy của Chúa.
Linh mục Anthony Đinh Minh Tiên, OP
- Viết bởi Linh mục Anthony Đinh Minh Tiên, OP
Thứ Hai Tuần 20 TN1, Năm B
Bài đọc: Judg 2:11-19; Mt 19:16-22.
GIỚI THIỆU CHỦ ĐỀ: Thiên Chúa vẫn trung thành dù con người bội phản.
Đọc lịch sử Do-thái, chúng ta phải ngạc nhiên trước tình yêu và sự trung thành của Thiên Chúa dành cho họ; dẫu họ đã bất trung phản bội Ngài không biết bao nhiêu lần. Nhìn vào mối liên hệ của mỗi người với Thiên Chúa, chúng ta cũng không khỏi ngạc nhiên vì Thiên Chúa luôn trung thành, dù biết bao nhiêu lần chúng ta phạm tội phản bội Ngài trong cuộc đời.
Các Bài Đọc hôm nay dẫn chứng tình yêu trung thành của Thiên Chúa dù cho con người bỏ Thiên Chúa để chạy theo các thần của thế gian. Bài Đọc I tường thuật con cái Israel đã lìa bỏ Đức Chúa để làm tôi thần Baal và các nữ thần Ashtaroth; hậu quả là họ bị bại trận mỗi khi ra quân và phải làm nô lệ cho các dân tộc chung quanh họ. Thiên Chúa vẫn kiên nhẫn gởi những nhà lãnh đạo đến để giải phóng họ khỏi tay quân thù. Trong Phúc Âm, khi một chàng thanh niên đến hỏi Chúa Giêsu về con đường để trở nên trọn lành, Chúa trả lời hãy về bán các tài sản chàng có và giúp người nghèo khó, rồi trở lại theo Chúa. Chàng thanh niên buồn bã bỏ đi vì chàng có nhiều của cải.
KHAI TRIỂN BÀI ĐỌC:
1/ Bài đọc I: Sự phản bội của con cái Israel và tình thương của Thiên Chúa.
1.1/ Sự bất trung của con cái Israel: Đọc Sách Thủ Lãnh, một người có thể nhận ra "bổn cũ tái diễn" của con cái Israel như trình thuật hôm nay:
(1) Con cái Israel đã lìa bỏ Đức Chúa để chạy theo các thần ngoại bang: "Họ đã lìa bỏ Đức Chúa, Thiên Chúa của tổ tiên, Đấng đã đưa họ ra khỏi đất Ai-cập, và họ đã đi theo các thần ngoại lai trong số các thần của các dân chung quanh. Họ sụp lạy các thần ấy và chọc giận Đức Chúa.
Họ đã lìa bỏ Đức Chúa để làm tôi thần Baal và các nữ thần Ashtaroth."
(2) Hậu quả con cái Israel phải lãnh nhận: "Đức Chúa nổi cơn thịnh nộ với Israel và đã trao họ vào tay quân cướp cho chúng tha hồ bóc lột; Người đã trao họ vào tay kẻ thù chung quanh, nên họ không thể đương đầu nổi với kẻ thù. Cứ mỗi lần họ xuất trận là tay Đức Chúa giáng hoạ trên họ, như Đức Chúa đã phán và thề với họ. Họ lâm cảnh khốn cùng."
(3) Tình thương Thiên Chúa: "Bấy giờ Đức Chúa cho xuất hiện các thủ lãnh để giải thoát họ khỏi tay những kẻ cướp phá họ... Khi Đức Chúa cho xuất hiện các thủ lãnh để giúp họ, thì Đức Chúa ở với vị thủ lãnh và Người cứu họ khỏi tay quân thù bao lâu vị thủ lãnh còn sống, vì Đức Chúa động lòng trắc ẩn trước những tiếng than khóc của họ, khi họ bị đàn áp và ức hiếp."
(4) Tiếp tục phản bội: "Nhưng rồi các thủ lãnh của họ, họ cũng chẳng nghe mà cứ đàng điếm với các thần ngoại lai và sụp lạy các thần đó. Họ vội từ bỏ con đường cha ông họ đã đi, là tuân giữ mệnh lệnh của Đức Chúa; họ đã không noi gương các ngài."
