#GNsP (16.01.2019) – Bắt đầu từ năm 2000, để thực hiện dã tâm cướp đất của bà con Vườn Rau Lộc Hưng, nhà cầm quyền địa phương thực hiện “thủ tục” không cấp QSD đất cho bà con đang sử dụng ổn định đất và công bố đất bà con đang sử dụng từ năm 1954 đến nay là “đất công”.
Và sau khi xảy ra vụ cưỡng chế đất bà con dân oan Vườn Rau Lộc Hưng kinh hoàng, tàn sát ngay giữa lòng thành phố mang tên Hồ Chí Minh vào ngày 04 và 08.01.2019, dưới sự đinh hướng của tuyên giáo cộng sản, đồng loạt các loa “nhà”, loa công cộng lu loa lên rằng “nhà nước đập phá nhà vì bà con xây dựng trên đất công”. Có cả những “nhà” tự nhận “am hiểu” pháp luật, tình hình thực tế cũng đồng tình “áp đặt” khu đất Vườn Rau là “đất công”, “thuộc quản lý của Tổng nha Bưu điện VNCH (khu Nhà dây thép gió Chí Hòa). Sau 1975, nó thuộc quyền quản lý của Bưu điện TP. HCM”… Chỉ dựa vào cơ sở “có một vài cột ăng ten của bưu điện trên khu đất” mà không đưa ra được bất cứ bằng chứng, căn cứ pháp lý nào.
– Thế nhưng, ngay từ năm 2007, khi mà nhà cầm quyền liên tục gây sức ép, buộc bà con Vườn Rau phải giao đất để họ giao cho các doanh nghiệp thực hiện các “dự án” kinh doanh thương mại, Tòa Tổng Giám Mục Sài Gòn – chủ đất Vườn Rau Lộc Hưng – đã quả quyết bằng Văn bản khoảng 5 ha đất Vườn Rau, đường Chấn Hưng, phường 6, quận Tân Bình “thuộc quyền sở hữu của Giáo Hội” trước 30/04/1975. Và từ năm 1954, bà con đã liên tục sử dụng ổn định trên khu đất này cho đến nay. Hoàn toàn “không hề có cơ sở pháp lý nào cho phép xác định khu Vườn Rau, đường Chấn Hưng, phường 6, quận Tân Bình là thuộc diện chính quyền cách mạng tiếp quản sau 1975 và cũng không hề có một cơ sở pháp lý nào cho phép xác định rằng trong thực tế, khu đất trên đã được Trung tâm viễn thông 3 tiếp quản cùng lúc với các cột anten và khu nhà điều hành của Trạm phát sóng”. Từ đó xác định “Một lần nữa Tòa Tổng Giám Mục Sài Gòn có cơ sở vững chắc để khẳng định rằng bà con canh tác tại khu Vườn Rau, đường Chấn Hưng, phường 6, quận Tân Bình có đầy đủ cơ sở pháp lý để được công nhận QSD của mình và được quyền hưởng chính sách đền bù mà pháp luật quy định cho người có QSD, khi đất của họ bị thu hồi. Do đó bà con có quyền khiếu nại cho đến khi nào quyền lợi hợp pháp của họ chưa được công nhận và giải quyết thỏa đáng.”
1/ Không phải “đất công”
Trong văn bản số: I.83.2007.285 đề ngày 21 tháng 8 năm 2007, Tòa Tổng Giám Mục Sài Gòn đã nêu rõ “Quan điểm của Tòa Tổng Giám Mục về quyền lợi và nghĩa vụ của các hộ dân canh tác tại khu “Vườn rau”, phường 6, quận Tân Bình” với nội dung tóm lược:
– “Khu Vườn rau khoảng 5 ha, đường Chấn Hưng, phường 6, quận Tân Bình, trước 30/04/1975, hoàn toàn không phải đất của nhà nước cũ sở hữu. Nhà nước cũ chỉ sở hữu 1 phần nhỏ (1,5 ha), diện tích còn lại thuộc quyền sở hữu của Giáo hội (3 ha) và một số sở hữu chủ khác.”
– “Trên khu vườn rau, đường Chấn Hưng, phường 6, quận Tân Bình có một ít cột ăng ten (chứ không phải 1 bãi ăng ten, như các công văn chính thức của các cơ quan hữu trách thường ghi và làm cho người ngoài cuộc ngộ nhận tai hại) thuộc trạm phát sóng hay phát tín của quân đội Pháp, sau đó của chính quyền Sài Gòn. Trạm này tọa lạc ở đường Lê Văn Duyệt, nay là Cách mạng tháng 8, cách khu vườn rau cả trăm mét, chứ hoàn toàn không phải “thuộc khuôn viên Đài phát tín vô tuyến điện quốc tế Chí hòa-Phú thọ Sài Gòn”, do đó khu vườn rau cũng không hề mang tên “Vườn rau Bưu Điện Chí hòa” (Bưu Điện chí hòa chỉ được thành lập vào ngày 23/05/1987…)”
– “Quân đội Pháp có đặt 1 ít cột ăng ten trên khu vườn rau, đường Chấn Hưng, phường 6, quận Tân Bình, mà Giáo hội sở hữu một phần lớn, nhưng chính quyền Pháp không hề tịch thu, hay truất hữu phần đất này của Giáo hội. Chính công văn S.P.55.011, ngày 17/02/1955 của Trưởng trạm phát tín là Đại úy Moinard xác nhận một cách vô tình khi ông viết “những người dân ở dọc theo hàng rào phía tây được phép trồng trọt trên khoản đất do antenne chiếm, với điều kiện thỏa thuận trước với Hội Công giáo Truyền giáo là “chủ sở hữu đất…” Theo văn mạch, ông đại úy ghi chú mấy chữ này chỉ là để giải thích tại sao người dân đã được phép của ông rồi, mà còn phải được Giáo hội chấp thuận: trách nhiệm của ông chỉ thi hành trong lãnh vực an ninh của khu vực, chứ không phải với cương vị chủ đất; nếu ông cho phép đi lại vào ban ngày, song chủ đất không chấp thuận cho trồng trọt trên đất, thì người dân chỉ được đi lại chứ không được canh tác trên đất.”
– “Ngoài ra, Trung tâm thông tin lưu trữ tư liệu địa chính nhà đất xác nhận rằng đến 30/04/1975, Hội đồng quản trị địa phận Công giáo Sài Gòn, (nay là Tòa Tổng Giám mục Tp.HCM), vẫn là chủ sở hữu của khu đất 184.360 m2 tọa lạc tại xã Phú thọ Hòa, số địa bộ 6, số bản đồ 126/5, tờ bản đồ thứ 2, trong đó có phần đất khoảng 30.000 m2 tại vườn rau.
– “Những thực tế trên đây cũng chứng minh hùng hồn rằng các cột ăng ten không quan trọng đến mức phải trưng thu, tịch thu toàn bộ khu đất và cũng không cần không hề có căn cứ gì để nói “chính quyền Pháp sử dụng với mục đích chính là làm bãi anten cho đài phát tín…”
– “Sau 30/04/1975, thực tế không hề có cơ quan, đơn vị nào của chính quyền cách mạng tiếp quản khu Vườn Rau, đường Chấn Hưng, phường 6, quận Tân Bình.”
– “Sau 1975, Trạm phát sóng hay phát tín đã được Trung tâm viễn thông 3 tiếp quản. Các cột anten thuộc Trạm thì đương nhiên cũng được tiếp quản, nhưng khu vườn rau, đường Chấn Hưng, phường 6, quận Tân Bình không thuộc trạm, thì đâu có lý do gì để tiếp quản! và thực tế cơ quan tiếp quản là Trung tâm viễn thông 3 không hề đá động gì đến khu Vườn Rau cũng như những bà con canh tác tại đó, (bằng chứng là bà con vẫn tiếp tục canh tác trên khu đất mà chẳng thấy ai có ý kiến gì cho đến năm 2000, khi bà con làm thủ tục kê khai đất sử dụng để được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, UBND quận Tân Bình mới có văn bản bác đơn của bà con với lý do “trước và sau ngày giải phóng 30/04/1975, phần đất chuyên dùng trên bị các hộ chiếm dụng trồng hoa màu… UBND quận không thể cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nông nghiệp cho các hộ được.”
Tại Văn bản này, Tòa Tổng Giám mục Sài Gòn khẳng định:
– “Toàn bộ 5 ha khu vườn rau, đường Chấn Hưng, phường 6, quận Tân Bình không hề được chính quyền cũ (Pháp và Việt) “sử dụng với mục đích chính là làm bãi anten cho đài phát tín”.
– “Do đó, phần đất 3 ha thuộc sở hữu của Giáo hội tại khu vườn rau, đường Chấn Hưng, phường 6, quận Tân Bình không hề bị chính quyền cũ tịch thu, truất hữu hay trưng dụng;”
– “Ngay cả phần đất 1,5 ha thuộc sở hữu Quốc gia tại khu Vườn Rau, đường Chấn Hưng, phường 6, quận Tân Bình cũng không hề được sử dụng chính yếu làm bãi anten, bằng chứng là người dân chung quanh vẫn được phép đi lại ban ngày để canh tác; đó là vì không hề có 1 “bãi đất” được sử dụng cho các cột anten, cũng không hề có bãi anten nào (chỉ có dăm ba cột thì làm sao gọi là bãi được!); trong khu đất 5 ha có 1,5 ha là đất công, dù vậy chính quyền cũ cũng không biến thành “đất chuyên dùng” dành riêng cho các cột anten, cũng không hề làm khuôn viên Trạm phát sóng, bởi vì điều đó không cần thiết.”
– “Sau Pháp, đến VNCH, cũng không ai đặt vấn đề gì đối với việc bà con chung quanh canh tác tại khu vườn rau, đường Chấn Hưng, phường 6, quận Tân Bình: điều này chứng tỏ một lần nữa khu đất này không thuộc quyền quản lý của Trạm phát sóng, tuy dù trên khu đất có một số cột anten của Trạm.”
