GNsP (01.12.2015) – Truyền thông nhà nước loan tin tàu của thuyền trưởng Bùi Văn Cu thuộc xã Bình Châu, huyện Bình Sơn, bị tàu nước ngoài tấn công chiều tối ngày 26/11.
Theo báo Lao Động trích lời ông Nguyễn Thanh Nam, trưởng đài Icom Gành Cả, cho biết 2 tàu dân sự nước ngoài, mỗi tàu gồm 4 người có trang bị võ khí, đã áp sát tàu cá QNg 95861-TS và nổ súng bắn chết ông Bảy trong lúc giằng co. ông Bảy bị 2 phát đạn, gục chết tại chỗ. Những kẻ tấn công đã nã đạn liên tiếp lên cabin tàu cá Việt Nam, rất may mắn thuyền trưởng thoát chết.
Tàu thì lạ mà ngư dân chết đã thành quen
Tại sao truyền thông nhà nước loan tin là tàu lạ, không chỉ đích danh tàu của nước nào đã xâm phạm chủ quyền và bắn giết ngư dân Việt Nam. Không lẽ trên tàu không có Quốc kỳ của quốc gia của họ? Thường thì trên tàu có treo một lá cờ rất “dễ hiểu” đó là Quốc kỳ (National flag), được treo ở đỉnh cột phía lái hoặc treo ở đỉnh cột chính nếu không có cột lái và được kéo lên lúc mặt trời mọc và hạ xuống lúc mặt trời lặn hàng ngày (trừ mùa đông, có sương mù, cờ được kéo lên vào thời điểm có thể nhìn thấy được). Vậy tất cả những vụ ngư dân của Việt Nam bị bắn và bị bắn chết trên vùng biển Việt Nam đều từ trên trời rơi xuống? Giả thiết này là hoang tưởng. hay những nước láng giềng Việt Nam họ không có quốc kỳ? Việt Nam cần chỉ đích danh tàu nước nào đã ‘Bắn chết ngư dân Việt Nam là hành động vô nhân đạo’.
Ngư dân Việt Nam đã chết quá nhiều trên vùng biển của chính mình vì bị tàu lạ tấn công trong nhiều năm trở lại đây đến nỗi mà dư luận phải thốt lên rằng “Tàu lạ, người lạ’ – nhưng thủ đoạn hèn hạ thì quen!”. Song song với việc ngư dân bị đâm thủng tàu cá, bị bắn chết là những sự kiện liên quan đến Trung Quốc hoạt động tại khu vực Biển Đông mà cụ thể là xây dựng các bãi đá ngầm ở Hoàng Sa, đặt giàn khoan trên vùng biển của Việt Nam. Trong khi đó báo nhà nước dẫn lời giới chức địa phương nói trong năm nay, riêng xã Bình Châu, huyện Bình Sơn của tỉnh Quảng Ngãi có gần 20 vụ tàu cá Việt bị tàu nước ngoài, chủ yếu là tàu Trung Quốc, tấn công, cướp bóc, hành hung.
Ngày 05/11 mới đây, ông Tập Cận Bình, chủ tịch CHND Trung Hoa có chuyến thăm Việt Nam với những tuyên bố về việc cùng nhau giải quyết các vấn đề về biển đảo, xây dựng mối bang giao hữu nghị, thắm tình đoàn kết và ông này hứa viện trợ cho Hà Nội 1 tỷ nhân dân tệ. Nhưng vừa rút chân khỏi Việt Nam, ông này tuyên bố một cách thẳng thừng tại Singapore, Hoàng sa, Trường sa thuộc của Trung Quốc và những gì của Trung Quốc đang diễn ra tại đây là hợp pháp? Chưa đầy một tháng, thì ngư dân Việt Nam lại phải thế mạng trên Biển Đông.
Nhà cầm quyền Hà Nội có bảo vệ được ngư dân?
