Tin Giáo Hội Hoàn Vũ
Tin Giáo Hội Hoàn Vũ
Tòa Thượng phụ Công giáo Latinh ở Jerusalem hoàn toàn bác bỏ và chống lại các “cuộc xâm nhập” của người Do Thái Israel vào các khu đất thuộc sở hữu của Công giáo tại Tayasir và Hamam al- Maleh, trong Thung lũng Jordan, thuộc miền Bờ Tây.
G. Trần Đức Anh, O.P. | RVA
Trong thông cáo báo chí, Đức Thượng phụ Pierbattista Pizzaballa cho biết đã gặp trực tiếp các nhà chức trách dân sự và quân sự để thảo luận về các vụ việc nghiêm trọng, đồng thời trình bày “đơn khiếu nại chính thức kèm bằng chứng”, bao gồm chi tiết các cuộc tấn công. Theo các hình ảnh lan truyền trên mạng, các vụ việc này bao gồm cả việc phá hủy một trường học có 70 trẻ em theo học.
Đức Thượng phụ nhấn mạnh rằng: “việc bảo vệ tài sản của Giáo hội là một lằn ranh đỏ”, đồng thời tái khẳng định cam kết bảo vệ sự linh thiêng, bản sắc Giáo hội và cả người dân Palestine bị ảnh hưởng.
Sau khi nhận được khiếu nại, phía Israel đã “triển khai các hành động cần thiết, bao gồm truy tố những người chịu trách nhiệm và tịch thu các máy móc hạng nặng được sử dụng để phá hoại”. Giáo hội tại Thánh Địa yêu cầu bồi thường thiệt hại, ngăn chặn các cuộc tấn công trong tương lai và bảo đảm bảo vệ tài sản của mình. Các nhà chức trách Israel cũng đã “ngay lập tức loại bỏ các chiếm đóng trái phép”.
Bối cảnh gia tăng bạo lực
Sự việc diễn ra trong bối cảnh bạo lực của người Do thái định cư tại miền Bờ Tây gia tăng kể từ khi chiến tranh với Iran bắt đầu. Gần đây, các nhóm cực đoan còn nhắm vào trường học: tại làng al-Mughayyir, hai người Palestine đã bị bắn chết - Aws Al-Naasan (14 tuổi) và Jihad Abu Naim (32 tuổi).
Tại Umm al-Khair, phía nam Hebron, một con đường chính bị rào bằng dây thép gai để ngăn trẻ em đến trường; trong năm ngày qua, các em đã biểu tình ôn hòa đòi quyền được học tập.
Nỗ lực cải thiện tương quan với Kitô hữu
Song song đó, chính phủ Israel đang cố gắng hàn gắn mối tương quan ngày càng căng thẳng với cộng đồng Kitô hữu tại Thánh địa. Căng thẳng gia tăng sau khi chính quyền cấm Đức Thượng phụ và các lãnh đạo Kitô giáo cử hành phụng vụ tại Nhà thờ Mộ Thánh trong Chúa nhật Lễ Lá vừa rồi, với lý do hạn chế do tình trạng chiến tranh.
Ngoài ra còn có vụ một bức tượng Chúa Giêsu bị đập phá bằng búa tại miền nam Liban bởi một binh sĩ Israel (nay đã bị trừng phạt), sau đó được lực lượng mũ nồi xanh Ý thuộc UNIFIL phục hồi.
Bổ nhiệm Đặc phái viên cho thế giới Kitô giáo
Bộ trưởng Ngoại giao Israel Gideon Saèar đã bổ nhiệm nhà ngoại giao George Deek làm Đặc phái viên về thế giới Kitô giáo. Bộ Ngoại giao cho biết đây là quyết định nhằm “tăng cường mối liên hệ của Israel với các cộng đồng Kitô giáo trên toàn thế giới”.
Ông Deek - cựu Đại sứ Israel tại Azerbaijan - là Đại sứ Kitô hữu đầu tiên của nước này, thuộc cộng đồng Kitô hữu Ả Rập tại Jaffa. Bộ trưởng bày tỏ tin tưởng rằng ông sẽ giúp củng cố mối quan hệ với thế giới Kitô giáo, bởi “Nhà nước Israel rất coi trọng mối quan hệ với cộng đồng này”.
(Asia News 25-4-2026)
Hôm 23 tháng Tư vừa qua, Hãng tin Fides của Bộ Loan báo Tin mừng đưa tin: Giáo hội Công giáo bé nhỏ tại Lào có thêm hai tân linh mục như một món quà quý giá, những người sẽ góp phần chăm sóc mục vụ cho các cộng đoàn Lào sống rải rác trong các làng nhỏ, trên một địa hình hiểm trở và đồi núi.
Phúc Nhạc | RVA
Hai linh mục mới là cha Peter Gnantina Phiakeo và cha Philip Nouy Kamhou, cả 2 vị đều thuộc Dòng Chúa Cứu Thế.
Thánh lễ truyền chức do Đức cha Jean-Marie Vianney Prida Inthirath, Đại diện Tông tòa Savannakhet, cử hành tại nhà thờ Thánh Louis ở Thakhek, trước sự tham dự của hơn 1.200 tín hữu Công giáo từ khắp cả nước và các quốc gia lân cận, như Thái Lan và Philippines.
Đây là một sự kiện đặc biệt đối với Giáo hội Công giáo tại Lào, chỉ có khoảng 20 linh mục, thuộc bốn hạt Đại diện Tông tòa và không có thừa sai nước ngoài nào được chính phủ cho phép đến Lào hoạt động.
Đức cha Anthony Adoun Hongsaphong, Đại diện Tông tòa thủ đô Viên Chăn, gốc Việt, tên là Antôn Hoàng Hữu Thư, đã tham dự thánh lễ này. Đức cha chia sẻ với hãng tin Fides rằng: “Đó là một buổi cử hành hân hoan và đầy niềm vui, với sự hiện diện của nhiều người trẻ, hơn 40 linh mục - một nửa là các tu sĩ Dòng Chúa Cứu Thế từ Tỉnh dòng Thái Lan - cùng nhiều nữ tu. Tất cả cùng hiệp ý ca ngợi Chúa và cầu nguyện cho hai tân linh mục, một món quà lớn lao Thiên Chúa ban cho Giáo hội Lào”.