1.2/ Tại sao con cái Israel tiếp tục phản bội Thiên Chúa? Nhìn lại lịch sử của Israel rồi nhìn lại con người mình, chúng ta có thể thấy sự phản bội của mỗi người chúng ta cũng chẳng thua kém gì con cái Israel, vì mỗi khi chúng ta phạm một tội trọng là mỗi lần chúng ta phản bội Thiên Chúa. Tại sao chúng ta xúc phạm đến Thiên Chúa? Có phải vì chúng ta không tin Thiên Chúa? Không! Chúng ta tin Thiên Chúa; nhưng vì yếu đuối con người, nên chúng ta rơi vào chước cám dỗ của ma quỉ, thế gian, và xác thịt. Có phải vì chúng ta không yêu Thiên Chúa? Không! Mỗi khi chúng ta chạy đến tòa cáo giải là chúng ta ăn năn hối hận, vì đã phản bội tình yêu Ngài dành cho chúng ta.
Sự thật là tự con người chúng ta không đủ sức để thắng vượt được những chước cám dỗ của ba thù, chúng ta cần có sức mạnh của ơn thánh đến từ Chúa, mới có thể thắng vượt được. Bài học của con cái Israel giúp chúng ta tin tưởng nơi tình yêu trung thành của Thiên Chúa, để đừng bao giờ thất vọng mỗi khi bị sa ngã; ngược lại, hãy biết can đảm đứng lên thú tội với Thiên Chúa và làm lại cuộc đời.
2/ Phúc Âm: Chỉ có một Đấng tốt lành mà thôi.
2.1/ Điều kiện để được hưởng sự sống đời đời.
(1) Đấng Tốt Lành và điều tốt: Chàng thanh niên đến thưa Đức Giêsu rằng: "Thưa Thầy, tôi phải làm điều gì tốt để được hưởng sự sống đời đời?" Đức Giêsu đáp: "Sao anh hỏi tôi về điều tốt? Chỉ có một Đấng tốt lành mà thôi."
Câu hỏi của chàng thanh niên nhấn mạnh vào điều tốt phải làm để kiếm điểm cần thiết vào Nước Trời. Câu trả lời của Chúa Giêsu nhấn mạnh đến lòng tốt của Cha Ngài. Được hưởng sự sống đời đời, trước tiên, không phải là do công lao của con người lập được; nhưng là do bởi sự tốt lành của Thiên Chúa.
(2) Phải tuân giữ các giới răn: Thứ đến, Chúa nói với anh ta: "Nếu anh muốn vào cõi sống, thì hãy giữ các điều răn;" rồi Chúa liệt kê ra 5 giới răn sau cùng của Thập Giới liên quan đến con người, và nhấn mạnh đến nguyên lý "ngươi phải yêu đồng loại như yêu chính mình." Điều làm nhiều người ngạc nhiên trong câu trả lời của Chúa là Ngài không đá động gì đến 3 giới răn đầu tiên liên quan đến Thiên Chúa cả. Có thể giải thích điều này như sau: Tất cả Thập Giới có thể thu gọn vào trong hai giới răn: "mến Chúa, yêu người." Hai giới răn này không thể tách rời nhau: nếu một người mến Chúa, người đó phải yêu người. Ai nói mình mến Chúa mà không yêu thương anh em là kẻ nói dối, và sự thật không có nơi người ấy (I Jn 4:20). Chúa chỉ cần thử xem anh có yêu người là biết anh có mến Chúa hay không.
2.2/ Mãnh lực của thần tiền: Người thanh niên ấy nói: "Tất cả những điều đó, tôi đã tuân giữ, tôi còn thiếu điều gì nữa không?" Đức Giêsu mời gọi chàng thanh niên: "Nếu anh muốn nên hoàn thiện, thì hãy đi bán tài sản của anh và đem cho người nghèo, anh sẽ được một kho tàng trên trời. Rồi hãy đến theo tôi." Nghe lời đó, người thanh niên buồn rầu bỏ đi, vì anh ta có nhiều của cải. Phân tích câu trả lời của Chúa Giêsu và phản ứng của chàng thanh niên này, chúng ta thấy có những điều sau đây:
(1) Anh đã đặt của cải lên trên Thiên Chúa: Điều này vi phạm trầm trọng giới răn thứ nhất: vì yêu của cải hơn yêu Chúa, nên anh đã buồn rầu bỏ đi. Chúa cảnh cáo chúng ta: "Anh em không thể làm tôi cả Thiên Chúa lẫn của cải."