Hiệp hội nghề cá có tác dụng gì ? Trên trang Petro Times cho hay, ngay trong sáng ngày 30/11, đã liên lạc với Hiệp hội Nghề cá Việt Nam và Tổng thư ký hiệp hội Hoàng Đình Yên cho biết: “Cũng như những lần trước, chưa xác định được những kẻ xả súng là ai và con tàu gây án là của quốc gia nào?”. Trả lời trên đài VOA, Chủ tịch Hội nghề cá Phan Huy Hoàng nói rằng:
“Vấn đề đối phó là của các cơ quan chức năng chứ Hội chỉ vận động ngư dân đi đánh bắt theo đoàn, theo toán để có sự cố trên biển thì có thể giúp đỡ lẫn nhau thôi. Còn các việc lớn lao hơn thì các cơ quan chức năng người ta làm.” Một hiệp hội có tầm vóc chỉ là động viên và vận động ngư dân đi đánh bắt cá theo đoàn, vậy họ có bảo vệ được ngư dân trước súng đạn của kẻ thù? Được biết, Việt Nam gần đây thành lập cục kiểm ngư, vậy cục này để làm gì?
Tại sao Chính phủ Việt Nam không bảo vệ được ngư dân, không đủ năng lực để điều tra tàu lạ tấn công và giết chết ngư dân của mình. Vụ tàu lạ tấn công chiều tối ngày 26/11 và bắn chết ngư dân liệu có chìm xuồng, đi vào quên lãng như biết bao vụ trước đây. Tại sao nhà cầm quyền không đề nghị quốc tế phối hợp để tìm ra kẻ thủ ác và khởi kiện, tố cáo tội ác man rợ của họ ra trước pháp luật quốc tế. Tại sao lại để tàu lạ đi vào vùng chủ quyền của quốc gia, tại sao các cơ quan chức năng bảo vệ biển đảo, bảo vệ ngư dân không đáp trả tự vệ trước hành động ngang ngược của “tàu lạ”? Rất nhiều câu hỏi đặt ra, vậy thì với năng lực của một Chính phủ biết bảo vệ nhân dân trước mối đe dọa đến tính mạng, chủ quyền biển đảo tổ quốc của các thế lực bên ngoài sẽ phải trả lời được cụ thể. Nhưng không bảo vệ được ngư dân, biển đảo có nghĩa Chính phủ đó yếu kém hoặc bạc nhược hoặc hèn hạ. Qua vụ này càng thêm dấu chỉ cho chúng ta thấy năng lực và cách bảo vệ của nhà cầm quyền đối với sinh mạng chính trị của người dân và vấn đề chủ quyền biển đảo tại Việt Nam yếu ớt như thế nào?
Người dân có được lên tiếng?
Một bạn trẻ tại Hà Nội nói rằng “ở nước ngoài một người dân bình thường bị gây thương tích bởi cảnh sát, chính phủ và cả ông tổng thống cũng phải lên tiếng xin lỗi. Còn tại Việt Nam, ngư dân bị bắn chết bởi người nước ngoài mà cả chính phủ lại im lặng. Một cái chính phủ tồi như vậy có xứng đáng là lãnh đạo của nhân dân không?”. Một người khác thì mong muốn: “chúng ta cần nói thật nói thẳng, không nên gọi là tàu lạ nữa, đó đích danh là Trung Quốc, đây là những bằng chứng xác thực để Việt Nam có thể đệ trình khởi kiện lên Liên Hợp Quốc. Một người dân tại Sài Gòn thắc mắc: “tại sao nhà cầm quyền không lên tiếng để bảo vệ ngư dân, biển đảo của tổ quốc nhưng khi người dân trong nước đau xót và phẫn uất với hành động man rợ, đê hèn của kẻ thù đối với đồng bào của mình bằng những cuộc biểu tình, tuần hành phản đối thì chúng ta dễ bị nhà cầm quyền Hà Nội đàn áp thẳng tay, bắt bớ và bỏ tù?”. Thật nhói lòng khi nghe những người dân được cho là ông chủ của đất nước, ông chủ của lãnh đạo mà có những tâm nguyện xót xa đến như vậy.