Thánh lễ trọng thể kéo dài hơn hai tiếng rưỡi, được chuẩn bị bằng một buổi canh thức cầu nguyện vào tối hôm trước, khi toàn thể cộng đoàn dân Chúa tụ họp tại Thakhek để chầu Thánh Thể. Đức cha chia sẻ tiếp: “Cộng đoàn tín hữu đông đảo và đa dạng đã tham dự với đức tin sống động và chiều sâu thiêng liêng, ca ngợi Thiên Chúa và phó thác tương lai của Giáo hội tại Lào trong tay Ngài”.
Phát biểu với Fides, cha Enrique Figaredo, Dòng Tên, Phủ doãn Tông tòa Battambang bên Campuchia và hiện là Chủ tịch Hội đồng Giám mục Lào và Campuchia (CELAC), bày tỏ sự gần gũi và niềm vui của mình và nói: “Giáo hội Lào, dù còn nhiều hạn chế và khó khăn, vẫn tiến bước với đức tin, cậy, mến, không nản lòng. Lào là một đất nước rất đẹp về thiên nhiên và con người hiền hòa, hiếu khách. Chúng tôi rất vui mừng vì Chúa tiếp tục ban thêm những thợ gặt cho cánh đồng của Ngài, trong một cộng đoàn rất cần linh mục để chăm sóc mục vụ cho các tín hữu. Chúa đang thực hiện những điều kỳ diệu tại một nơi tuyệt vời. Giáo hội Công giáo nhỏ bé tại Lào hướng về tương lai với niềm hy vọng, tín thác vào sự quan phòng của Thiên Chúa; món quà hai linh mục mới là rất quan trọng để mang lại niềm vui và sự tin tưởng vào tương lai. Chúng tôi ở bên cạnh anh chị em tại Lào, đồng hành bằng lời cầu nguyện và cùng họ bước đi trên con đường Chúa chỉ dẫn, tin tưởng rằng Ngài sẽ dẫn dắt và ban ánh sáng cùng sức mạnh của Thánh Thần”.
(Fides 23-5-2026)
Vatican News
Trong sứ điệp gửi các giáo viên dạy tôn giáo, Đức Thánh Cha đã bày tỏ lòng biết ơn đối với “công việc âm thầm nhưng rất quan trọng” của họ trong việc đào tạo các thế hệ trẻ. Ngài nhấn mạnh rằng chiều kích tôn giáo là yếu tố không thể thiếu trong kinh nghiệm con người và không thể bị loại trừ khỏi tiến trình giáo dục.
Trích dẫn một văn kiện của Hội đồng Giám mục Ý, ngài khẳng định: “Chiều kích tôn giáo là một yếu tố cấu thành của kinh nghiệm con người và không thể bị gạt ra bên lề trong tiến trình đào tạo các thế hệ mới”.
Ngài cũng nhắc lại tư tưởng của Thánh Augustinô về khát vọng nội tâm của con người: “Chúa đã dựng nên chúng con cho Chúa, và tâm hồn chúng con khắc khoải cho đến khi được nghỉ yên trong Chúa”. Theo đó, khát khao vô hạn nơi con người có thể trở thành động lực xây dựng hòa bình và đổi mới xã hội.
Giáo viên là người đồng hành trong hành trình khám phá nội tâm
Đức Thánh Cha nhấn mạnh vai trò của giáo viên như những người đồng hành trong hành trình khám phá nội tâm của người trẻ khi nói: “Giáo dục là giúp các em nhận ra một tiếng nói vốn đã vang lên trong lòng mình, không để nó bị chôn vùi hay lẫn lộn với những ồn ào xung quanh”.
Trong bối cảnh xã hội tràn ngập thông tin khích động và tiếng ồn gây phân tán, việc giúp người trẻ lắng nghe tiếng nói nội tâm trở thành một trong những quà tặng quý giá nhất. Đức Thánh Cha nhấn mạnh chủ đề “Con tim nói với con tim”, lấy cảm hứng từ Thánh John Henry Newman, như một con đường giáo dục dựa trên tương quan cá vị và việc tìm kiếm chân lý.
Đức tin và lý trí không đối lập
Ngài cũng lưu ý rằng đức tin và lý trí không đối lập nhưng “là những người bạn đồng hành trong hành trình tìm kiếm chân lý cách khiêm tốn và chân thành”.
Giáo dục đích thực đòi hỏi sự kiên nhẫn và tình yêu
Đức Thánh Cha nhấn mạnh rằng giáo dục đích thực đòi hỏi sự kiên nhẫn và tình yêu: “Giáo dục cần gieo trồng mà không đòi hỏi kết quả tức thời”. Đồng thời, các giáo viên được mời gọi trở thành những chứng nhân đáng tin cậy, không áp đặt nhưng đồng hành với học sinh trong những câu hỏi lớn của cuộc đời. Ngài khẳng định học sinh không cần những câu trả lời có sẵn, nhưng cần sự gần gũi, trung thực và trách nhiệm.
Kết thúc diễn văn, Đức Thánh Cha khích lệ các nhà giáo tiếp tục sứ mạng của mình như “những người phục vụ thế giới giáo dục, những người kiến tạo hy vọng”, đồng thời ban phép lành Tông Tòa và phó thác họ cho sự chuyển cầu của Đức Maria.
Vatican News
Sự kiện được tổ chức ngày 24/4/2026. Trong sứ điệp video, Đức Thánh Cha bày tỏ niềm vui và sự hiệp thông khi cùng nhìn lại quyết định mang tính bước ngoặt được thực hiện vào năm 2011.