(2) Anh không "yêu đồng loại như yêu chính mình" như Chúa Giêsu đòi hỏi; vì anh không dám hy sinh của cải anh có để bố thí cho người nghèo.
(3) Anh không hiểu hay không tin Chúa Giêsu khi Ngài bảo anh: nếu anh bán tài sản và cho người nghèo, anh sẽ được một kho tàng trên trời. Anh không hiểu "kho tàng trên trời" có nghĩa gì hay anh không tin Chúa có thể làm được việc đó.
ÁP DỤNG TRONG CUỘC SỐNG:
- Kính mến Thiên Chúa trên hết mọi sự phải là nguyên lý hướng dẫn cuộc đời mỗi người chúng ta. Đừng bao giờ đặt bất cứ con người nào hay sự vật gì trên Thiên Chúa.
- Mỗi khi yếu đuối phạm tội bất trung với Thiên Chúa, chúng ta đừng nản lòng; nhưng luôn biết trông cậy vào tình yêu trung thành của Thiên Chúa.
- Một điều sẽ giúp chúng ta là cần học hỏi để biết tình thương, uy quyền, và những ơn lành Chúa đã làm cho chúng ta trong cuộc đời; để chúng ta biết đáp đền cho xứng đáng.
Linh mục Anthony Đinh Minh Tiên, OP
- Viết bởi Linh mục Anthony Đinh Minh Tiên, OP
Chủ Nhật 20 Thường Niên, Năm B
Bài đọc: Pro 9:1-6; Eph 5:15-20; Jn 6:51-58.
GIỚI THIỆU CHỦ ĐỀ: Khao khát được "trường sinh bất tử."
Con người khôn ngoan không bao giờ muốn chết, nhưng muốn được sống "trường sinh bất tử;" nhưng cái chết là một thực tại và nó luôn đe dọa mạng sống con người. Tại sao khao khát trường sinh có thể nói là một bản năng của con người mà cái chết lại cướp đi bản năng đó. Con người có hy vọng gì để đạt được nỗi khao khát trường sinh không?
Hy vọng lớn lao và may mắn cho con người: Niềm tin và đạo lý Công Giáo dạy: (1) Nỗi khao khát trường sinh là một khao khát có thật vì Thiên Chúa, Đấng dựng nên con người, muốn con người được trường sinh bất tử. (2) Vì tội lỗi mà con người phải chết; nhưng Thiên Chúa đã có sẵn Kế Hoạch Cứu Độ để giải phóng con người khỏi tội lỗi và sự chết.
Các Bài Đọc hôm nay xoay quanh nỗi ước ao được sống trường sinh của con người. Trong Bài Đọc I, tác giả Sách Châm Ngôn nhân cách hóa sự khôn ngoan và nêu lên một điều kiện để con người được sống: phải "ăn bánh và uống rượu" do khôn ngoan làm ra. Trong Bài Đọc II, thánh Phaolô khuyên các tín hữu Ephesô phải biết sống như những người khôn ngoan bằng cách theo sự hướng dẫn của Thánh Thần để tìm ra và làm theo thánh ý Thiên Chúa. Trong Phúc Âm, Chúa Giêsu mặc khải cho con người bí quyết để được trường sinh bất tử: "Ai ăn thịt và uống máu tôi, thì được sống muôn đời, và tôi sẽ cho người ấy sống lại vào ngày sau hết."
KHAI TRIỂN BÀI ĐỌC:
1/ Bài đọc I: Hãy đến mà ăn bánh của ta và uống rượu do ta pha chế!