Liệu ngư dân Việt Nam còn tiếp tục bị bắn chết trên vùng biển của mình bởi “tàu lạ”, có lẽ chúng ta phải giải mã được những câu hỏi tại sao như đã đặt vấn về ở trên. Còn nếu không có câu trả lời thỏa đáng thì cái kết của ngư dân Việt Nam là cái chết vẫn cứ diễn ra dài dài.
GNsP (26.11.2015) – Sài Gòn – Chiều 25/11/2015 Quốc Hội VN đã thông qua Luật Trưng Cầu ý Dân với tỷ lệ tán thành là 426/435 đạt hơn 86%. Luật mới bao gồm 8 chương 52 điều, có hiệu lực thi hành từ ngày 1/7/2016. Báo chí trong nước đồng loạt đăng tin về việc Việt Nam bắt đầu có luật về trưng cầu ý dân, và xem đây như một bước tiến lớn trong tiến trình dân chủ. Nhưng liệu luật mới này có mang lại giá trị thực tế cho người dân hay cũng chỉ là văn bản giấy tờ mà thôi?
Liên quan đến đảng – dân nguyện bị phớt lờ
Điều 6 của luật trưng cầu ý dân nêu ra những vấn đề có thể được Quốc hội xem xét, quyết định đưa ra lấy ý kiến nhân dân:
Toàn văn Hiến pháp hoặc một số nội dung quan trọng của Hiến pháp;
Vấn đề đặc biệt quan trọng về chủ quyền, lãnh thổ quốc gia, về quốc phòng, an ninh, đối ngoại có ảnh hưởng trực tiếp đến lợi ích của quốc gia;
Vấn đề đặc biệt quan trọng về kinh tế – xã hội có ảnh hưởng lớn đến sự phát triển của đất nước;
Vấn đề đặc biệt quan trọng khác của đất nước.
Trả lời cho việc tại sao một số điều quan trọng như là quyền con người, quyền công dân, về bảo vệ chủ quyền lãnh thổ quốc gia, về chiến tranh và hòa bình mà lại không được tổ chức trưng cầu ý dân. Ông chủ nhiệm ủy ban Pháp luật Phan Trung Lý bao biện rằng những điều đó đã bao hàm trong hiến pháp nên không cần quy định chi tiết và một số điều đòi hỏi chuyên môn sâu mới có thể cho ý kiến, và chỉ tổ chức trưng cầu những vấn đề đặc biệt quan trọng thôi. Câu hỏi đặt ra ở đây là đâu là những vấn đề đặc biệt quan trọng của đất nước? Nếu những điều khoản trong Hiến pháp mà đã bị coi là phạm vi rộng lớn đồng thời yêu cầu kiến thức chuyên môn sâu mới có thể cho ý kiến, thì toàn văn bản lại không khó lòng đánh giá hơn hay sao?
Ở đây ta có thể nêu ra một vài ví dụ mà luật nên nêu ra cách cụ thể. Chẳng hạn như tư cách và vị trí và vai trò của đảng Cộng Sản. Người dân được quyền chất vấn liệu điều 4 Hiến pháp có hợp lòng dân hay không? Hay các điều luật như 79, 88, 258 BLHS có phải là những luật vi hiến hay không? Quyền con người và quyền công dân có bị các điều luật trên xâm phạm hay không?
Về các vấn đề liên quan đến chủ quyền lãnh thổ, đường lối quân sự quốc phòng, đối nội đối ngoại, thì người dân được tham gia ý kiến tới mức nào. Ở mức độ nào thì người dân được tham gia vào việc hoạch định chính sách công. Nhìn ra bên ngoài ta thấy người dân được tham gia rất sâu sát vào việc ra quyết định của các nhà lãnh đạo. Chẳng hạn người dân Nhật Bản được tham khảo ý kiến về việc thay đổi đường lối đối ngoại và quốc phòng của chính phủ.
Hay như gần đây Hy Lạp tổ chức trưng cầu dân ý về tư cách thành viên Liên Minh Châu Âu của nước mình. Những điều này có phải là nhỏ nhặt và không đáng để lấy ý kiến người dân?