– “Thực tế sau 30/04/1975, khi tiếp quản Trạm phát sóng cùng với các cột anten, Trung tâm viễn thông 3 không hề tiếp quản khu đất trên đó có các cột anten… Trong cuộc họp vào ngày 15/08/2007 tại trụ sở Ban Tôn giáo và Dân tộc, những người có trách nhiệm công nhận thực tế là sau 30/04/1975, không có cơ quan, đơn vị cách mạng nào đã tiếp quản khu vườn rau, đường Chấn Hưng, phường 6, quận Tân Bình, bởi lẽ và sau 1975, bà con giáo dân vẫn canh tác trên khu đất 5 ha một cách liên tục và ổn định cho đến khi bà con làm thủ tục kê khai đất để xin cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất vào ngày 18/10/1999…”
– “Nhưng điều cốt yếu ở đây là bà con có quá trình canh tác tại khu vườn rau, đường Chấn Hưng, phường 6, quận Tân Bình liên tục và ổn định từ lâu trước năm 1975 mãi cho đến ngày 18/02/2000, bà con mới được UBND quận Tân Bình chính thức thông báo rằng bà con là người chiếm dụng đất của Nhà nước trực tiếp quản lý, chiếm dụng từ thời nhà nước cũ (Pháp rồi đến Việt) đến thời Nhà nước cách mạng.”
– “Theo quan điểm của Tòa Tổng Giám mục Tp.HCM, không hề có cơ sở pháp lý nào cho phép xác định khu vườn rau, đường Chấn Hưng, phường 6, quận Tân Bình là thuộc diện chính quyền cách mạng tiếp quản sau 1975 và cũng không hề có một cơ sở pháp lý nào cho phép xác định rằng trong thực tế, khu đất trên đã được Trung tâm viễn thông 3 tiếp quản cùng lúc với các cột anten và khu nhà điều hành của Trạm phát sóng. Nếu trung tâm viễn thông 3 không tiếp quản khu đất vườn rau, thì dựa vào đâu để năm 1987 Bưu điện thành phố tiếp nhận khu đất khi Tổng cục Bưu điện ký quyết định số 578/QĐ-TCCB ngày 23/05/1987 để giao cơ sở Trạm phát sóng do Trung tâm viễn thông 3 tiếp quản và quản lý từ năm 1975 đến lúc bấy giờ?”.
2/ Quyền lợi của bà con Vườn Rau
Chính vì lẽ vậy, tại Văn bản này, Tòa Tổng Giám mục Sài Gòn sau khi đưa ra quan điểm và lập trường của mình, cũng đã đặt ra những câu hỏi “hóc búa” cho nhà cầm quyền địa phương khi âm mưu chiếm đoạt đất của bà con giao cho doanh nghiệp.
– Về cái gọi là “xin phép giải tỏa số vườn rau màu của nhân dân xung quanh khu đất bãi anten ra khỏi khu đất đó và tiến hành xây dựng tường rào bảo vệ quanh khu bãi anten” do nhiều văn bản của Bưu điện đưa ra, Tòa Tổng Giám mục đã hỏi Bộ Tài nguyên và Môi trường “dựa vào cơ sở pháp lý nào?” “Tại sao suốt hơn nửa thế kỷ không có tường rào, dưới chế độ thực dân Pháp, rồi dưới chế độ “ngụy quân ngụy quyền” và cuối cùng dưới chế độ cách mạng, nhân dân làm chủ hơn 13 năm, không hề cần có tường bảo vệ dăm ba cột anten, bây giờ đột nhiên lại cần thiết phải xây tường rào bảo vệ? Có lý do nào khác tiềm ẩn không trong thời buổi đất đai bắt đầu có giá? Có thể đó là suy nghĩ của bà con canh tác tại khu đất, nên bà con đã kiên quyết chống lại việc giải tỏa Vườn Rau của bà con.”
– Sau khi nhiều lần nêu rõ hàng loạt các căn cứ pháp lý khẳng định QSH-QSD hợp pháp khu đất Vườn Rau thuộc về bà con, nhà cầm quyền không đưa ra được bất kỳ chứng cứ, cơ sở pháp lý nào khẳng định đây là đất công. Cuối cùng, Văn bản của Tòa Giám mục kể lại “Khi được tôi (Linh Mục Huỳnh Công Minh- Tổng Đại diện) được chứng minh rằng khu Vườn Rau, đường Chấn Hưng, phường 6, quận Tân Bình không hề có Nhà nước nào trực tiếp quản lý, Nhà nước cũ cũng như mới, bởi vì bà con đã sử dụng liên tục và ổn định suốt hơn nửa thế kỷ qua, thì một vài vị tham dự cuộc họp ngày 15/08/2007 mới ung dung pháp biểu rằng theo chủ trương chính sách thì khu Vườn Rau, đường Chấn Hưng, phường 6, quận Tân Bình thuộc diện phải được chính quyền cách mạng tiếp quản và sử dụng từ sau 30/04/1975 dù trong thực tế khu đất không được cơ quan nào tiếp quản, đó là sơ hở của các cơ quan hữu trách.”
– Linh Mục Huỳnh Công Minh đã kết luận “Tôi cũng vẫn không hiểu được trên cơ sở pháp lý nào để xếp khu Vườn Rau, đường Chấn Hưng, phường 6, quận Tân Bình thuộc diện tiếp quản của Nhà nước cách mạng sau 1975.”
3/ “Ai” gây mất an ninh, trật tự, bị kích động?
Điều đáng lưu ý là trong vụ việc cưỡng chiếm đất, tàn phá tài sản người dân Vườn Rau, định hướng của nhà cầm quyền được nhiều dư luận viên tung hô rằng do khu đất có nhiều thành phần phức tạp, nghiện ngập, thậm chí có kẻ còn sử dụng từ ngữ nặng nề là “đầu trộm đuôi cướp”… nên buộc phải tàn phá để đảm bảo an ninh, trật tự… Và rằng nhiều thế lực thù địch lợi dụng kích động.
Đây không phải là lập luận mới, mà ngay từ khi âm mưu chiếm đoạt tài sản của bà con nhằm bán cho các doanh nghiệp (sau này, khi gặp phản ứng dữ dội, nhà cầm quyền địa phương mới “học tập” gương “đạo đức” của các vụ việc đi trước như Tòa Khâm sứ, Nhà thờ Thái Hà để sửa đổi thành dự án “trường đạt chuẩn quốc gia”), vào những năm 2000, nhà cầm quyền lúc bấy giờ cũng đã rêu rao cái gọi là “an ninh, trật tự”, xúi giục, kích động…
Tuy nhiên, luận điệu này cũng đã được Tòa Tổng Giám Mục Sài Gòn chỉ rõ là: “Tại cuộc họp, Tòa TGM Sài Gòn được ông Chủ tịch UBND phường 6 cho biết thời gian gần đây tại khu vực có một số bà con giáo dân gây mất trật tự nghiêm trọng. Tòa TGM Sài Gòn xin xác định quan điểm của mình về việc này như sau:
Gây mất trật tự công cộng là điều sai trái, không thể chấp nhận được. Nhưng Tòa TGM Sài Gòn có thể khẳng định rằng: Những bà con giáo dân này là những công dân lương thiện, luôn luôn trọng chính quyền mọi cấp, sẵn sàng chấp hành mọi chủ trương, chính sách, quy định của luật pháp. Việc gây mất trật tự của bà con hoàn toàn không có động cơ xấu, cũng không do kẻ xấu lôi kéo, xúi giục, mà chỉ vì quá bức xúc trước việc khiếu nại chính đáng của bà con chậm được giải quyết. Đề nghị chính quyền lưu ý tình tiết đặc biệt này khi xử lý.”
Tự tiện đập phá, xong chiếm đoạt tài sản hợp pháp của người khác, mà không có căn cứ pháp lý, hành vi này của nhà cầm quyền quận Tân Bình đều được xác định là “cướp”, và phải chịu sự trừng phạt.
#GNsP– Trong những ngày vừa qua, người dân thành phố cũng như người Việt ở khắp mọi nơi rất nóng lòng xót ruột về một biến cố kinh hoàng xảy ra ở một nơi có tên là Vườn Rau Lộc Hưng, môt vùng đất thuộc Phường 6, Quận Tân Bình.
Hai ngày, ngày 4.1.2019, sau khi “đập nháp” một số nhà, ngày 8.1.2019 nhà cầm quyền đã huy động một lực lượng thật lớn bao vây, cô lập toàn khu vực, cắt điện, cắt sóng, sử dụng cơ giới, trong vòng khoảng 10 tiếng đồng hồ phá tan tành một khu đất có khoảng 112 căn nhà (theo báo chí Nhà Nước sau 5 ngày đã đăng tải thông tin), được xây dựng xen kẽ các vườn trồng rau trong một khu đất rộng trên 4 ha.
Chỉ trong một ngày đẩy hàng trăm hộ gia đình ra cảnh màn trời chiếu đất, toàn bộ nhà cửa bị phá tan tành không cái gì có thể dùng lại, đồ gia dụng bị thất thoát, cái còn cái mất. Hình ảnh bãi đất tan hoang đổ nát như sau một trận dội bom.
Thêm một kỳ tích khác nữa, chỉ trong vòng ba ngày sau đó, nhà cầm quyền địa phương lại vận dụng hàng mấy trăm lượt xe ben để ủi sạch, xúc sạch các loại xà bần, không còn một vết tích gì, chỉ còn lại một bãi đất trống với tấm bảng công bố quy hoạch “cụm trường học chuẩn quốc gia”!
Phản ứng của người dân, trên mạng xã hội, dù FB đã liên tục xóa và đóng nhiều địa chỉ, dù trong cuộc cưỡng chiếm, bất cứ người dân nào giơ máy lên ghi hình liền bị bắt ngay tại chỗ, nhưng người ta vẫn thấy tràn ngập hình ảnh từ ngày khởi sự đập phá cho đến khi chỉ còn là bãi đất trống.