1.1/ Đức Khôn Ngoan chuẩn bị mọi thứ sẵn sàng: Tác giả Sách Châm Ngôn đã nhân cách hóa khôn ngoan như một người phụ nữ, bằng cách diễn tả các đặc tính của khôn ngoan như sau:
+ Khôn ngoan luôn chắc chắn và bền vững: "Đức Khôn Ngoan đã xây cất nhà mình, dựng lên bảy cây cột." Nhà được dựng bằng 7 cột là nhà chắc chắn, không gì có thể lay chuyển được.
+ Khôn ngoan chuẩn bị bữa ăn sẵn sàng bằng cách: "hạ thú vật, pha chế rượu, dọn bàn ăn." Khách được mời tham dự không tốn công của, và không thiếu bất cứ gì.
+ Khôn ngoan mời tất cả mọi người, không trừ ai cả: Nàng sai đầy tớ đi mời khách đến dự tiệc, và chính Đức Khôn Ngoan còn lên các nơi cao trong thành phố và kêu gọi mọi người.
1.2/ Nàng Khôn Ngoan đi tìm kiếm con người.
(1) Hai hạng người mà Nàng Khôn Ngoan tìm kiếm:
+ ngây thơ (aifrôê): là những người thiếu khôn ngoan và dễ bị người khác đánh lừa.
+ khờ dại (frenôê): là những người thiếu hiểu biết, nên họ dễ làm liều.
(2) Mục đích của Nàng Khôn Ngoan: "Các con sẽ được sống; hãy bước đi trên con đường hiểu biết." Nàng sẽ dạy cho con người hiểu biết thánh ý Thiên Chúa để con người được sống.
(3) Điều kiện: "Hãy đến mà ăn bánh của ta và uống rượu do ta pha chế!" Muốn được sống, con người phải ăn bánh và uống rượu do chính Nàng Khôn Ngoan làm.
Ngôi Lời (ho lógos) được Gioan đồng nhất với Đức Kitô, Ngài là sự khôn ngoan của Thiên Chúa, và nhờ Ngài mà muôn vật được tạo thành.
2/ Bài đọc II: So sánh người khôn ngoan và người khờ dại:
Thánh Phaolô khuyên nhủ các tín hữu Êphesô: "Anh em hãy cẩn thận xem xét cách ăn nết ở của mình, đừng sống như kẻ khờ dại, nhưng hãy sống như người khôn ngoan." Ngài giúp các tín hữu xét mình để nhận ra sự khác biệt giữa hai hạng người:
2.1/ Người khôn ngoan: là những người:
+ Sống theo sự hướng dẫn khôn ngoan của Thánh Thần.
+ Biết tận dụng thời buổi hiện tại, vì chúng ta đang sống những ngày đen tối. Quan niệm của người Do-thái về thời gian: hiện tại rất xấu và tương lai rất tốt; giao thời giữa hai thời gian là cuộc khủng hoảng. Thánh Phaolô có lẽ nghĩ các tín hữu đang sống trong buổi giao thời.
+ Biết tìm thánh ý Chúa: "anh em đừng hoá ra ngu xuẩn, nhưng hãy tìm hiểu đâu là ý Chúa."
+ Hiểu biết khôn ngoan sẽ dẫn tới các hành động khôn ngoan: "Hãy cùng nhau đối đáp những bài thánh vịnh, thánh thi và thánh ca do Thần Khí linh hứng; hãy đem cả tâm hồn mà ca hát chúc tụng Chúa. Trong mọi hoàn cảnh và mọi sự, hãy nhân danh Đức Giêsu Kitô, Chúa chúng ta, mà cảm tạ Thiên Chúa là Cha."
2.2/ Người khờ dại là những người:
+ Sống theo ý muốn xác thịt: say sưa rượu chè, và rượu chè đưa tới truỵ lạc.
+ Không biết lợi dụng thời giờ Chúa ban cho: phí thời giờ vào các việc vô ích, không đem lại lợi ích tương lai cho đương sự.
+ Vì không biết thánh ý Thiên Chúa nên người khờ dại chỉ biết làm theo ý riêng mình; Người chỉ biết làm theo ý mình sẽ không đạt được đích mà Thiên Chúa mong muốn cho cuộc đời của họ.
3/ Phúc Âm: Ai ăn bánh này, sẽ được sống muôn đời.