Giới hạn quyền tham gia trưng cầu
Luật trưng cầu ý dân 2015 vẫn chưa thể hiện rõ làm cách nào để thể hiện những vấn đề được đưa ra thăm dò là phù hợp với nguyện vọng của nhân dân. Bởi vì chỉ có ủy ban thường vụ quốc hội, chủ tịch nước, chính phủ hoặc hơn 1/3 tổng số các đại biểu quốc hội mới được đề nghị Ủy ban thường vụ Quốc hội xem xét, quyết định tổ chức trưng cầu ý dân. Ở nhiều nước, người dân được trực tiếp yêu cầu tổ chức trưng cầu dân ý. Chẳng hạn như ở Thụy Sĩ, cá nhân hay tổ chức có thể được chấp nhận cho tổ chức trưng cầu ý dân nếu quy tụ được 100.000 người kí tên. Hay ở Italia, nếu bạn gom đủ 500.000 chữ kí thì vấn đề bạn kiến nghị sẽ được đưa ra thăm dò ý kiến toàn thể người dân.
Do đó, với việc hạn chế đối tượng được tổ chức trưng cầu dân ý là phớt lờ ý nguyện và quyền lợi của quảng đại quần chúng. Cần nói thêm là người Việt Nam ở hải ngoại cũng không được tham gia trưng cầu ý dân.
Sự minh bạch của cuộc trưng cầu?
Luật trưng cầu ý dân quy định “Quốc hội, các cơ quan của Quốc hội, Đoàn đại biểu Quốc hội, đại biểu Quốc hội, Hội đồng nhân dân, Thường trực Hội đồng nhân dân, Ban của Hội đồng nhân dân, Tổ đại biểu Hội đồng nhân dân, đại biểu Hội đồng nhân dân trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình giám sát việc tổ chức trưng cầu ý dân.” Còn việc kiểm phiếu là thuộc thẩm quyền của Mặt Trận Tổ Quốc Việt Nam – là tổ chức của Đảng Cộng Sản. Như vậy người dân vẫn không được thực hiện quyền giám sát, kiểm tra tiến trình và kết quả trưng cầu. Do đó, nghi ngờ về sự minh bạch và công bằng của cuộc trưng cầu cũng là rất hợp lý.
Lần lữa mãi thì bây giờ Luật Trưng Cầu Ý Dân cũng đã được công bố nhưng luật đó có thể mang lại điều gì cho tiến trình dân chủ thì chúng ta hãy cứ chờ xem.
GNsP(21.11.2015) – Xuất thân là một thầy giáo phổ thông, rồi giảng viên đại học, rồi viết về những vấn đề chính trị xã hội, tôi rất quan tâm đến cuộc tranh luận quyết liệt về xử lý môn học Lịch sử hiện nay.
Phía cơ quan chủ quản tức Bộ Giáo dục thì bảo vệ cho quan điểm cần “tích hợp” môn Lịch sử chung với 2 môn khác thành môn học “Công dân và Tổ quốc”, trong khi hầu hết các trí thức trong nước, ngoài bộ phận chủ quản nói trên, đều nói rằng làm như vậy thì “Thực chất là xoá bỏ môn Lịch sử trong nền giáo dục phổ thông” , đây “là một việc làm không đúng, cần phải kiên quyết loại bỏ. Phải nghiên cứu lại một cách nghiêm túc với sự tham gia trực tiếp của các nhà khoa học”, “chương trình này sẽ dẫn đến hệ lụy làm “teo” môn lịch sử trong trường phổ thông, lớp trẻ không còn biết sự hy sinh của các bậc tổ tiên để có đất nước như ngày hôm nay”…(1)
1/ Ý kiến đã nhiều nhưng nỗi lo chưa hết
Trên công luận thì ý kiến trái chiều với Bộ Giáo dục tỏ ra áp đảo, nhưng đừng vội mừng, kinh nghiệm cho biết trong cơ chế vận hành hiện nay những ý kiến “trái chiều” dù có tình có lý rõ ràng, dù có lợi cho dân cho nước cũng “không là cái đinh gì” khi “Trên” đã quyết định, khi đã là chủ trương lớn của ĐCSVN, (và người ta có lý do để nghi ngờ, nếu điều này có bàn tay của Trung quốc thì thật khó thoát ra như cái gông 16 chữ vàng rất êm ả mà tai quái). Vậy tuy đã có rất nhiều lời phân tích xác đáng song mối lo ngại bị “teo” dần môn Sử Việt vẫn không được phép nguôi ngoai, cho tới khi nào nguyện vọng chính đáng của nhân dân, mà đại diện là giới trí thức độc lập, được thành hiện thực.