Người ta chia sẻ liên tục đến chóng mặt, các bài nhận định, bình luận, kể cả lên tiếng hay ủng hộ cho cuộc cưỡng chiếm dưới nhiều dạng khác nhau. Nhìn chung, người dân không biết làm gì ngoài việc cố giữ tài sản cho gia đình mình và cộng tác vào việc phản đối một cách yếu ớt, không tổ chức. Kiểu phản ứng này cho thấy người dân ở đây sống quá bình dị, đơn sơ và chất phác. Bỗng một ngày họ mất tất cả, bị dẩy vào cảnh màn trời chiếu đất khi ngày Tết dân tộc gần kề mà họ vẫn cam chịu, chỉ cầu nguyện và khóc với nhau, không hề có bất cứ một cách phản kháng nào mang tính bạo lực.
Chúng ta thử nghĩ, khi nhà cầm quyền vận dụng hàng trăm nhân viên đủ mọi thành phần bao vây, bố ráp, bắt đi các người trong Ban Đại Diện Vuờn Rau và phong tỏa cả ngày trời trong hai đợt, mà trước đó người dân không hề được nghe bất cứ một thông tin nào rò rỉ ra cả. Không hề nghe nên mới bị bất ngờ, sáng sớm 5g30 mở cửa ra đi Lễ liền bị trùm bao đen kín mặt thẩy lên xe đưa đi chỗ khác…
Một đội cơ giới xây dựng với rất đông tài xế, phụ xế, thợ máy được điều động đến làm việc như một đại công trường mà người dân cũng không hề hay biết gì trước đó, mãi cho đến khi tấm bảng quy hoạch được dựng lên thì người dân mới ngỡ ngàng, kéo ra phản đối, tức thì mấy chục cái tiếng loa sắt đã cất lên đinh tai nhức óc, át hết tiếng nấc tiếng khóc của người dân. Việc điều nhân lực, tập huấn, bố trí, và cả tiếp tế lương thực cho một đạo quan quân lớn như vậy đâu phải đơn giản mà có thể bảo mật hoàn toàn một cách quá chu đáo như thế?
Trên lãnh vực thông tin cũng vậy, không hề thấy một trang thông tin nào chính thức của cư dân để có tiếng nói độc lập phản ánh ý kiến của tập thể, ngoại trừ vài trang FB cá nhân rất nghèo nàn, lý do cá nhân còn giờ đâu, còn tâm trí đâu mà viết bài đưa tin?
Nói chung, người dân hoàn toàn bế tắc tuyệt vọng. Trong tình thế đó, tiếng kêu uất nghẹn, tiếng khóc nức nở, tiềng thở dài thâu đêm, những ánh mắt thẫn thờ, những gương mặt hốc hác, nhừng làn da sạm nắng… cho chúng ta hình ảnh của dân Do Thái năm xưa, quê hương bản quán bị tan hoang, phải sống kiếp lưu đầy khổ đau.
Sứ mạng của Chúa Kitô hàng đầu là loan báo Tin Mừng Cứu Độ, giải thoát cho người khổ đau, người bị áp bức, nhưng cùng với lời loan báo, Chúa luôn chữa lành bệnh tật, cung cấp thức ăn, an ủi kẻ ưu phiền và lên án sự ác điều ác.
Tin Mừng Phép Lạ Tiệc Cưới Cana công bố vào Chúa Nhật thứ hai Mùa Thường Niên C, cho thấy Chúa Giêsu không bao giờ dửng dưng với nỗi lo lắng, tình trạng bế tắc của người khác, điều Chúa làm là mang lại niềm vui và sự an toàn cho người bị lâm vào tình trạng khó khăn, niềm vui Chúa mang đến vượt trên mọi niềm vui mà người ta có thể ban tặng cho nhau, sự hoàn mỹ mà Chúa mang đến thì dư tràn hơn những gì mà người ta mong đợi. Vâng, rượu ngon chưa từng thấy, tràn đầy hơn 600 lít của 6 chum lớn bằng đá!
Một Tin Mừng như thế sẽ dẫn chúng ta đến đâu, sẽ giữ vai trò nào trong đời sống Đức Tin của chúng ta? Có nên dừng lại ở những lời kêu than, những bài tả oán, tranh luận đúng sai, bàn nhậu thêm chuyện cho sôi nổi, bàn phím xuất hiện thêm những anh hùng chém gió?
Người dân Vườn Rau Lộc Hưng đang chờ đợi Chúa Kitô xuất hiện trong những anh em đồng đạo của mình, ở Vườn Rau bây giờ đã cạn hết rượu rồi, bể cả bình rượu lẫn bình nước, tung cả bàn ăn, lột sạch cả áo mặc!
“Tầm vông” không thể giữ nổi Nhà Thờ, đừng ngây thơ nữa, chỉ có tình yêu và sự thúc bách dấn thân cụ thể của Tình Yêu mới giữ được con người là Đền Thờ của Thiên Chúa mà thôi.
Lm. VĨNH SANG, DCCT, 18.1.2019 Tựa đề trích lời trong tác phẩm “Bóng nhỏ giáo đường” của cố nhạc sĩ Nguyễn Văn Đông
Luật sư Trần Vũ Hải: Tôi thách lãnh đạo TP HCM, chứng minh một tờ giấy lộn lại có giá trị, dùng để chiếm đoạt đất của hàng trăm hộ dân Vườn Rau Lộc Hưng(VRLH).
(Xin các bạn hãy chia sẻ, hy vọng lãnh đạo của TPHCM biết lời thách nghiêm túc của tôi).
Theo báo Công an TPHCM, một trong những căn cứ pháp lý quan trọng nhất để chính quyền chiếm đất VRLH (mà không bồi thường do không công nhận QSDĐ cho bà con đang sử dụng đất) là quyết định số 07 ngày 12/10/1991 (QĐ07) của Trưởng ban quản lý ruộng đất TPHCM cấp cho Bưu điện. Quyết định này công nhận quyền sử dụng đất cho Bưu điện TPHCM 4,08 ha, trong đó có 2ha bãi đất có cột anten, 2,08 ha đất đang được bà con VRLH canh tác. Theo báo này, còn 2,7 ha của VRLH không có giấy tờ về quyền sử dụng đất (không cấp cho Bưu điện lẫn cấp cho bà con VRLH đang sử dụng). http://congan.com.vn/…/thong-tin-them-ve-nguon-goc-va-qua-t…Năm 1993, do áp dụng công nghệ mới, Bưu điện không cần đất chuyên dùng cho cột anten, lẽ ra phải huỷ bỏ giấy công nhận đất chuyên dùng trên (và công nhận quyền sử dụng đất cho người đang sử dụng đất hợp pháp, trong đó có bà con VRLH), nhưng chính quyền không làm. Chúng ta chưa bàn đến 2,7ha mà chính quyền nhập nhèng gộp chung vào đất Bưu điện, mà xem xét chính QĐ07 này, phần liên quan đến 2,08 ha đất VRLH.
QĐ07 có dẫn chiếu Quyết định 225/QĐ-UB ngày 18/7/1991 (QĐ225), theo đó Uỷ ban nhân dân TPHCM uỷ quyền cho Trưởng ban quản lý ruộng đất TPHCM (Trưởng BQLRĐ) được cấp quyền sử dụng đất “cho các tổ chức và cá nhân sử dụng đất hợp pháp trên địa bàn thành phố”. QĐ 225 căn cứ vào Quyết định 201 ngày 14/7/1989 (QĐ201) của Tổng cục Quản lý Ruộng đất về ban hành quy định cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (QSDĐ) https://thuvienphapluat.vn/…/Quyet-dinh-201-QD-DKTK-Quy-din…. QĐ225 yêu cầu BQLRĐ tuân theo quy định về cấp giấy chứng nhận QSDĐ của Tổng cục quản lý ruộng đất, tức QĐ201.
Sau khi xem xét các quyết định nêu trên, tôi khẳng định QĐ07 do Trưởng BQLRĐ cấp cho Bưu điện TPHCM là trái pháp luật, vô giá trị, thực chất là tờ giấy lộn, vì:
1/ Giấy này không theo mẫu của Tổng cục Quản lý Ruộng đất được quy định tại mục V của QĐ201, theo đó (i) giấy phải do Tổng cục này phát hành, (ii) trang 1 có ghi số giấy và dấu của Tổng cục QLRĐ, (iii)trang 2 ghi thời hạn sử dụng, (iv) chữ ký của chủ tịch UBND cấp tỉnh hay cấp quận. Thế nhưng QĐ07 không đáp ứng cả 4 tiêu chí này, chỉ là giấy lộn!
2/ Giấy này mang tiêu đề “Quyết định công nhận quyền sử dụng đất”, trong khi theo pháp luật đất đai tại thời điểm cấp (1991) không có loại giấy tờ này. Giấy này trái phát luật.
3/ QĐ 201 (và cũng như bất cứ văn bản quy phạm pháp luật nào khác về đất đai có hiệu lực tại thời điểm 1991) không cho phép Trưởng BQLRĐ được uỷ quyển ký thay UBND cấp tỉnh cấp giấy chứng nhận QSDĐ, tức QĐ 225 của UBND TPHCM là trái pháp luật về đất đai, việc uỷ quyền này là vô hiệu nên QĐ07 không có giá trị.
4/ Mặt khác QĐ225 chỉ uỷ quyền cho trưởng BQLRĐ cấp giấy chứng nhận QSDĐ cho người sử dụng đất, không uỷ quyền cho ban hành Quyết định công nhận QSDĐ, lại cấp cho người không sử dụng đất (phần 2,08 ha, người dân VRLH đang sử dụng trồng rau). Như vậy trưởng BQLRĐ đã lạm quyền, vượt quá uỷ quyền khi ký QĐ07, do đó QĐ07 vô giá trị, ít nhất phần 2,08 ha đất VRLH.