3.1/ Phân tích từ ngữ Hy-lạp: Lời tuyên bố của Chúa Giêsu sau đây cần được nghiên cứu từng từ ngữ và cách cấu trúc: "Tôi là bánh hằng sống từ trời xuống. Ai ăn bánh này, sẽ được sống muôn đời. Và bánh tôi sẽ ban tặng, chính là thịt tôi đây, để cho thế gian được sống."
+ Cụm từ "Ergô, eimi" theo sau bởi một thành ngữ xảy ra 7 lần trong Gioan, và túc từ theo sau đều mặc khải một sứ vụ đặc biệt của Đức Kitô như: Ta là Bánh Hằng Sống; Mục Tử Tốt Lành; Cửa Chuồng Chiên; Cây Nho; Sự Sống Lại và là sự sống; Ánh Sáng Thế Gian; Đường, Sự Thật, và là Sự Sống.
+ Túc từ "ho artos ho zôê" có thể mang nhiều nghĩa khác nhau tùy theo cách dịch:
(1) Có thể dịch là "bánh hằng sống hay bánh trường sinh," có nghĩa bánh không bao giờ hư nát. Khi áp dụng vào Chúa Giêsu, có nghĩa Chúa là Bánh Hằng Sống.
(2) Hay có thể dịch là "bánh mang sự sống thần linh." Khi áp dụng vào Chúa Giêsu, có nghĩa, Ngài là bánh mang sự sống thần linh cho con người như trong (Jn 6:33).
(3) Hay cũng có thể dịch là "bánh đang sống." Khi áp dụng vào Chúa Giêsu, có nghĩa Ngài là Bánh đang sống.
Theo văn mạch và nội dung, nghĩa thứ (2) có lẽ thích hợp hơn cả; mặc dù hai nghĩa kia vẫn đúng với Chúa Giêsu.
+ Cụm từ: "từ trời xuống" nhắc nhở cho con người biến cố Thiên Chúa cho manna rơi xuống từ trời làm lương thực cho con cái Israel suốt 40 năm trong sa mạc. Manna là hình ảnh báo trước của Bí-tích Thánh Thể. Bánh mang lại sự sống đời đời có thực và có nguồn gốc từ trời.
+ "Bánh tôi sẽ ban tặng:" nhấn mạnh đến việc cho đi cách nhưng không như trong Bài Đọc I: mọi sự đã được chuẩn bị sẵn sàng, ăn mà không phải tốn tiền!
+ Bánh Hằng Sống chính là thịt (sárx) của Chúa Giêsu. Ngay từ đầu Tin Mừng, Gioan đã dùng danh từ này để nói về mầu nhiệm Nhập Thể: Và Ngôi Lời đã mặc lấy xác phàm (sárx) và đã cư ngụ giữa chúng ta.
+ Phản ứng của người Do-thái: Điều họ tranh luận ở đây không phải về nguồn gốc của Chúa Giêsu, nhưng là thịt của Ngài: Làm sao một người đang sống có thể lấy thịt của mình cho kẻ khác ăn? Trừ phi người đó phải chết! Điều khó khăn nữa là người Do-thái không có thói quen ăn thịt người.
3.2/ Sự cần thiết của bí-tích Thánh Thể: Đức Giêsu nói với họ: "Thật, tôi bảo thật các ông: nếu các ông không ăn thịt và uống máu Con Người, các ông không có sự sống nơi mình."
+ Công thức "amen amen = thật, tôi bảo thật" báo hiệu trước một chân lý sẽ được mặc khải trong Tin Mừng Gioan. Chân lý Chúa Giêsu mặc khải ở đây là "Nếu các ông không ăn thịt và uống máu Con Người, các ông không có sự sống nơi mình." Nếu Chúa Giêsu không mặc khải chân lý cho con người, sẽ không có ai biết được.
+ Hai động từ ăn (esthíô) và uống (pinô) mà Gioan dùng ở đây là hai động từ căn bản dùng trong việc ăn uống của con người: như ăn bánh và uống nước.
+ Chúa Giêsu phân biệt hai sự sống: thể lý (psyche) và thần linh (zôê). Nếu không ăn thịt và uống máu Chúa, con người vẫn có sự sống thể lý; nhưng không có sự sống thần linh.