Phẩm giá của sự sống con người
Ngài nhấn mạnh rằng Giáo hội Công giáo luôn dạy rằng “mọi sự sống con người từ lúc thụ thai cho đến khi chết tự nhiên, đều thiêng liêng và đáng được bảo vệ”. Ngài khẳng định rằng “quyền sống là nền tảng của mọi quyền con người khác”. Do đó, “một xã hội chỉ có thể phát triển bền vững khi biết tôn trọng và bảo vệ phẩm giá của mỗi con người” (xem Bài phát biểu trước các thành viên Ngoại giao đoàn cạnh Tòa Thánh, 9/1/2026).
Tội nhân không đánh mất phẩm giá
Đức Thánh Cha nhắc lại giáo huấn của Giáo hội, như được trình bày trong sách “Giáo lý của Giáo hội Công giáo”, ngay cả những người phạm tội nghiêm trọng cũng không đánh mất phẩm giá vốn có của mình. Bên cạnh đó, ngài nhận xét, những hệ thống giam giữ hiện đại có thể bảo vệ xã hội mà vẫn mở ra cơ hội hoán cải cho người phạm pháp.
Án tử hình là không thể chấp nhận
Ngài cũng nhắc lại rằng các vị Giáo hoàng gần đây, đặc biệt là Đức Giáo hoàng Phanxicô, đã nhiều lần khẳng định rằng “có thể bảo vệ lợi ích chung và bảo đảm các yêu cầu của công lý mà không cần đến án tử hình”. Vì thế, Giáo hội khẳng định rằng án tử hình là không thể chấp nhận, vì đi ngược lại phẩm giá và sự bất khả xâm phạm của con người.
Kết thúc sứ điệp, Đức Thánh Cha bày tỏ sự ủng hộ đối với những người đang nỗ lực vận động bãi bỏ án tử tại Hoa Kỳ và trên thế giới, đồng thời cầu nguyện để các sáng kiến này góp phần thúc đẩy sự tôn trọng phẩm giá con người và truyền cảm hứng cho những người khác cùng làm việc vì chính nghĩa tương tự.
Sau chuyến thăm của Đức Giáo hoàng Lêô XIV tại Angola, Đức Tổng giám mục Kryspin Dubiel, Sứ thần Tòa Thánh tại quốc gia này nhấn mạnh sự bình đẳng của châu Phi trên thế giới.
G. Trần Đức Anh, O.P. | RVA
Tuyên bố với Vatican News, Đức Tổng giám mục Dubiel, người Ba Lan, nói: “Châu Phi có quyền được công nhận như một đối tác bình đẳng. Đây không chỉ là một châu lục khơi gợi sự quan tâm, nhưng còn là nơi có thể truyền tải thông điệp cho thế giới”
Đức Giáo hoàng Lêô XIV đã thăm Angola ở Tây Nam châu Phi từ ngày 18 đến 21 tháng Tư vừa qua.
Đức Sứ thần Tòa Thánh cho biết châu Phi đang gìn giữ những giá trị ngày nay thường bị mai một, chẳng hạn như giá trị gia đình. Ngài cũng nhấn mạnh vai trò quan trọng của giới trẻ tại Angola, những người tham gia đông đảo các sự kiện với Giáo hoàng.
Đức Sứ thần cũng nêu bật vai trò quan trọng của các giáo lý viên trong Giáo hội tại Angola. Họ chăm sóc các cộng đoàn mà linh mục không thể tiếp cận. Ngài nói: “Một trong các giám mục kể với tôi là đã đến thăm một ngôi làng nơi đã 5 năm không có thánh lễ”. Các giáo lý viên thường phục vụ cộng đoàn mà không có hỗ trợ tài chính, xuất phát từ niềm xác tín nội tâm và mong muốn tham gia vào đời sống Giáo hội.
Nhiều khích lệ từ chuyến thăm của Đức Giáo hoàng
Đức Tổng giám mục Dubiel tiết lộ là đã vận động để Giáo hoàng trong chuyến thăm Angola, ghé Saurimo - một khu vực có nhiều người nghèo tuy là vùng này giàu tài nguyên thiên nhiên. Tại đây, chỉ khoảng 12% dân số là người Công giáo và nhiều người chịu ảnh hưởng của các giáo phái.
Đức Sứ thần tổng kết rằng chuyến thăm của Đức Giáo hoàng đã để lại cho Angola “nhiều năng lượng tích cực, thiện chí và sự khích lệ tiếp tục giữ vững các giá trị mà Giáo hội Công giáo loan báo”. Lêô XIV khuyến khích mọi người không sống thụ động, mà hãy tuyên xưng và sống đức tin trong đời sống hằng ngày.
(KAP 24-4-2026)
Đức Hồng y Reinhard Marx, Tổng giám mục Giáo phận Munich-Freising, trong tư cách là Chủ tịch Hội đồng Hồng y về các vấn đề tài chánh của Tòa Thánh từ năm 2014, cho rằng các vấn đề của Tòa Thánh về phương diện này có thể được giải quyết.
G. Trần Đức Anh, O.P. | RVA
Trong cuộc phỏng vấn dành cho tạp chí “Herder Korrespondenz”, Đức Hồng y nói rằng lợi nhuận của Ngân hàng Vatican (IOR) và Quốc gia thành Vatican có thể được sử dụng “để đảm bảo Tòa Thánh duy trì trạng thái tài chính có lãi một cách ổn định”.
Tòa Thánh vốn phải chi phí nhiều cho nhân sự giáo triều, bộ máy ngoại giao tốn kém và đặc biệt là các cơ quan truyền thông của Vatican. Nếu không có các khoản chuyển từ lợi nhuận của Ngân hàng Vatican và Quốc gia Thành Vatican, trong đó có lợi nhuận lớn từ Viện Bảo tàng Vatican - thì Tòa Thánh không thể tồn tại. Khoản quyên góp hằng năm toàn cầu quen gọi là “Đồng tiền Thánh Phêrô” không đủ để trang trải các chi phí này.