Còn nhiều điều phải nói về QĐ07 này và khu đất VRLH (kể cả 2ha do Bưu điện quản lý trực tiếp theo QĐ07), nhưng tôi thách bất cứ lãnh đạo nào của chính quyền Thành phố Hồ Chí Minh tranh luận với tôi về giá trị của QĐ07. Tôi thách lãnh đạo TP HCM, chứng minh một tờ giấy lộn lại có giá trị pháp lý để chiếm đoạt đất của dân Vườn Rau Lộc Hưng (VRLH)!
#GNsP (18.01.2019) – Chưa đầy một tháng nữa thôi là tới tết nguyên đán, một truyền thống tốt đẹp của dân tộc Việt Nam. Tốt đẹp bởi ngày tết mang lại nhiều giá trị tinh thần cho con người, mang lại niềm vui, niềm hạnh phúc. Con người trao cho nhau những lời nói, cử chỉ bình an. Đặc biệt đây là dịp để các thành viên của mọi gia đình đoàn tụ, xum vầy. Ai cũng mong chờ ngày tết để gặp gỡ người thân, để hưởng nếm hơi ấm thân thương, ngọt ngào của gia đình. Ai cũng trang hoàng nhà cửa cho sạch đẹp để chào đón bà con thân hữu. Niềm hạnh phúc bắt đầu trong những ngày mong chờ hôm nay. Thế nhưng, ai đã cướp đi hạnh phúc đơn giản ấy của người dân vườn rau lộc hưng khi những căn nhà của họ bị phá hủy, bị san bằng. Họ không còn niềm mong chờ trở về nhà, không còn nơi xum họp đoàn tụ gia đình, không còn chỗ để hương khói tổ tiên trong dịp tết.
Thay vì quét dọn, lau chùi, sơn sửa cho sạch đẹp nhà cửa để chuẩn bị đón tết thì người dân Lộc Hưng đi lượm từng món đồ bị vung vãi khắp nơi trên đống đổ nát. Khi bước chân vào ngôi nhà sạch đẹp của mình trước đây thì bây giờ chỉ còn là đống xà bần, nhìn xuống nền nhà thì chỉ thấy nhấp nhô những viên gạch vỡ nát, nhìn lên trần nhà là một khoảng không trống rỗng. Ôi ! còn đâu là nhà, ngôi nhà xây lên bằng cả mô hôi nước mắt, chắt chiu lắm mới có được. Ai có thể cầm được nước mắt khi thấy hàng trăm căn nhà sụp đỗ mà nguyên nhân không bởi sóng thân, động đất. Ai có thể cầm lòng khi nghe những lời chia sẻ trong nghẹn ngào không thành câu của người dân lộc hưng, nạn nhân của những bất công. Bởi đâu đồng bào ta rơi vào tình cảnh như thế?. Chính bởi do những người lãnh đạo không có trái tim. Là con người thì đều cốt lõi đó là tình yêu. Hành động phát xuất từ tình yêu là những hành động đem lại lợi ích cho người khác, hành động đem lại hạnh phúc cho người khác. Còn hành động phá nhà người khác là hành động của kẻ cướp. Hành động bắt bớ, đe dọa ,đánh đập người khác đó là hành động của côn đồ. Hành động chặn con đường sống của người khác là hành động của thú dữ.
Thông thường hành động cần thiết, cấp bách và ưu tiên nhất đó là hành động cứu người, mạng sống con người là trên hết. Thế nhưng, hoàn toàn ngược lại, hành động cưỡng chế đất đai tại Vườn Rau Lộc Hưng của chính quyền quận Tân Bình đã phá tan 200 căn nhà, khiến hàng trăm người rơi vào cảnh màn trời chiếu đất, chẳng khác nào đẩy con người vào chỗ chết lại trở nên là việc làm cần thiết, cấp bách đến độ cưỡng chế ban ngày chưa đủ tranh thủ ban đêm hầu mong sớm chiếm được vùng đất vàng ấy.
Còn nỗi đau nào hơn nỗi đau khi chứng kiến anh em trong cùng một nhà sát hại lẫn nhau. Người cùng một dân tộc mà hủy hoại lẫn nhau. Vơ vét tài sản trên xương máu của chính anh em đồng bào mình. Thật tội nghiệp cho người dân vườn rau Lộc Hưng , họ không còn biết gì đến cái tết của năm 2019, không còn cảm nhận được hương thơm, sắc màu của năm mới nữa, mặc dù hoa mai vẫn nở hoa đào vẫn khoe sắc. Tất cả đã nhóm màu đen tối của bất công, của nỗi buồn mất mát. Nhưng Sự mất mát lớn lao nhất không phải là mất về của cải vật chất mà là mất niềm tin của nhân dân vào sự lãnh đạo của đảng. Nếu làm vua mà không có thần dân thì sao gọi là vua. Lúc những ngôi nhà kia bị san bằng cũng chính là lúc san bằng giá trị và đia vị của giới lãnh đạo trong lòng người dân.
Cuộc sống của người dân Lộc Hưng lúc này xem ra là đau khổ, là bế tắt. Tuy nhiên không phải là không có lối thoát. Bà con nơi đây bị phong tỏa, bị ngăn chặn bởi rào chắn, không cho vào khu đất của mình nhưng lại mở ra nhiều con đường hy vọng khác. Trước tiên là con đường liên đới yêu thương. Anh chị em đang rất được nhiều người quan tâm cả trong nước lẫn quốc tế. Anh chị em đang được Chúa đoái thương nhìn đến qua các cuộc viếng thăm của các vị mục tử, qua những tiếng nói đòi công bằng cho anh chị em mà bất chấp hiểm nguy. Anh chị em đã mất niềm tin vào đảng nhưng gia tăng niềm tin vào Chúa. Anh chị em mất đi căn nhà nhỏ của mình nhưng được một gia đình lớn bao bọc chở che đó là Giáo Hội. Anh chị em không được đón năm mới trong ngôi nhà thân thương của mình nhưng được đón năm mới trong vòng tay yêu thương , quan tâm, đồng hành của tất cả mọi người. Anh chị em cứ vững tin như người đại diện của anh chị em đã nói : “Chúng ta không cô đơn đâu. Chúng ta đang được rất nhiều người quan tâm. Chúng ta hãy mạnh mẽ lên.”
#GNsP (18.01.2019) – Để biện minh cho hành vi phá nhà, cướp đất của bà con Vườn Rau Lộc Hưng, nhà cầm quyền cộng sản lu loa cho rằng, bà con chiếm đất công, xây dựng trái phép.
1/ Đất công?
Trước hết, cần khẳng định Hiến pháp và pháp luật không có qui định về cái gọi là “đất công”. Bộ luật Dân sự 2015 qui định về “tài sản công” là “Đất đai, tài nguyên nước, tài nguyên khoáng sản, nguồn lợi ở vùng biển, vùng trời, tài nguyên thiên nhiên khác và các tài sản do Nhà nước đầu tư, quản lý là tài sản công thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước đại diện chủ sở hữu và thống nhất quản lý” (Điều 197). Nếu hiểu như qui định này, thì toàn bộ đất đai của cả nước- theo qui định của Hiến pháp và Luật Đất đai- đều “thuộc sở hữu toàn dân do nhà nước quản lý” là tài sản công, là đất công?
Điều 10 Luật đất đai 2015 qui định phân loại đất là “căn cứ vào mục đích sử dụng”, để phân thành 3 loại: đất nông nghiệp; đất phi nông nghiệp và đất chưa sử dụng. Trong đó có phân loại “Đất sử dụng vào mục đích công cộng gồm đất giao thông (gồm cảng hàng không, sân bay, cảng đường thủy nội địa, cảng hàng hải, hệ thống đường sắt, hệ thống đường bộ và công trình giao thông khác); thủy lợi; đất có di tích lịch sử – văn hóa, danh lam thắng cảnh; đất sinh hoạt cộng đồng, khu vui chơi, giải trí công cộng; đất công trình năng lượng; đất công trình bưu chính, viễn thông; đất chợ; đất bãi thải, xử lý chất thải và đất công trình công cộng khác;”. Theo phân loại này, đất bà con Vườn Rau Lộc Hưng đang quản lý, sử dụng từ 65 năm qua không phải đất “sử dụng vào mục đích công cộng”, cũng không phải là “tài sản do nhà nước đầu tư, quản lý, xây dựng … ” nên không phải là “đất công”. Đất Vườn Rau Lộc Hưng phải được phân loại là “đất trồng cây hàng năm…” (qui định tại điểm a khoản 1 điều 10); đất ở; hoặc đất phi nông nghiệp khác (điểm a và k khoản 2 điều 10) Còn cách hiểu nôm na, “đất công” là đất mà nhà nước đang sử dụng hoặc đất hoang, thì khu đất Vườn Rau Lộc Hưng bà con (tư nhân) đang sử dụng càng không phải là đất công.
2/ Khu đất bị nhà nước quản lý theo Quyết định 111/CP năm 1977?
Một cơ sở pháp lý mà nhà cầm quyền đưa ra, bị Tòa Tổng Giám mục Sài Gòn cho rằng “Ai có công tâm đều nhận thấy… vô cùng gượng ép…” là khoản 1 Phần IV Quyết định số 111/CP ngày 14/4/1977 Ban hành chính sách quản lý và cải tạo XHCN đối với nhà, đất cho thuê ở các đô thị và các tỉnh phía Nam (sau này, sửa đổi tên gọi, bỏ 2 chữ “cho thuê” theo Quyết định 305/CP ngày 17/11/1977). Quyết định này có một khoản 2 Phần IV “cướp” không toàn bộ nhà- đất của các sỹ quan, cảnh sát… VNCH (thường được gọi là Diện 2.IV).
Theo đó, khoản 1 Phần IV, và sau này Mục A của Thông tri số 410/TTg ngày 17/11/1977 của Phủ Thủ tướng (Thông tri được đánh dấu MẬT) cũng lập lại, qui định: “Mọi loại nhà cửa, đất đai trước ngày Giải phóng do chính quyền Mỹ- ngụy quản lý hoặc dành cho những tổ chức hay cá nhân thuộc ngụy quân, ngụy quyền và các tổ chức, đảng phái phản động sử dụng nay đều là tài sản công cộng, do nhà nước trực tiếp quản lý”.