+ Sự sống muôn đời (zôê aiônion): Sự sống thần linh sẽ dẫn con người đến sự sống muôn đời: "Ai ăn thịt và uống máu tôi, thì được sống muôn đời, và tôi sẽ cho người ấy sống lại vào ngày sau hết." Như Chúa Giêsu khi mang thân xác con người, mặc dù con người vẫn phải chết cách thể lý, nhưng sẽ được sống lại vinh hiển, và sẽ không bao giờ phải chết nữa.
+ Thịt và Máu Chúa là lương thực nuôi sống con người: "vì thịt tôi thật là của ăn, và máu tôi thật là của uống." Hai danh từ dùng để so sánh: của ăn (brôsin) và của uống (pôsin) là hai danh từ dùng để chỉ lương thực căn bản của con người.
+ Sự sống thần linh là sự sống của chính Thiên Chúa: "Ai ăn thịt và uống máu tôi, thì ở lại trong tôi, và tôi ở lại trong người ấy." Chúa Giêsu và người rước Chúa trở nên một, như thánh Phaolô tuyên bố: "Tôi sống, nhưng không còn là tôi; mà là chính Đức Kitô sống trong tôi."
+ Sự sống thần linh giúp con người hiểu biết sự khôn ngoan và các mầu nhiệm của Thiên Chúa mà trí khôn con người không hiểu thấu được. Sự khôn ngoan có được là do Thánh Thần của Đức Kitô hướng dẫn con người. Sự sống thần linh giúp cho con người có sức mạnh để đáp ứng lời mời gọi nên trọn lành của Đức Kitô mà sức riêng con người không thể làm được. Ví dụ, con người có được tình yêu nguyên thủy của Thiên Chúa để yêu thương kẻ thù, làm ơn và cầu nguyện cho người ghét mình.
3.3/ Hậu quả của việc lãnh nhận bí-tích Thánh Thể: Nếu ăn sẽ sống, không ăn sẽ chết.
+ Chúa Giêsu sống bằng chính sự sống của Chúa Cha: "Như Chúa Cha là Đấng Hằng Sống đã sai tôi, và tôi sống nhờ Chúa Cha thế nào, thì kẻ ăn tôi, cũng sẽ nhờ tôi mà được sống như vậy." Trong mầu nhiệm Nhập Thể, chúng ta tuyên xưng Chúa Giêsu mang hai bản tính: Thiên Chúa và nhân loại: bản tính Thiên Chúa không bao giờ chết, bản tính nhân loại chết khi Chúa Giêsu tắt thở trên Thánh Giá; nhưng được phục sinh ngay vì bản tính Thiên Chúa. Người rước Mình và Máu Đức Kitô cũng mang hai sự sống thể lý và thần linh. Hai sự sống này không tiêu diệt nhau nhưng bổ xung cho nhau.
ÁP DỤNG TRONG CUỘC SỐNG:
- Để được sống trường sinh bất tử, chúng ta phải khôn ngoan tìm ra thánh ý của Thiên Chúa và vâng lời làm theo những gì Ngài dạy.
- Chúng ta phải tin vào những gì Đức Kitô mặc khải về bí-tích Thánh Thể và thường xuyên lãnh nhận Bí-tích này.
Linh mục Anthony Đinh Minh Tiên, OP
- 15/8 Khiêm nhường làm theo thánh ý Thiên Chúa để phục vụ tha nhân
- 14/8 Sống trung thành với ơn gọi của mình.
- 13/8 Thiên Chúa ban ơn đầy đủ để con người có thể hoàn thành sứ vụ
- 12/8 Chiều kích cộng đoàn phải đặt trên chiều kích cá nhân
- 11/8 Môn đệ Đức Kitô phải biết khiêm hạ và bênh vực kẻ yếu đuối
- 10/8 Cho đi là nguyên tắc sống của cuộc đời
- 09/8 Bánh mang lại sự sống thần linh cho con người
- 08/8 Rao giảng Tin Mừng để đưa các linh hồn về cho Chúa
- 07/8 Hãy dùng trí nhớ để học biết Thiên Chúa và những gì Ngài dạy
- 06/8 Lịch sử làm chứng cho Đức Kitô