Đức Hồng y Marx nói: “Tòa Thánh không bị khủng hoảng tài chính mang tính sống còn”. Tuy nhiên, dù có sự hỗ trợ chéo từ lợi nhuận của Ngân hàng Vatican và Quốc gia thành Vatican, nhưng việc tài trợ cho quỹ hưu trí của nhân viên vẫn là một vấn đề lớn, “giống như ở hầu hết các tổ chức trên thế giới”.
Trong bối cảnh này, Đức Hồng y Marx than rằng tại Tòa Thánh và Vatican có nhiều đơn vị kinh tế, mỗi đơn vị lập báo cáo tài chính riêng và truyền thông riêng biệt. “Điều này cần phải được cải thiện”.
Tăng cường gây quỹ?
Đức Hồng y cũng đề cập đến kế hoạch thành lập một bộ phận gây quỹ riêng của Vatican. Ngài nói: “Tôi cho rằng điều này là đúng đắn”.
Cuộc phỏng vấn Đức Hồng y Marx được đăng trong ấn bản đặc biệt mới của “Herder Korrespondenz”, với chủ đề “Giáo hoàng Lêô XIV và tương lai của chức Giáo hoàng”. Các chuyên gia trong đó phân tích cá tính và những quyết định đầu tiên của Lêô XIV, đặt câu hỏi về mục tiêu chính trị và thần học, cũng như chương trình đối thoại của Đức Giáo hoàng với Do Thái giáo và Hồi giáo. Các bài viết cũng đề cập đến phong cách, cách thể hiện của Đức Lêô XIV và âm nhạc của các Giáo hoàng.
(KAP 23-4-2026)
Ngày 24 tháng Tư vừa qua, Ủy ban giám mục Công giáo thuộc Liên hiệp Âu Châu, gọi tắt là COMECE, đã kết thúc khóa họp toàn thể tại Nicosia, thủ phủ đảo Cipro.
Phúc Nhạc | RVA
Các vị đã trao đổi về tình hình các quốc gia và Giáo hội vùng Địa Trung Hải, cũng như tình hình Trung Đông, đồng thời về tình hình trên hòn đảo Cipro bị chia cắt. Các vị cũng bàn về tị nạn/di cư và quy định hồi hương dự kiến của EU, các thách thức đối với các quốc gia và Giáo hội quanh Địa Trung Hải và trên đảo Cipro.
Ngay từ thứ Tư, Đức Thượng phụ Latinh của Giêrusalem, Hồng y Pierbattista Pizzaballa, đã tham gia qua video và thuật lại với các giám mục về tình hình tại Thánh Địa. Ngài mạnh mẽ kêu gọi các giám mục Liên hiệp Âu Châu thúc đẩy đối thoại liên tôn tại châu Âu.
Sự chia cắt của đảo Cipro là “một vết thương còn mở”
Cũng trong những ngày qua, các giám mục đã gặp thủ lãnh Giáo hội Chính thống Cipro là Đức Tổng giám mục Georgios. Tại đây, cũng như trong cuộc gặp với Thứ trưởng Văn hóa Cipro Vasiliki Kassianidou vào thứ Năm 23 tháng Tư, các vị đề cập đến hậu quả của sự chia cắt Cipro từ năm 1974. Phần phía nam lớn hơn do Cộng hòa Cipro kiểm soát, trong khi phía bắc thuộc quyền kiểm soát của Cộng hòa Bắc Cipro Thổ Nhĩ Kỳ - chỉ được Thổ Nhĩ Kỳ công nhận. Trong khuôn khổ cuộc họp, các giám mục châu Âu cũng dự định thăm “Đường Xanh” (khu vực đệm giữa hai phần đảo) cũng như các Kitô hữu Maronite ở phía bắc.
Bà Bộ trưởng Kassianidou gọi sự chia cắt hòn đảo là “một vết thương còn mở trong trái tim đất nước chúng tôi và của châu Âu”. Theo Vatican News, bà đã báo cáo với các giám mục về “những vi phạm nghiêm trọng các quyền cơ bản của con người” ở phần phía bắc, bao gồm việc trục xuất và hạn chế tiếp cận di sản văn hóa và tôn giáo.
Chống buôn bán trái phép tài sản văn hóa
Người Cipro gốc Hy Lạp không được phép tự do sử dụng hơn 550 di tích tôn giáo ở vùng bị chiếm đóng. Bà Kassianidou cho biết có những nhà thờ bị phá hủy hoặc bị phá hoại, các nghĩa trang bị cướp phá, và các bức bích họa cùng tranh khảm bị gỡ khỏi tường nhà thờ và bán ra nước ngoài. Chính phủ Cipro đang nỗ lực thu hồi các hiện vật này từ thị trường bất hợp pháp và các cuộc đấu giá trên toàn thế giới. “Chính vì vậy, cuộc chiến chống buôn bán trái phép tài sản văn hóa đã được xác định là một trong những ưu tiên hàng đầu của Cipro trong nhiệm kỳ Chủ tịch Hội đồng Liên minh châu Âu năm 2026”.
Về tiến trình hòa giải trên đảo, bà Bộ trưởng nói đến một “tia hy vọng”. Các bên đang làm việc hướng tới một “giải pháp công bằng, khả thi và lâu dài, phù hợp với luật pháp quốc tế và dưới sự bảo trợ của Liên Hợp Quốc”.
(KAP 23-4-2026)
Giáo hội Công giáo tại Đức công bố một hướng dẫn về việc ban phép lành cho các cặp đôi tái hôn và các cặp đồng tính. Theo các tác giả, điều này phù hợp với tinh thần của Đức Giáo hoàng Phanxicô. Tuy nhiên, vẫn có những ý kiến chỉ trích.