“Vô cùng gượng ép” vì không có chứng cứ pháp lý và thực tế nào cho thấy khu đất bà con Vườn Rau Lộc Hưng là do chính quyền VNCH trước ngày 30/4/1975, kể cả nhà cầm quyền cộng sản sau này quản lý như Văn bản số I.83.2007.285 đề ngày 21 tháng 8 năm 2007 của Tòa Tổng Giám mục Sài Gòn đã khẳng định.
Trái lại bà con có đủ chứng cứ xác định đã sử dụng liên tục, ổn định từ năm 1954 đến ngày nay. Mà theo qui định Hiến pháp và Luật đất đai, không xem xét đến nguồn gốc, đều qui định: Người đang sử dụng đất ổn định, lâu dài thì được công nhận QSD đất.
Cụ thể, Hiến pháp 1980 qui định “người đang sử dụng đất đai được tiếp tục sử dụng và hưởng kết quả lao động của mình theo quy định của pháp luật” (Điều 20). “Người đang sử dụng đất đai hợp pháp được tiếp tục sử dụng theo quy định của Luật này” (Điều 1 Luật Đất đai 1987). “Người sử dụng đất ổn định, được Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn xác nhận thì được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền xét và cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất” (Khoản 1 Điều 2 Luật đất đai 1993). Đến Luật Đất đai 2003 qui định “không có giấy tờ, nhưng đã sử dụng từ ngày 15/10/1993 đến trước ngày Luật này có hiệu lực thi hành (tức ngày1/7/2004) … “ thì được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và phải nộp tiền sử dụng đất theo quy định của Chính phủ Khoản 6 Điều 50).
Những “người công tâm” khác cũng đặt câu hỏi, ngoài những nhà- đất chiếm được chia nhau, sau ngày 30/4/1975 tại sao cũng là đất công, thậm chí đất quân đội, đất quốc phòng… được “xẻ”, “chia”, “hóa giá” cho cán bộ mới vào Sài Gòn sau 1975 làm nhà ở, làm sân golf, cơ sở kinh doanh thương mại… bán đi bán lại kiếm tiền như các khu đất hình thành ở các trục đường quanh Bộ Tổng Tham mưu VNCH, Sân bay Tân Sơn Nhất, …Mà khu đất của dân nghèo sử dụng hơn 65 năm qua,Vườn Rau Lộc Hưng, không có căn cứ “đất công” lại quyết bị cướp chiếm. Do bị phân biệt đối xử, vì chỉ là Dân; hay do túi tham của nhóm lợi ích, của quan cộng sản là không đáy?
#GNsP (14.01.2019) – Sau khi xảy ra vụ cưỡng chế đất kinh hoàng tại Vườn Rau Lộc Hưng trong hai ngày 04 và 08.01.2019, dư luận trong và ngoài nước phẫn nộ, nhiều tờ báo Đảng đồng loạt đưa tin theo chiều hướng đả kích bà con nông dân đã “cố tình” xây dựng các “công trình trái phép”, “nhà xây không phép”… trên diện tích đất Vườn Rau.
Đặc biệt báo Tuổi Trẻ cho biết, “lãnh đạo UBND Q.Tân Bình chỉ cưỡng chế tháo dỡ những ngôi nhà xây dựng không phép chứ không phải thu hồi đất”. Các báo đài còn khẳng định, các cơ quan có thẩm quyền thực hiện đúng các thủ tục pháp luật quy định về cưỡng chế, thu hồi đất.
Nhưng ngay sau đó, nhà cầm quyền đã tiến hành thu dọn hiện trường, âm mưu rào chắn, dựng bảng “dự án” nhằm thực hiện trọn vẹn công cuộc chiếm đoạt nhà-đất của bà con Vườn Rau Lộc Hưng. Rõ ràng, chiêu trò “cưỡng chế công trình xây dựng trái phép” chỉ là gian dối, xoa dịu dư luận. Ngay nội dung bài báo có ghi “lãnh đạo UBND quận Tân Bình”, nhưng không chỉ rõ “lãnh đạo” là ai để chịu trách nhiệm về sau, cũng cho thấy tính gian dối của truyền thông lề phải.
”Quyền sử dụng” đất Vườn Rau là của bà con.
Trong bài viết “Vườn Rau Lộc Hưng nhìn dưới khía cạnh pháp lý”, nhóm GNsP đã trưng dẫn các quyết định của Hội đồng Chính phủ lâm thời miền Nam sau ngày 30 tháng 4 năm 1975 và nhà cầm quyền cộng sản thời điểm đó về việc“giải quyết tranh chấp đất đai trong nội bộ nhân dân phải trên cơ sở nguyên canh là chính”, “Nhà nước chỉ quốc hữu hoá các đồn điền và ruộng đất của các tư sản nước ngoài”…; và ra các văn bản chỉ thị “đăng ký, thống kê sử dụng đất” mà sau này được xem là các giấy tờ hợp pháp… Và bà con Vườn Rau đã “chấp hành”, “thống kê”, “đăng ký”, “đo đạc” ruộng đất với các cơ quan có thẩm quyền trong “công tác quản lý ruộng đất” của nhà nước. Chính cơ quan chức năng đã “nhận thuế đất” và cấp các biên lai “thu thuế” cho bà con để xác định bà con Vườn Rau có đầy đủ QSD đất của mình. Đến Hiến Pháp 1980 và Luật Đất Đai 1987 quy định: “…Những tập thể và cá nhân đang sử dụng đất đai được tiếp tục sử dụng và hưởng kết quả lao động của mình theo quy định của pháp luật…” mà không cần đến cái gọi là “sổ đỏ” khi bà con sử dụng đất lâu dài và ổn định từ năm 1954 cho đến nay.
Cưỡng chế các “công trình trái pháp luật” vi phạm nghiêm trọng pháp luật
Để bảo vệ đất của cha ông đã để lại từ năm 1954, cũng như cải thiện đời sống kinh tế, tìm kế sinh nhai, đặc biệt bảo vệ sự an ninh cho khu Vườn Rau, bà con đã xây tạm những ngôi nhà trọ tềnh toành để cho sinh viên, công nhân nghèo thuê với giá thấp. Các ngôi nhà tạm này chính là tài sản gắn liền với đất hợp pháp của bà con có quyền sử dụng đất lâu dài và ổn định gần 65 năm qua, luôn mong muốn được nhà nước công nhận “quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất” cho các hộ dân có thửa đất tại Vườn Rau.
Giả sử rằng, bà con Vườn Rau “cố tình” xây dựng các “công trình trái pháp luật” như các báo chí nhà đảng đưa tin thì nhà cầm quyền quận Tân Bình “cưỡng chế” các công trình trái pháp luật cũng phải tuân thủ đúng các quy định của Luật Xử phạt Vi phạm Hành Chính (Luật XPVPHC) và các luật liên quan. Tuy nhiên, nhà cầm quyền đã ngang nhiên vi phạm các thủ tục quy định của pháp luật khi “cố tình” làm ngơ và để mặc cho bà con “xây dựng trái phép”, “xây nhà không phép” gần 200 căn nhà – thậm chí có nhiều căn nhà xây từ năm 2012 – mà các cán bộ không có bất kỳ hành vi ngăn cản nào, không “lập biên bản vi phạm hành chính”, không có “quyết định tạm dừng thi công”, “quyết định xử lý vi phạm”, không có biện pháp khắc phục hậu quả như “buộc tháo dỡ công trình, phần công trình xây dựng không có giấy phép hoặc xây dựng không đúng với giấy phép;” (được quy định tại Điều 3; điểm b khoản 1 Điều 28; Điều 57 Luật XLVPHC; Điều 2 Nghị định 111/2013/NĐ-CP). Thậm chí luật quy định rõ, nếu “hết thời hiệu xử phạt vi phạm hành chính” hoặc “hết thời hạn ra quyết định xử phạt” thì vẫn phải lập “biên bản” (Điều 65 Luật XPVPHC). Tuy nhiên chỉ có một số hộ gia đình Vườn Rau được nhận “biên bản vi phạm hành chính”, đa số là không nhận được bất kỳ một biên bản nào từ phía nhà cầm quyền phường 6, quận Tân Bình.
Điển hình là những Ngôi nhà đơn thân của Qúy TPB VNCH do Quý cha Văn phòng Công Lý và Hòa Bình DCCT Sài Gòn xây dựng. Sáu căn nhà cho quý ông Thương phế binh VNCH nghèo đơn thân được xây dựng công khai, kéo dài và Qúy Ông TPB đã sinh sống ổn định mà không gặp phải bất kỳ phản ứng nào. Hoặc gia đình Cựu tù nhân lương tâm Huỳnh Anh Tú và Phạm Thanh Nghiên cũng xây cất một căn nhà nhỏ cho hai vợ chồng sống cùng con gái nhỏ, nhưng họ không nhận được bất kỳ một “biên bản vi phạm hành chính” nào trong thời gian thi công, cũng chưa nhận được một quyết định tạm dừng thi công nào… Một ông thầu xây dựng từng kể “chỉ cần mua một bao xi măng, hay một xe ba gác chở cát thôi là các cán bộ sẽ đi theo “thanh tra, kiểm tra” xem nhà đó có “xây dựng trái phép” không?”. Nhiều người đặt câu hỏi: Các công trình “xây dựng trái phép” trên đất rừng ở Sóc Sơn sao không bị xử lý, không buộc tháo dỡ công trình trong khi có nhiều văn bản chỉ đạo giải quyết? Bí thư Sóc Sơn nói phá Việt phủ Thành Chương ở Sóc Sơn là “vô cảm”. Thế thì phá hủy hơn 200 căn nhà của người nghèo Vườn Rau – mà người nông dân đã chắt chiu, quấn khăn buộc bụng từng đồng từng cắc cả cuộc đời của họ là “không” vô cảm sao? Nhà cầm quyền đập nát ngôi nhà của bà con nông dân cận kề ngày tết đến là không “vô cảm” sao? Vậy, “ai” cố tình vi phạm pháp luật? “Ai” cố tình cho người dân “xây dựng trái pháp luật”, sau đó tùy tiện mang máy xúc, máy ủi đến đập phá nhà, bình địa Vườn Rau thành bãi tha ma? “Ai” cố tình vùi dập, triệt đường sống của người dân nghèo? “Ai” đã đẩy người dân sống trong cảnh màn trời chiếu đất, không công ăn việc làm?