2/ Ý nghĩa đặc biệt của môn Sử Việt và môn Sử Đảng:
Ý nghĩa chung thì đã rõ, mỗi dân tộc đều “lớn lên thành người” theo một quá trình riêng của dân tộc mình, quên cái quá khứ cụ thể ấy là lấy đi cái nền phát sinh sinh của con người, thì dân tộc ấy như người bị chặt cụt 2 chân, chỉ ngồi trên xe lăn để người ta đưa đẩy đi đâu cũng được. Không còn biết mình là ai thì mất hết sức mạnh tự thân.
Không ít người ngộ nhận, tưởng đang cùng thế giới chia sẻ những giá trị văn minh kỹ thuật hiện đại như nhau thì có nghĩa mọi dân tộc đã ngang hàng với nhau. Thực ra, cái tầm vóc NGƯỜI , đẳng cấp NGƯỜI tức cái hồn NGƯỜI bên trong vẫn có thể khác nhau nhiều lắm. Tầm vóc NGƯỜI là kết quả được tạo ra từ một quá trình lịch sử lâu dài và gắn chặt với một cộng đồng xác định gọi là Dân tộc.
Vậy trong trường hợp cộng đồng dân tộc Việt Nam, đặc điểm lịch sử quan trọng nhất là gì?
– Trong QUÁ KHỨ , VN là một dân tộc thuần hậu, đã còn nhiều lạc hậu lại phải sống cạnh một nước láng giềng khổng lồ đầy tham vọng và thâm hiểm. Nhưng dù có nền văn hóa rất gần nhau mà sau 1000 năm đô hộ, kẻ khổng lồ gian ác vẫn không đồng hóa được nước nhò này, giang sơn gấm vóc Việt Nam vẫn nguyên vẹn. Lịch sử Việt Nam ( gọi tắt là Sử Việt để phân biệt với môn Sử Đảng) chủ yếu là Lịch sử chống xâm lược Tàu, qua đó khẳng định một Dân tộc có sức sống và khả năng thích nghi mãnh liệt.
– Nhưng trong Lịch sử HIỆN TẠI tức mấy chục năm gần đây Việt Nam gặp một bước ngoặt bất ngờ. Kẻ thù cũ có dịp quay trở lại, nhờ tận dụng được một cơ hội mới quý như vàng, đó là Ảo tưởng Cộng sản đã nhốt chung con sói và bày hươu vào chung một chuồng, cái chuồng sơn son rất đẹp có tên “đại gia đình Xã hội chủ nghĩa, bốn phương Vô sản đều là anh em”.
Đã là XHCN thì mọi việc cứ do hai ĐCS ngồi với nhau quyết định, trong đó thế bất lợi luôn thuộc về cái ĐCS nhỏ và chịu ơn. Còn nhân dân bị trị thì bị nền CS toàn trị tước hết mọi vũ khí tinh thần và vật chất và khóa chặt, không còn điều kiện tối thiểu để tự đứng lên làm một sự nghiệp gì. Sự hỗ trợ quốc tế thì bị hạn chế tối đa bởi chủ trương chỉ đối thoại song phương, không chấp nhận nước thứ ba can dự và trì hoãn việc kiện ra Liên hiệp quốc. Nước nhỏ mà thực hiện ba điều ấy thì khác nào tạo “điều kiện cần và đủ để cho địch nhất định thắng-ta nhất định thua” như dọn cỗ cho kẻ xâm lược. Giai đoạn Lịch sử ngắn ngủi này là thời gian của Sử Đảng, tuy được viết rất hùng tráng song chính là giai đoạn làm cho Việt Nam chịu ơn Trung quốc, thất thế trước Bành trướng Đại Hán và rước họ trở lại.