Phúc Nhạc | RVA
Tại Đức, hiện đã có các quy định về cách thức những người ly hôn tái hôn và người đồng tính có thể được ban phép lành trong Giáo hội. Như Hội đồng Giám mục Đức (DBK) và Ủy ban Trung ương giáo dân Công giáo Đức (ZdK) thông báo, hôm thứ Tư ngày 22 tháng Tư vừa qua, một tài liệu hướng dẫn dành cho các nhân viên mục vụ đã được thông qua bởi Hội nghị chung gồm các giám mục và đại diện Ủy ban ZdK.
Các phép lành này được hiểu là một đề nghị dành cho “những người đã ly hôn và tái hôn, các cặp đôi thuộc mọi bản dạng giới và xu hướng tính dục, cũng như các cặp đôi vì những lý do khác không muốn hoặc không thể lãnh nhận bí tích hôn phối”. Tài liệu hướng dẫn này không có tính ràng buộc pháp lý. Bản thân tài liệu chỉ được mô tả là “những chỉ dẫn cho thực hành”.
Tài liệu này được xem là kết quả của tiến trình đối thoại cải cách của Giáo hội tại Đức, còn gọi là “Con đường Công nghị”. Sau khi Tòa Thánh, vào tháng Mười Hai năm 2023 nới lỏng lệnh cấm ban phép lành cho các mối quan hệ đồng tính, những thay đổi này cũng đã được đưa vào. Với hướng dẫn vừa công bố, người ta cho rằng đang theo “cách tiếp cận mục vụ của triều đại Giáo hoàng Phanxicô”. Đồng thời, Hội nghị chung (Giám mục và Giáo dân) cũng thông qua một tài liệu hướng dẫn về cách đối xử tôn trọng với các linh mục rời nhiệm vụ do có mối quan hệ tình cảm.
Những chỉ trích đến từ sáng kiến cải cách Công giáo “OutInChurch”. Nhóm này phê phán rằng không có một văn bản bắt buộc cho việc cử hành phụng vụ các nghi thức ban phép lành. Điều này trước đây đã được yêu cầu rõ ràng trong tiến trình Thượng hội đồng. Theo đó, các cặp đôi đồng tính nam và nữ vẫn tiếp tục bị phân biệt đối xử. “Ngay cả khi về nguyên tắc phép lành được cho phép, thì đó vẫn là một phép lành hạng hai.” Người ta mong rằng tài liệu hướng dẫn hiện tại sẽ tạo ra một động lực riêng, “cuối cùng cho thấy rằng giáo lý truyền thống không còn được chấp nhận và cần phải thay đổi”. Trong khuôn khổ sáng kiến “OutInChurch”, vào tháng Giêng năm 2022, khoảng 125 nhân viên và thành viên của Giáo hội Công giáo Đức đã công khai “come out” là người queer, chẳng hạn như đồng tính hoặc chuyển giới.
Văn kiện trên đây trái với tinh thần Văn kiện của Bộ giáo lý Đức tin (với sự chấp thuận của Đức Giáo hoàng Phanxicô) chỉ cho phép chúc lành cho những cặp đồng phái theo thể thức “qua đường” chứ không có nghi thức nào, ví dụ như trong một cuộc hành hương.
Tuy nhiên, Đức Hồng y Marx, Tổng giám mục Munich, nguyên Chủ tịch Hội đồng Giám mục Đức, mới đây ra khuyến khích các linh mục và nhân viên mục vụ trong giáo phận của ngài chúc lành cho các cặp đồng phái.
Vatican News
Sự kiện do Cộng đoàn Thánh Egidio và đại diện Giáo hội Armenia cạnh Tòa Thánh tổ chức, với sự tham dự của nhiều tổ chức và cộng đoàn.
Đức Hồng y Kurt Koch nhấn mạnh rằng cuộc bách hại các Kitô hữu “không những chưa chấm dứt mà còn gia tăng tại một số nơi trên thế giới”. Từ đó, ngài mời gọi các tín hữu nhìn lại chứng tá của các vị tử đạo như một nguồn hy vọng và là lời mời gọi hiệp nhất.
Nhận ra những ân sủng và chứng tá đức tin nơi các Kitô hữu
Sứ điệp cũng trích dẫn sắc lệnh về đại kết “Unitatis redintegratio” của Công đồng Vatican II, khẳng định rằng việc nhận ra những ân sủng và chứng tá đức tin nơi các Kitô hữu thuộc các truyền thống khác nhau là điều chính đáng và hữu ích. Qua đó, Giáo hội tôn vinh các vị tử đạo như những chứng nhân sống động của Đức Kitô, Đấng là chứng tá tối cao của tình yêu Thiên Chúa.
Tử đạo không phải là một hiện tượng bên lề
Đức Hồng y Koch nhắc lại rằng tử đạo không phải là một hiện tượng bên lề, nhưng là trung tâm của đời sống Kitô giáo. Ngài liên kết chứng tá của các tín hữu Armenia với “đại kết của máu”, một khái niệm được Thánh Gioan Phaolô II nhấn mạnh, cho thấy các Kitô hữu được hiệp nhất qua chính sự hy sinh của họ, vượt lên trên mọi khác biệt.
Những cuộc bách hại hiện tại
Theo ngài, bất chấp “các chế độ độc tài lớn của thế kỷ XX đã kết thúc”, sự bách hại Kitô hữu thậm chí còn trở nên dữ dội hơn ở một số nơi trên thế giới. Tuy nhiên, cũng như Giáo hội sơ khai tin chắc rằng “máu của các vị tử đạo là hạt giống nảy sinh các Kitô hữu”, chúng ta hy vọng rằng sự hy sinh của rất nhiều “chứng nhân ngày nay” sẽ trở thành khúc dạo đầu cho sự hiệp thông trong tương lai của “một Thân Thể Chúa Kitô”, đang bị giày vò bởi nhiều sự chia rẽ.
Các vị tử đạo đồng hành với các tín hữu
Kết thúc sứ điệp, Đức Hồng y bày tỏ ước mong các vị tử đạo tiếp tục đồng hành với các tín hữu trên hành trình tiến tới hiệp thông trọn vẹn, để một ngày tất cả cùng được hiệp nhất quanh cùng một chén cứu độ.