Người dân Vườn Rau Lộc Hưng quyết bảo vệ đất đai của mình
Cái gọi là “lãnh đạo UBND Q.Tân Bình nói cưỡng chế tháo dỡ những ngôi nhà xây dựng không phép chứ không phải thu hồi đất”, làm người ta lầm tưởng, như vậy chỉ có “công trình trái phép” của bà con bị cướp, còn đất đai “còn nguyên”? Thực tế là sau khi đưa máy xúc, máy ủi đập phá các ngôi nhà của người dân nghèo thành đống tro tàn ngổn ngang vào ngày 08.01.2019 thì các ngày sau đó nhà cầm quyền đã ngay lập tức lại tiếp tục dùng lực lượng có chức năng gồm công an, an ninh, dân quân tự vệ… rào chắn khu đất Vườn Rau và không cho người dân Vườn Rau vào trên khu đất của chính họ? Nếu chỉ cưỡng chế tháo dỡ thôi, tại sao lại ngăn cản người dân ra vào trên khu đất của họ? Tại sao không trả lại đất cho người dân Vườn Rau – là chủ đất?
Bà con Vườn Rau quyết tâm dùng mọi biện pháp để buộc là được nhà cầm quyền công nhận quyền sử dụng đất cho gần 5 hecta đất mà bà con đã sử dụng lâu dài và ổn định từ năm 1954, tức gần 65 năm. Đây là điều hợp lý, hợp pháp.
#GNsP – Sáng ngày 14/1/2019, Hội đồng Liên Tôn – đại diện các tôn giáo- đến viếng thăm bà con Vườn Rau Lộc Hưng (VRLH) thuộc P.6, Q. Tân Bình, sau khi nhà cầm quyền đã san bằng mảnh đất mà vài ngày hôm trước họ đập sập gần 200 căn nhà nơi đây.
Vị Hòa thượng Chùa Liên Trì Thích Không Tánh, đại diện các chức sắc Tôn giáo gửi lời chia sẻ nỗi đau mất mát với bà con VRLH. Vị Hòa thượng từng bị nhà cầm quyền đập sập Chùa, chiếm đất vào tháng 9/2016 tại Thủ Thiêm nói rằng: “Tôi chia sẻ đau thương mất mát với quý đồng bào Công Giáo nơi đây. Quý vị đã ở đây gần một thế kỷ rồi, nhưng hôm nay mắt tôi đã chứng kiến họ san bằng phẳng nơi này, xóa mọi dấu vết, như chưa từng có ai đã sinh sống nơi đây. Chúng tôi vô cùng thương cảm trước cảnh đồng bào Công Giáo nơi đây. Trước đây đã từng xảy ra những vụ cưỡng chiếm đất đai của bao người như Đoàn Văn Vươn, như ở Thủ Thiêm, nay lại ở VRLH. Nhưng chưa bao giờ thấy đau thương như ở VRLH này, khi ngày Tết cổ truyền đang đến gần. Quả hết sức tàn bạo…!”
Kế đó từng vị chức sắc thuộc các tôn giáo khác đều có những lời phát biểu gửi đến bà con tại VRLH. Chánh Trị Sự Hứa Phi, thuộc Tôn giáo Cao Đài, đến từ Lâm Đồng, các Linh mục Công Giáo có các cha: Vinhsơn Phạm Trung Thành, Antôn Lê Ngọc Thanh thuộc DCCT Sài Gòn đều có những lời an ủi, chia sẻ sự mất mát đau thương của bà con, đồng thời cũng khích lệ bà con VRLH mạnh mẽ, can đảm trên con đường đòi công lý.
Trong khi các vị Chức sắc các Tôn Giáo phát biểu, loa phường 6, mở hết công xuất nhằm át tiếng nói của các vị chức sắc. Đồng thời rất đông công an sắc phục và nhóm “lạ mặt khẩu trang” quay phim, chụp ảnh bà con.
Trước khi kết thúc buổi viếng thăm, Hòa thượng Thích Không Tánh gửi chút quà mọn đến cho bà con VRLH như một nghĩa cử hiệp thông và đồng hành với các dân oan VRLH trong hoàn cảnh năm hết tết đến phải sống cảnh không nhà.
ÔNG KẸ QUYẾT ĐỊNH 111/CP LẠI NHÁT DÂN VƯỜN RAU LỘC HƯNG Luật sư Đặng Đình Mạnh
#sgb Một lần nữa, công chúng lại nghe nhắc đến Quyết định 111/CP từ phía chính quyền trong chuỗi sự kiện liên quan đến Vườn Rau Lộc Hưng.
Tên pháp lý đầy đủ của văn bản như sau: Quyết định số 111/CP của Hội đồng Chính phủ Về việc ban hành chính sách quản lý và cải tạo xã hội chủ nghĩa đối với nhà, đất cho thuê ở các đô thị của các tỉnh phía nam do ông Phạm Hùng ký ban hành ngày 14/04/1977 (QĐ 111).
QĐ 111 chỉ mặc nhiên bế mạc vai trò của nó vào tháng 10/1991 khi chính quyền ban hành Quyết định số 297/QĐ-CT trong đó có nội dung quy định có thể tóm tắt nôm na rằng: Nếu nhà đất thuộc đối tượng phải quản lý theo QĐ 111 mà SÓT thì THA.
Trong suốt thời gian 14 năm từ khi QĐ 111 này có hiệu lực (1977 – 1991), thì văn bản này đã là ông kẹ khiến hàng triệu người dân miền nam khiếp sợ khi trở thành cơ sở để chính quyền các địa phương từ Quảng Trị trở vào truất hữu nhà đất của họ.
Đối tượng bị truất hữu nhà đất không chỉ là dân chúng tham gia vào bộ máy công quyền chính quyền Sài Gòn cũ (thường được gọi với cái tên rất nổi tiếng: Diện 2/IV [1]), người tham gia các đảng phái chính trị, người đi hồi hương, kinh tế mới, vượt biên, mà còn lan rộng đến cả các hội đoàn, tôn giáo, thậm chí cả các cá nhân, tổ chức nước ngoài.
Về thủ tục truất hữu, thì QĐ 111 là văn bản chỉ định những đối tượng bị chi phối và có tính chất như một văn bản mẹ có hiệu lực toàn miền nam, kể từ Quảng Trị trở vào, để theo đó, chính quyền các địa phương thực hiện bằng cách ban hành từng quyết định quản lý nhà đất riêng rẽ có tính chất như một văn bản con mặc nhiên truất hữu từ chủ cũ NHƯNG KHÔNG chuyển hữu sang nhà nước.
Đến 14 năm sau, năm 1991 khi ban hành Quyết định 297/QĐ-CT thì chính quyền mới bắt đầu minh thị việc xác lập chủ sở hữu nhà nước đối với những nhà đất đã và đang quản lý theo QĐ 111.
Đối với Vườn Rau Lộc Hưng, khi công bố với báo giới về quá trình quản lý đất tại đây, thì UBND Quận Tân Bình đã nhắc đến QĐ 111 một cách nhập nhằng, khiến cho báo giới hiểu lầm rằng đất đai khu vực này đã có quyết định riêng rẽ xác lập quản lý nhà nước từ năm 1977 !?
Mặc cho thực tế thì QĐ 111 là một văn bản mẹ, áp dụng cho toàn miền nam chứ không phải áp dụng riêng rẽ cho Vườn Rau Lộc Hưng !!!
Nếu đất đai tại Vườn Rau Lộc Hưng thuộc đối tượng bị chi phối bởi QĐ 111 thì chính quyền sở tại phải ban hành một quyết định riêng rẽ để thực hiện quản lý nhà nước. Bản thân QĐ 111 không có giá trị đương nhiên xác lập quản lý nhà nước đối với đất đai Vườn Rau Lộc Hưng.
Nếu đến thời điểm năm 1991 mà Vườn Rau Lộc Hưng vẫn chưa có quyết định quản lý nhà nước, thì buộc phải coi là trường hợp quản lý SÓT theo Quyết định 297. Theo đó, phải công nhận quyền sử dụng đất cho người dân đang trực tiếp sử dụng đất.
Việc chính quyền sở tại phải viện dẫn đến QĐ 111 chứng tỏ rằng chính quyền chưa từng có văn bản quản lý nhà đất nào trong khu vực cho đến tận năm 2008, khi UBND TPHCM ban hành Quyết định số 1824/QĐ-UBND ngày 25.4.2008, thu hồi đất giao cho UBND quận Tân Bình để thực hiện dự án công trình công cộng và chung cư cao tầng.
Sự cung cấp thông tin nhập nhằng của phía chính quyền sở tại là hoàn toàn có chủ ý và không phải là không có tác dụng, vì ngay sau đó, không chỉ báo lề phải đưa tin đã đành mà ngay cả một số phóng viên viết bài trên cá nhân của mình thì một mặt thể hiện thông cảm với người dân Vườn Rau Lộc Hưng vì bị phá dỡ nhà cửa trong dịp giáp tết, mặt khác, vẫn tin rằng đất Vườn Rau Lộc Hưng là đất công, vì đã có quyết định quản lý của nhà nước.
Thế nên, về phương diện pháp lý, chúng ta hoàn toàn có cơ sở để khẳng định rằng:
ĐẤT ĐAI Ở VƯỜN RAU LỘC HƯNG KHÔNG PHẢI LÀ ĐẤT CÔNG !