Nay trước vận nước lâm nguy, đúng lúc phải tăng cường Sử Việt để sống lại tinh thần Thoát Trung, và sửa những sai lầm của giai đoạn Sử Đảng đã giúp Đại Hán cơ hội trở lại thì giới cầm quyền Việt Nam đã khéo léo làm toàn những điều ngược lại: lấy cớ “giảm tải cho học sinh” để giảm dần Sử Việt truyền thống, đồng thời tăng cường môn Sử Đảng bằng mọi phương tiện, thử hỏi như vậy thì có lợi cho giặc hay có lợi cho dân tộc ta? Nếu có một tên Thái thú Tàu thì nó cũng chỉ mong làm được như vậy.
Còn nhớ hồi ông Lê Khả Khiêu đang làm Tổng Bí thư, có đoàn đại biểu Trung quốc sang thăm, trao đổi về những vấn đề lý luận. Phía Việt Nam nói ĐCS Trung quốc đảm nhiệm phần lý luận, VN chỉ nhiều kinh nghiệm thực hành. Phía Trung quốc nói VN cần sửa lại Lịch sử của mình !
Theo ý Trung Quốc, Việt Nam chỉ là “đứa con hoang” cần trở về với mẹ thì những trang sử oanh liệt chống ngoại xâm của Lê Lợi, Hưng Đạo, Quang Trung…chẳng qua chỉ còn là những vụ phản loạn của địa phương, như bọn giặc có nổi lên chống lại chính quyền Trung ương chứ có gì khác?
Dã tâm gian ác của giặc Bành trướng Đại Hán đã nằm trong gien của họ, đấy là việc của họ. Nhưng những người cùng được mang dòng máu Việt của những anh hùng cứu quốc trong Sử Việt mà nay bị cái “đại cục Ý thức hệ đầy lợi quyền lừa đảo” cuốn đi, cúi mặt làm tay sai, làm nhục tổ tiên thì sao mà tha cho được? Họ chỉ lo cho Đại Hán khi thấy tâm lý người Việt ghét xâm lược Tàu, họ hứa với Tàu sẽ đàn áp những cuộc biểu tình yêu nước, họ hứa sẽ sửa những trang lịch sử oanh liệt chống giặc Tàu…Chương trình “tích hợp” môn lịch sử kiểu này khác nào tiếp tục triển khai mật ước phục vụ ý đồ của giặc xâm lăng? Liệu có oan không, khi nhớ rằng ông Bộ trưởng bảo vệ cái đề án xóa nhòa môn Sử Việt này cũng chính là người mấy năm trước đã ra lệnh cấm học sinh sinh viên tham gia biểu tình yêu nước đấy! Chẳng có gì là ngẫu nhiên cả.
3/ Tích hợp thành môn “Công dân và Tổ quốc” gây hiệu quả tốt hay xấu?
– Tích hợp kiểu này, môn Sử Việt sẽ bị phá nát
Có sự tích hợp là tốt, có sự tích hợp là xấu, tùy theo tính chất và tương tác của các môn hợp phần. TS Vũ Thị Phương Anh cho biết khi giảng về chủ đề “người dân tộc thiểu số ở VN“, trong đó tích hợp luôn cả lịch sử, cả địa lý, và cả văn hóa vào nữa. Đó là ví dụ về sự tích hợp tốt làm tăng hiệu quả. Sự tích hợp có nhiều mức độ, có khi chỉ cần bổ sung hay minh họa bằng những bài đọc thêm kẻm theo bài chính.