Cũng trong dịp này, ông Marco Impagliazzo, Chủ tịch Cộng đoàn Thánh Egidio, mời gọi các tín hữu sống ký ức đau thương này trong ánh sáng Phục Sinh, biến việc tưởng niệm thành cơ hội cầu nguyện cho hòa bình thế giới hôm nay.
Vatican News
Chuyến tông du: Ưu tiên loan báo Tin Mừng
Mở đầu cuộc họp báo trên chuyến bay từ Malabo, chặng cuối của hành trình tại Guinea Xích đạo, trở về Roma, Đức Thánh Cha Lêô XIV vui vẻ chào các ký giả hiện diện: “Chào tất cả anh chị em, tôi hy vọng anh chị em vẫn khỏe, và đã sẵn sàng cho một chuyến đi khác. Với pin đã được sạc đầy rồi!”.
Khoảng 70 nhà báo đã tháp tùng Đức Thánh Cha trong chuyến tông du quốc tế này. Trước khi trả lời các câu hỏi, ngài chia sẻ suy nghĩ về kinh nghiệm vừa sống tại châu Phi, nhấn mạnh ý nghĩa mục vụ của chuyến tông du:
“Khi tôi thực hiện một chuyến đi, tôi nói với tư cách cá nhân mình, nhưng hôm nay, trong tư cách là Giáo hoàng, Giám mục Roma, đây trước hết là một chuyến tông du mục vụ để gặp gỡ, đồng hành và biết đến dân Thiên Chúa. Nhiều khi người ta lại quan tâm thiên về chính trị hơn: ‘Đức Giáo hoàng nói gì về vấn đề này hay vấn đề kia? Tại sao ngài không phán xét chính phủ ở nước này hay nước khác?’. Chắc chắn có nhiều điều để nói. Tôi đã nói về công lý và ở đó có những chủ đề liên quan. Nhưng đó không phải là lời đầu tiên: chuyến đi trước hết phải được hiểu như sự diễn tả ước muốn loan báo Tin Mừng, công bố sứ điệp của Chúa Giêsu Kitô, và như thế, đó là cách đến gần dân chúng trong niềm hạnh phúc của họ, trong chiều sâu đức tin của họ, nhưng cũng trong đau khổ của họ. Ở đó, dĩ nhiên, nhiều khi cần đưa ra những nhận định hoặc tìm cách khích lệ chính người dân biết đảm nhận trách nhiệm trong cuộc sống của mình. Cũng quan trọng khi nói chuyện với các nguyên thủ quốc gia, để khuyến khích một sự thay đổi não trạng hoặc một sự cởi mở lớn hơn nhằm nghĩ đến thiện ích của dân chúng, một khả thể để nhìn nhận những vấn đề như sự phân phối của cải của một quốc gia. Trong các cuộc gặp mà chúng tôi đã có, chúng tôi đã làm một chút về tất cả những điều đó, nhưng trên hết là nhìn thấy, gặp gỡ dân chúng với lòng nhiệt thành này. Tôi rất vui mừng về toàn bộ chuyến đi, nhưng được sống, được đồng hành, được bước đi với dân Guinea Xích đạo thật sự là một phúc lành với nước... Họ vui mừng vì những cơn mưa hôm trước, nhưng trên hết là vì dấu chỉ này: được chia sẻ với Giáo hội hoàn vũ điều mà chúng ta cử hành trong đức tin của mình”.
Các câu hỏi từ các nhà báo:
Nhà báo Ignazio Ingrao hỏi (Tg1): Thưa Đức Thánh Cha, xin cảm ơn ngài vì chuyến đi đầy những cuộc gặp gỡ, những câu chuyện và những khuôn mặt. Trong cuộc gặp vì hòa bình tại Bamenda, ở Camerun, Đức Thánh Cha đã mô tả một thế giới đảo lộn, nơi một nhóm nhỏ những bạo chúa có nguy cơ hủy diệt hành tinh. Ngài nói: Hòa bình không phải là điều phải phát minh ra nhưng là điều phải được đón nhận. Các cuộc đàm phán về xung đột tại Iran đang rơi vào hỗn loạn với những tác động nặng nề trên kinh tế toàn cầu. Ngài có mong muốn một sự thay đổi chế độ tại Iran không, khi mà cả xã hội dân sự lẫn sinh viên đã xuống đường trong những tháng gần đây và thế giới đang lo ngại về cuộc chạy đua hạt nhân? Ngài gửi lời kêu gọi nào đến Mỹ, Iran, Israel để thoát khỏi bế tắc và chấm dứt leo thang? NATO và châu Âu có nên tham gia nhiều hơn không?