Bên cạnh đó, việc người dân có thời gian liên tục cư trú, trực canh, sử dụng đất và thực hiện nghĩa vụ thuế sử dụng đất suốt từ năm 1954 là quá đủ điều kiện pháp lý để công nhận quyền sử dụng đất của họ theo quy định của Luật Đất đai.
Chính quyền sở tại không công nhận quyền sử dụng đất cho họ, khiến họ phải rơi vào tình trạng xây dựng nhà không có giấy phép là hoàn toàn không do lỗi của họ mà có phần lỗi từ chính chính quyền sở tại.
Thời điểm năm 2008, khi quyết định thu hồi đất để thực hiện dự án công trình công cộng và chung cư cao tầng phục vụ chương trình tái định cư thì chính quyền sở tại đã không có bất kỳ động thái nào thực hiện quy định về thương lượng, bồi thường cho dân cả ? Kể cả khi đã có quy hoạch thay đổi để xây dựng cụm trường học công lập đạt chuẩn quốc gia ?
Qua đó cho thấy, việc chính quyền sở tại cố ý viện dẫn ông kẹ QĐ 111 để cho rằng đất đai ở Vườn Rau Lộc Hưng là đất công từ năm 1977 là một sự nhập nhằng khá thành công, tuy đã có thể làm hoa mắt những người có trách nhiệm phải luôn tô hồng cho họ. Nhưng với công chúng hiểu biết và tôn trọng sự thật thì không dễ dàng gì, kể cả sinh viên luật năm thứ nhất, bởi lẽ, quá ngây ngô !
———-//———-
[1] Do phần nội dung về các đối tượng bị quản lý nhà quy định ở mục 2 phần IV QĐ 111, nên những đối tượng thuộc diện này thường được gọi tắt là diện 2/IV;
Những dòng chữ của nhà báo Cù Mai Công (từng làm báo tại Khăn quàng đỏ, Mực tím, Tuổi trẻ – có thể ở những báo khác nữa mà tôi không biết) vừa đánh thức tôi về ký ức trẻ thơ vừa dẫn tôi đến nhận định pháp lý chắc chắn.
1. Đoạn đầu khá dài của bài viết, tác giả cho biết mình là người sống khu Ông Tạ, gần vườn rau Lộc Hưng (VRLH), rồi ông mô tả những hình ảnh tuổi thơ ghi nhận được hoặc nghe loáng thoáng các câu chuyện “tám” của ngươi lớn. Thú vị khi ông mô tả về khu vực VRLH là
“Khu này nghèo rớt, nghèo từ hồi những cư dân Bắc di cư 1954 tới ở gần đó, quanh con hẻm mà giờ mang tên Chấn Hưng. Đám con nít Ông Tạ, trong đó có nhà thơ Đỗ Trung Quân và… tôi cũng ít tới đây vì lầy lội và mùi phân hôi thối suốt ngày đêm từ cái ao ủ phân tưới trong khu vực gần 5ha này. Ngựa xe qua lại khu này có khi phải bịt mũi…”
Trái với tác giả, thơ ấu của tôi khi đến khu VRLH này như là cơ hội được đi dã ngoại. Nhà tôi theo số nhà cũ là 88/79/35A Bà Huyện Thanh Quan, quận 3, ngay xóm 6 giáo xứ thuộc DCCT SG nơi tôi đang ở và làm việc. Tôi có bà dì Bảy (bà ngoại tôi là chị cả, còn bà dì áp út trong gia đình ông cố ngoại tôi) nhà ngay đầu đường/hẻm Chấn Hưng, và bà cố Ri (mthân mẫu 2 cha Thắng và Khương, nhà đối diện xéo đền thánh Phêrô Thi) là dì tôi.
Từ năm 1974 (5 tuổi) đến mãi năm 1983 (14 tuổi), tháng nào tôi cũng được mẹ dẫn ra đường Lê Văn Duyệt đón xe buyt đi qua trạm nghĩa trang Đô Thành là xuống. Cũng có khi đi bằng Lambro, thỉnh thoảng đi xe ngựa. Chúng tôi vào xứ An Lạc chơi với bà ngoại và các con của cậu Bình (em kế của mẹ tôi). Khi về thay vì đứng đợi xe buýt ở trạm, mẹ dẫn tôi vào nhà bà Bảy chơi, xe đến dừng ngay trước hẻm, bước ra 10 thước là lên xe. Hôm nào mẹ tôi không gấp việc nhà sẽ dẫn vào trong sâu thăm chú dì Ri. Đến đó, tôi nhìn VRLH mà miên man pha trộn những hình ảnh trong các câu chuyện đồng quê đã được đọc trong tủ sách Tuổi Hoa (do cha Chân Tín DCCT lập), thỉnh thoảng cũng chạy ào qua phía VRLH đó (đối diện nhà dì) cho thỏa chí tưởng tượng.
Ký ức tuổi thơ đẹp và thú vị thế đó, nhưng không phải là tư liệu lịch sử, càng không phải là bằng chứng pháp lý.
2. Nhà báo Cù Mai Công cũng cho biết: “Trước 1975, có lúc, thương phế binh VNCH sau khi cắm dùi chiếm đất khu đường Hoàng Văn Thụ hiện nay, đoạn từ ngã tư Bảy Hiền đến Lăng Cha Cả đã nhào vô khu Lộc Hưng cắm dùi nhưng bất thành vì chính quyền lúc đó ngăn chặn quyết liệt. Xéo xéo gần đó là một trại lính nhảy dù đa số gốc Bắc di cư 54 cũng khá dữ dằn”, khơi lên cho tôi câu hỏi:
Tại sao chính quyền lúc đó ngăn chặn thương phế binh VNCH vào VRLH?
Phải chăng vì đất VRLH không phải là đất hoang, mà là đất có chủ, nên chính quyền có bổn phận bảo vệ quyền lợi hợp pháp của dân cư nghèo từ Bắc di cư vào VRLH. Chắc chắn là như vậy rồi chứ không vì liên quan đến an ninh quân sự như cách nói ám chỉ “xéo xéo gần đó là một trại lính nhảy dù đa số gốc Bắc di cư 54 cũng khá dữ dằn”.
3. Nhà báo Cù Mai Công thật sự có lòng với cư dân VRLH, nên đã chỉ ra thực tế hiện nay cho thấy nhà nước cộng sản đương quyền đã đối xử bất công với các công dân VRLH. Đây là một bày tỏ đáng trân trọng của tác giả bài viết: “Đất công thì rõ ràng rồi. Thế nhưng cũng khu vườn rau, ở phía ngoài, mặt tiền đường Cách Mạng Tháng Tám thì hàng chục năm nay đã thành dãy nhà 3, 4 tầng từ lúc nào – không rõ đơn vị nào phân, hợp thức hóa? Nghĩa là đất công khu vườn rau đã thành đất tư từ lâu – sổ hồng, sổ đỏ đàng hoàng”.
Tuy nhiên tôi không rõ “khu vườn rau, ở phía ngoài, mặt tiền đường Cách Mạng Tháng Tám” (dài lắm, tôi cũng đã thấy như vậy thời bé) có phải đất công như tác giả nhận định hay không, còn đất VRLH thì không phải đất công, đó là đất có nguồn gốc rõ ràng, đất tư nhân.
Đất không biết có nguồn gốc hay không thì đã được nhà nước hợp thức hóa để xây nhà cao tầng 3,4 tấm, nhưng không biết tại sao đất có nguồn gốc rõ ràng lại không được cấp chứng nhận, để xây dựng hợp luật? Chỉ có thể là chính sách chung và nhất quán là cướp đất có nguồn gốc Công giáo (tập thể Giáo hội và cá nhân Tín hữu) bằng mọi giá, vì Công giáo cuối cùng cũng lấy tình bác ai ra mà chịu đựng, bỏ qua. Tuy nhiên cũng tùy thời mà Hội thánh biết mình cần phải diễn tả lòng bác ái thực sự như thế nào cho đúng, nhất là không bao giờ được bỏ người nghèo để hùa theo thế quyền hay phú quý lộng hành, kể cả nhân danh luật, mà lại làm sai.
Đất của VRLH là đất có thổ công, cư dân VRLH là người có bằng khoán. Toàn bộ giấy tờ nguồn gốc xa xưa đến giấy tờ ủy nhiệm và nhất là giấy xác nhận Giáo hội Công giáo tại Sài Gòn không tranh chấp với dân VRLH đều đã được Phòng công chứng ở thành phố này công chứng. Các cơ quan có chức năng, bổn phận giải quyết đất đai và khiếu kiện là UBND quận Tân Bình, UBND Tp.HCM, Thanh tra chính phủ,… đều đã có đủ bộ giấy tờ hoàn chỉnh, theo luật hiện hành là tương đương với bản gốc.
Không chỉ “ngậm ngùi tháng chạp” đâu, mà các công dân VRLH nói riêng, công dân Việt Nam nói chung sẽ ngậm ngùi dài lâu sang Giêng, qua Rằm rồi lại đến Chạp mới, nếu những người theo cộng sản xem ý chí cách mạng của mình quan trọng hơn quyền sống còn, quyền cư trú, quyền hưởng lợi chính đáng của các công dân. —
Khu vực vườn rau Lộc Hưng (Tân Bình, TP.HCM) là đất công từ xưa thuộc tỉnh Gia Định nhưng nằm cách Sài Gòn vài chục mét; với tấm bảng cắm trước đường Bắc Hải, góc Nghĩa địa Đô Thành (nay là Công viên văn hóa Lê Thị Riêng): “Đô thành Sài Gòn kính chào các bạn”.
Cụ thể nó thuộc Tổng nha Bưu điện VNCH (khu Nhà dây thép gió Chí Hòa). Sau này, thuộc quyền quản lý của Bưu điện TP. HCM. Góc khu này, ngay sát con hẻm nay là đường Chấn Hưng có một nhà bưu điện nhỏ (hình như mang tên Chí Hòa – tôi không nhớ rõ) mà hồi thập niên 1980 tôi thường hay đạp xe đạp đến đó gửi thư.
Đó là khu vực ngoại ô Ông Tạ, điểm cuối cùng của khu Ông Tạ về hướng đông. Và cũng là điểm bắt đầu của một trong các cửa ô ra ngoại ô Sài Gòn trước 75. Nếu khu ngã ba Ông Tạ với những cư dân ban đầu người Hà Nội bỏ tiền mua đất (chứ không nhận nền chính quyền Sài Gòn cấp ở Xóm Mới – Gò Vấp, Bình An – Q.8…) toàn nhà 3, 4 tầng với các tiệm vàng san sát thì khu Lộc Hưng là dân miền núi Sơn Tây nghèo bị dạt ra ngoài.
Cũng thuộc khu Ông Tạ nhưng bà con khu này không dư giả tiền bạc để buôn bán như dân ngã ba Ông Tạ nên đã trồng rau kiểu tranh thủ đất trống trong Trạm phát tín của chính quyền Sài Gòn. Dân Ông Tạ gọi là Nhà Dây thép gió vì trong đó chằng chịt những dây cáp níu giữ các cột phát sóng cao nghễu nghện.
Việc tranh thủ này hình như được sự đồng ý hay thỏa thuận gì đó giữa những người quản lý khu này và bên nhà thờ trước 75. Sau 75 không có thỏa thuận nhưng bộ phận quản lý khu này thuộc Bưu điện TP.HCM cũng mặc nhiên thừa nhận. Tất cả đều không có văn bản cụ thể. Phức tạp ở chỗ đó vì nói sao cũng được.
Khu này nghèo rớt, nghèo từ hồi những cư dân Bắc di cư 1954 tới ở gần đó, quanh con hẻm mà giờ mang tên Chấn Hưng. Đám con nít Ông Tạ, trong đó có nhà thơ Đỗ Trung Quân và… tôi cũng ít tới đây vì lầy lội và mùi phân hôi thối suốt ngày đêm từ cái ao ủ phân tưới trong khu vực gần 5ha này. Ngựa xe qua lại khu này có khi phải bịt mũi…
Trước 1975, có lúc, thương phế binh VNCH sau khi cắm dùi chiếm đất khu đường Hoàng Văn Thụ hiện nay, đoạn từ ngã tư Bảy Hiền đến Lăng Cha Cả đã nhào vô khu Lộc Hưng cắm dùi nhưng bất thành vì chính quyền lúc đó ngăn chặn quyết liệt. Xéo xéo gần đó là một trại lính nhảy dù đa số gốc Bắc di cư 54 cũng khá dữ dằn.
Thế là bà con khu này lại tiếp tục trồng rau và đi lễ ở một vài nhà thờ, đền thánh nói cho ngay khá khiêm tốn so với các nhà thờ, đền thánh Công giáo quanh ngã ba Ông Tạ. Gần đây, một số gia đình dựng nhà trọ cho thuê với giá rẻ bèo so với các khu khác. Tại sao? Con đường Chấn Hưng vô khu này như hẻm cụt; giá đất khá rẻ, trong khi đường Bắc Hải chạy song song cách đó vài chục mét to rộng, thông thoáng sang quận 10 giá cao ngút trời.
Đất công thì rõ ràng rồi. Thế nhưng cũng khu vườn rau, ở phía ngoài, mặt tiền đường Cách Mạng Tháng Tám thì hàng chục năm nay đã thành dãy nhà 3, 4 tầng từ lúc nào – không rõ đơn vị nào phân, hợp thức hóa? Nghĩa là đất công khu vườn rau đã thành đất tư từ lâu – sổ hồng, sổ đỏ đàng hoàng.
Còn phía trong khu vườn rau chưa ai có sổ gì, thế là 112 hộ nơi đây bỗng thành những người lấn chiếm đất công – dù họ đã ở, sinh sống nơi đây từ 1954, tức tới giờ người ở lâu nhất đã 65 năm – mấy thế hệ. Những người ở đầu tiên 1954 giờ chắc cũng về đất gần hết. Giờ toàn thế hệ sinh sau đẻ muộn, lớn lên với tiếng kinh cầu xứ nghèo và “vườn rau xanh ngắt một màu” thì họ cho rằng đây là nhà mình, đất cha mẹ, ông bà mình để lại cũng dễ hiểu.
Và càng dễ hiểu khi bà con ở đây tin chắc đây là đất của mình khi cho rằng mình “đã đóng thuế 20 – 30 năm có đầy đủ giấy tờ pháp lý…; đất vườn rau sử dụng đất 1954…”. Bà con nơi đây cũng cho rằng theo Luật Đất đai 1993, nếu người dân sử dụng đất ổn định từ trước 15-10-1993 – ngày luật Đất đai 1993 có hiệu lực pháp luật , Nhà nước có trách nhiệm phải công nhận và cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho bà con. Nếu nhà nước thu hồi xây trường công lập thì phải bồi thường, bất kể người dân có giấy hay không có giấy – tức sống thực tế 2/3 thế kỷ, gần một đời người.
Thế là họ không chịu rời bỏ nơi chôn nhau cắt rún của mình. Thế là sáng 8-1-2019, lực lượng cưỡng chế ra tay. Ngày 9-1, lãnh đạo UBND Q.Tân Bình, TP.HCM cho biết đã hoàn thành việc cưỡng chế tháo dỡ 112 trường hợp xây dựng nhà trái phép tại khu vườn rau, phường 6, quận Tân Bình. Ngày 10-1, các lực lượng Công an, dân phòng… vẫn dày đặc khu vực ra vô vườn rau Lộc Hưng…
Giờ đã tháng Chạp. Chỉ hơn 3 tuần nữa tết rồi. Đi ngang khu vườn rau Lộc Hưng những ngày này lúc nào cũng kẹt cứng do xe cộ bị chặn lại ở đầu đường Chấn Hưng.
Cư dân Lộc Hưng lẫn chính quyền ai đúng ai sai thế nào có lẽ chưa hết tranh luận, thậm chí dai dẳng. Thế nhưng, cái rõ nhất mà một đồng nghiệp người Đà Nẵng của tôi bảo: Ở Hà Nội, Đà Nẵng…, như Đà Nẵng chẳng hạn, “năm nào cũng vậy, cứ cận tết là có thông báo không được giải tỏa cưỡng chế trong dịp giáp tết. Mọi việc đều ra tết mới giải quyết…”.
Nghe sao mà ngậm ngùi. Tháng Chạp ở vườn rau Lộc Hưng – ngoại ô, xóm nghèo vòng ngoài khu Ông Tạ của chúng tôi suốt một thời tuổi thơ len lỏi vườn rau bắt dế đêm hè…
… Rạng sáng 10-1-2019, tôi đi ngang vườn rau. Gió đông cuối năm nay chỉ man mát nhưng sao nghe lạnh quá. Tết tới nơi rồi mà buồn gì đâu! Lẽ nào vậy là hết những “vườn rau xanh ngắt một màu”…
Sự hấp dẫn của Vatican về thế giới ở trong sự việc Tin Mừng và chính trị thường chỉ qua vài hàng, có khi qua một ngôn ngữ kỳ lạ.
Đó là trường hợp của 110 tài liệu được lưu giữ tại Vatican mà từ lâu vẫn chưa được các học giả biết đến, vì các tài liệu này chưa bao giờ được kê trên danh mục. Và đó là trường hợp của Việt Nam.
Bản tin nội bộ của thư viện Vatican kể câu chuyện của mình.
Các bản in có từ năm 1651. Hầu hết trong khoảng thời gian từ năm 1799 đến năm 1887. Các bản thảo đa số viết bằng chữ Nôm, một hệ thống dùng ký tự Trung Hoa để tạo âm tiếng Việt.
Một số chữ tượng hình Trung Hoa được diễn ra thành từ hán-việt, làm thành ngôn ngữ viết và đọc dành cho giới tinh hoa, được dùng từ thế kỷ thứ 10 đến thế kỷ 20.
Khoảng một ngàn năm lịch sử văn hóa Việt Nam được ghi lại trong hệ thống độc đáo này: văn học, triết lý, lịch sử, luật học, y học, tôn giáo và chính trị được viết bằng tiếng Nôm. Một di sản phần lớn bị mất khi mẫu tự la-tinh đến Việt Nam vào thế kỷ 17 và tiếng Nôm không còn được sử dụng. Chủ nghĩa thực dân Pháp ra lệnh chấm dứt dùng chữ Nôm.
Năm 1922, khi nhà trung hoa học Paul Pelliot (1878-1945) đến thư viện Vatican để biên soạn danh mục cho các tài liệu Trung Hoa, ông đã bỏ qua nhóm tài liệu bị bỏ quên này.
Nhưng bây giờ các trang tài liệu chữ Nôm này được ông Delio Vania Proverbio mở ra lại, ông là chuyên gia phương đông của thư viện, ông đặt câu hỏi về các tài liệu này. Vì thế ông đã liên lạc được với Giáo sư Ngô Thanh Nhàn, thuộc Trung tâm Triết học, Văn hóa và Xã hội Việt Nam của Viện Đại học Philadelphia (Temple University of Philadelphia).
Tháng 10 năm 2018, giáo sư đã đến thư viện Vatican để lập danh mục các tác phẩm. Tất cả các quyển sách in, gồm 87 tập hầu hết có bìa cứng, được phân loại theo tiêu chuẩn Dublin Core (Dublin Core Metadata Initiative). Thư viện sẽ nhập các dữ liệu này và cung cấp trong danh mục trực tuyến ở định dạng MARC21.
Bước tiếp theo liên quan đến 23 tập bản thảo sẽ được mô tả và khôi phục lại các bìa sơn mài, đặc biệt dễ vỡ và khó dùng tác phẩm cho đúng.
Đây chỉ là bước khởi đầu và giáo sư Nhàn cho biết ông cực kỳ quan tâm đến các tác phẩm này. Đa số là các tài liệu là duy nhất và chắc chắn chúng có rất nhiều điều để nói.