Tôi muốn bắt đầu bằng cách nói rằng cần phải cổ võ một thái độ mới và một nền văn hóa hòa bình. Rất nhiều lần, khi chúng ta đánh giá một số hoàn cảnh, phản ứng lập tức là phải can thiệp bằng bạo lực, bằng chiến tranh, bằng tấn công. Điều mà chúng ta đã thấy là rất nhiều người vô tội đã chết. Tôi vừa đọc lá thư của một số gia đình có con em đã chết trong ngày đầu tiên của cuộc tấn công. Và họ nói về việc giờ đây họ đã mất con mình, những bé trai, bé gái, những trẻ em đã chết trong cuộc tấn công đó. Vấn đề không phải là chế độ có thay đổi hay không thay đổi; vấn đề là làm thế nào để cổ võ những giá trị mà chúng ta tin tưởng mà không gây ra cái chết của biết bao người vô tội. Vấn đề Iran rõ ràng là rất phức tạp. Chính các cuộc thương thuyết đang diễn ra, một ngày Iran nói có và Mỹ nói không, rồi ngược lại, và chúng ta không biết sẽ đi về đâu. Tình trạng hỗn loạn này đã được tạo ra, gây nguy cấp cho kinh tế toàn cầu, nhưng rồi cũng có cả một dân chúng tại Iran là những người vô tội đang phải chịu đau khổ vì cuộc chiến này. Vì thế, về chuyện thay đổi chế độ hay không: không rõ hiện nay là chế độ nào đang tồn tại, sau những ngày đầu tiên của các cuộc tấn công của Israel và Mỹ vào Iran. Thay vào đó, tôi muốn khích lệ việc tiếp tục đối thoại vì hòa bình, để các bên tìm cách dồn mọi nỗ lực nhằm cổ võ hòa bình, đẩy xa mối đe dọa chiến tranh và tôn trọng luật pháp quốc tế. Điều rất quan trọng là những người vô tội phải được bảo vệ, điều đã không xảy ra ở nhiều nơi. Tôi mang theo bên mình một tấm ảnh của một em bé Hồi giáo mà trong chuyến viếng thăm Libăng đã đứng đó chờ tôi với một tấm bảng ghi “Chào mừng Đức Giáo hoàng Lêô”, rồi trong giai đoạn cuối của cuộc chiến, em đã bị giết. Có biết bao hoàn cảnh con người như thế và tôi nghĩ rằng chúng ta phải có khả năng suy nghĩ theo cách đó. Với tư cách là Giáo hội, tôi xin nói lại, với tư cách là mục tử, tôi không thể ủng hộ chiến tranh. Và tôi muốn khích lệ mọi người nỗ lực tìm kiếm những câu trả lời phát xuất từ một nền văn hóa hòa bình chứ không phải từ hận thù và chia rẽ.
Nhà báo Eva Fernández (Radio Cope): Chúng ta đang rời một châu lục nơi rất nhiều người mong muốn, mơ ước được sang châu Âu. Chuyến đi kế tiếp của ngài sẽ là đến Tây Ban Nha, nơi vấn đề di cư giữ một vị trí rất quan trọng, nhất là tại quần đảo Canary. Ngài biết rằng chủ đề di cư tại Tây Ban Nha đang gây nên nhiều tranh luận và phân cực, kể cả giữa những người Công giáo cũng không có một lập trường rõ ràng. Chúng ta sẽ có thể nói gì với người Tây Ban Nha, và đặc biệt với người Công giáo, về vấn đề di cư? Và nếu ngài cho phép: chuyến đi kế tiếp sẽ là Tây Ban Nha nhưng chúng tôi biết ngài có mong muốn, có ý định đi Peru và có lẽ cả Argentina và Uruguay, nhưng ngài cũng có muốn đến viếng thăm Đức Mẹ Guadalupe không?
Chủ đề di cư rất phức tạp và tác động đến nhiều quốc gia, không chỉ Tây Ban Nha, không chỉ châu Âu, Mỹ, mà là một hiện tượng toàn cầu! Vì thế, câu trả lời của tôi bắt đầu bằng một câu hỏi: miền Bắc thế giới đang làm gì để giúp miền Nam thế giới hoặc những quốc gia nơi người trẻ hôm nay không tìm thấy tương lai và vì thế đang sống giấc mơ muốn đi lên miền Bắc? Ai cũng muốn đi lên miền Bắc, nhưng rất nhiều khi miền Bắc không có câu trả lời về cách trao cho họ những cơ hội. Nhiều người đang đau khổ... Vấn đề buôn người cũng là một phần của di cư. Về phần mình, tôi tin rằng một quốc gia có quyền đặt ra những quy định tại biên giới của mình. Tôi không nói rằng mọi người phải được vào mà không có trật tự, đôi khi còn tạo ra tại những nơi họ đến những hoàn cảnh bất công hơn cả những gì họ đã rời bỏ. Nhưng nói như thế xong, tôi tự hỏi: chúng ta đang làm gì tại những quốc gia giàu hơn để thay đổi hoàn cảnh tại những quốc gia nghèo hơn? Tại sao chúng ta không thể tìm cách, hoặc thông qua viện trợ của nhà nước, hoặc qua các khoản đầu tư của những doanh nghiệp lớn giàu có, của các tập đoàn đa quốc gia, để thay đổi tình hình tại những quốc gia như những nước mà chúng ta đã thăm trong chuyến đi này? Đối với nhiều người, châu Phi bị coi là một nơi có thể đến để lấy khoáng sản, lấy sự giàu có của họ để làm giàu cho người khác, ở những quốc gia khác. Có lẽ ở cấp độ toàn cầu, chúng ta nên làm việc nhiều hơn để cổ võ công lý, bình đẳng và sự phát triển lớn hơn cho các quốc gia châu Phi này, để họ không còn phải di cư sang những nước khác, sang Tây Ban Nha, v.v. Và điểm khác mà tôi muốn đề cập là, trong mọi trường hợp, họ là con người và chúng ta phải đối xử với con người một cách nhân bản, chứ không được, nhiều khi, đối xử với họ còn tệ hơn cả loài vật. Đây là một thách đố rất lớn: một quốc gia có thể nói rằng mình không thể đón nhận quá mức này, nhưng khi con người đến, họ là những con người và xứng đáng với sự tôn trọng thuộc về mọi con người vì phẩm giá của họ.
Còn những chuyến đi sắp tới?
Tôi rất mong muốn được thăm nhiều quốc gia tại châu Mỹ Latinh. Cho đến nay vẫn chưa có gì được xác nhận, chúng ta sẽ xem. Hãy chờ đợi!
Nhà báo Arthur Herlin (Paris Match): Thưa Đức Thánh Cha, chúng con hết sức cảm ơn ngài vì chuyến đi phi thường này. Thật tuyệt vời. Trong chuyến đi này, ngài đã gặp một số nhà lãnh đạo độc đoán nhất thế giới. Làm sao ngài tránh để sự hiện diện của mình trao cho các chế độ ấy một thẩm quyền luân lý? Có phải, nói theo cách nào đó, đây là một kiểu “tẩy trắng hình ảnh” nhờ Đức Giáo hoàng hay không?
Chắc chắn sự hiện diện của một vị Giáo hoàng với bất kỳ nguyên thủ quốc gia nào cũng có thể được diễn giải theo những cách khác nhau. Điều đó có thể được diễn giải, và đã có người diễn giải như vậy, như thể Đức Giáo hoàng hay Giáo hội đang nói rằng sống theo cách đó là điều tốt. Những người khác có thể nói những điều khác. Tôi muốn trở lại với điều tôi đã nói trong những nhận định mở đầu của mình về tầm quan trọng của việc hiểu mục đích chính yếu của những chuyến đi mà tôi thực hiện, mà một Giáo hoàng thực hiện: thăm viếng con người. Và về giá trị lớn lao mà Tòa Thánh tiếp tục, đôi khi với những hy sinh lớn, dành cho việc duy trì quan hệ ngoại giao với các quốc gia trên toàn thế giới. Và đôi khi chúng ta có quan hệ ngoại giao với những quốc gia có các nhà lãnh đạo độc đoán. Chúng ta có cơ hội nói chuyện với họ ở cấp độ ngoại giao, ở cấp độ chính thức. Chúng ta không phải lúc nào cũng đưa ra những tuyên bố lớn để phê phán, phán xét hay lên án. Nhưng có rất nhiều công việc diễn ra phía sau hậu trường để cổ võ công lý, cổ võ những mục tiêu nhân đạo, để tìm kiếm, đôi khi, những tình huống có các tù nhân chính trị và tìm ra một cách để giúp họ được trả tự do. Những hoàn cảnh đói khát, bệnh tật, v.v. Vì thế, Tòa Thánh, trong khi duy trì sự trung lập và tìm cách tiếp tục một quan hệ ngoại giao tích cực với nhiều quốc gia khác nhau, thực ra đang cố gắng áp dụng Tin Mừng vào những hoàn cảnh cụ thể để đời sống con người có thể được cải thiện. Người ta sẽ diễn giải phần còn lại theo ý họ, nhưng tôi tin rằng điều quan trọng đối với chúng ta là cố gắng tìm ra cách tốt nhất có thể để giúp dân chúng của bất kỳ quốc gia nào.
Nhà báo Verena Shälter (ARD Rundfunk): Thưa Đức Thánh Cha, xin chúc mừng ngài về chuyến tông du đầu tiên tại miền Nam thế giới. Chúng con đã thấy rất nhiều nhiệt huyết và cả, con muốn nói là, một bầu khí phấn khởi. Con hình dung điều đó cũng rất xúc động đối với ngài. Con muốn biết ngài đánh giá thế nào về quyết định của Hồng y Reinhard Marx, Tổng giám mục München và Freising, cho phép chúc lành cho các cặp cùng giới trong giáo phận của ngài. Và trước những khác biệt về viễn tượng văn hóa và thần học, đặc biệt tại châu Phi, ngài dự định bảo toàn sự hiệp nhất của Giáo hội hoàn vũ về vấn đề này như thế nào?
Trước hết, tôi tin rằng điều rất quan trọng là phải hiểu rằng sự hiệp nhất hay chia rẽ của Giáo hội không nên xoay quanh các vấn đề tính dục. Chúng ta thường nghĩ rằng khi Giáo hội nói về luân lý, thì chủ đề luân lý duy nhất là vấn đề tính dục. Thực ra, tôi tin rằng có những vấn đề lớn hơn và quan trọng hơn nhiều, như công lý, bình đẳng, tự do của nam giới và phụ nữ, tự do tôn giáo, những điều phải được ưu tiên hơn vấn đề riêng biệt đó. Tòa Thánh đã nói chuyện với các giám mục Đức. Tòa Thánh đã làm rõ rằng chúng tôi không đồng ý với việc chúc lành theo thể thức cho các cặp đôi, trong trường hợp này là các cặp đồng tính như bà đã hỏi, hoặc cho các cặp trong những hoàn cảnh bất hợp lệ, vượt quá điều mà Đức Giáo hoàng Phanxicô đã cho phép cách cụ thể khi nói rằng mọi người đều có thể lãnh nhận phép lành. Khi một linh mục ban phép lành vào cuối Thánh lễ, khi Đức Giáo hoàng ban phép lành vào cuối một cử hành lớn như điều chúng ta đã có hôm nay, thì đó là những phép lành dành cho tất cả mọi người. Câu nói nổi tiếng của Đức Phanxicô “tất cả, tất cả, tất cả” diễn tả xác tín của Giáo hội rằng mọi người đều được đón nhận, mọi người đều được mời gọi, mọi người đều được mời gọi bước theo Chúa Giêsu và mọi người đều được mời gọi tìm kiếm sự hoán cải trong đời sống mình. Đi xa hơn điều này vào lúc này, theo tôi, có thể gây ra nhiều chia rẽ hơn là hiệp nhất, và chúng ta phải tìm cách xây dựng sự hiệp nhất của mình trên Chúa Giêsu Kitô và trên điều mà Chúa Giêsu Kitô dạy. Đó là câu trả lời của tôi cho câu hỏi này.
Nhà báo Anneliese Taggart (NewsMax TV): Thưa Đức Thánh Cha, trong chuyến đi này ngài đã nói về việc con người đang đói khát công lý. Chính sáng nay, đã có tin cho biết Iran đã xử tử thêm một thành viên đối lập, và điều này diễn ra trong khi chế độ đã công khai treo cổ nhiều người khác và sát hại hàng ngàn công dân của chính mình. Ngài có lên án những hành động này không? Ngài có sứ điệp nào dành cho chế độ Iran không?
Tôi lên án mọi hành động bất công. Tôi lên án việc giết hại con người. Tôi lên án án tử hình. Tôi tin rằng sự sống con người phải được tôn trọng và sự sống của mọi người, từ lúc được thụ thai cho đến khi chết tự nhiên, phải được tôn trọng và bảo vệ. Vì thế, khi một chế độ, khi một quốc gia đưa ra những quyết định tước đoạt cách bất công mạng sống của những người khác, thì rõ ràng đó là điều phải bị lên án.