Nhưng sự tích hợp môn Sử Việt với hai môn Giáo dục công dân và An ninh quốc phòng cho ta ví dụ ngược lại, nó sẽ “phá nát” môn Sử Việt (như lời GS Đỗ Thanh Bình – nguyên Chủ nhiệm khoa Lịch sử, Trường ĐH Sư phạm Hà Nội). Bản thân môn Lịch sử (Sử Việt) với tư cách là một khoa học và ổn định, nhưng hiện nay đã bị nhiễm “tính Đảng”, bị chính trị hóa khá nhiều rồi (và đó là một nguyên nhân khiến môn Lịch sử bị áp đặt và khô khan), đã thế bây giờ lại ghép vào hai môn Giáo dục công dân và An ninh quốc phòng là hai môn gắn chặt với thể chế chính trị trước mắt, chứa đầy “đảng tính” là yếu tố chính trị nhất thời, thì Lịch sử sẽ bị băm nát và biến tính ra sao, thiết nghĩ có thể biết trước.
Nếu chỉ vì tâm lý học sinh chán môn Sử mà phải tinh giảm thì còn đâu là chuẩn mực sư phạm? Lỗi không ở học sinh, không ở bản thân môn học, mà ở nội dung áp đặt chủ quan vô lý và người truyền đạt vô hồn.
– Vướng ngay từ cái tên môn học
Việc “tích hợp” môn Sử Việt này vào một môn chung bị vướng ngay từ cái tên của môn chung đó: Công dân và Tổ quốc! Tổ quốc tên là gì vậy? Người dân Việt nào cũng hiểu đây là Tổ quốc Việt Nam, thế thôi. Nhưng xin thưa không phải thế, ĐCSVN đã đổi tên chính thức cho Tổ quốc là Tổ quốc Việt Nam Xã hội chủ nghĩa, nhiều khi chỉ gọi tắt là Tổ quốc Xã hội chủ nghĩa. Tổ quốc có kèm một tính ngữ để định hướng, để đừng lầm với cái Tổ quốc cổ truyền. Tổ quốc cũng phải mang “tính Đảng”, phải chính trị hóa.
“Vượt lên trên mọi sự tranh giành giai cấp, vượt qua mọi thể chế, Tổ quốc chúng ta bao giờ cũng là Tỏ quốc Việt Nam thôi! Ta gọi những đồng bào ta ở nước ngoài muốn đem sức người sức của về xây dựng đất nước là ‘Việt kiều yêu nước’ nhưng họ có yêu Chủ nghĩa Xã hội đâu? Nếu ta chuyển cả Tổ quốc thành ‘Tổ quốc Xã hội chủ nghĩa’ thì những đồng bào yêu nước ấy còn đâu nước để mà yêu? Tôi tin rằng sẽ có ngày chúng ta làm lễ trả lại ‘tên khai sinh’ cho Tổ quốc là Tổ quốc Việt Nam, thì sức mạnh của Người sễ tăng lên gấp bội, những con dân nước Việt sẽ rưng rưng nước mắt, nắm chặt lấy tay nhau mà reo hò.”
– Phẩm chất người thày quyết định hiệu quả môn học
Tổng số tiết dạy tất nhiên là một yếu tố quan trọng nhưng nội dung giảng dạy và phẩm chất người thày quan trọng hơn nhiều. Nội dung môn học thì đã như trên phân tích. Phẩm chất người thày thì sao? Bên cạnh phương pháp, kỹ năng truyền đạt thì quan điểm, tư tưởng, nhiệt tâm và nhân cách của người thày là yếu tố quyết định. Người thày hiện nay ra sao, họ phải là những “cán bộ giáo dục của Đảng”, phẩm chất đầu tiên là không được có ý kiến khác với Đảng, nếu có sẽ bị loại trừ ngay. Nhà trường là nơi bị quản lý chính trị rất chặt, trong những trí thức có tư tưởng dân chủ tiến bộ, dám lên tiếng phản biện lâu nay hỏi có được mấy người là các nhà giáo? Các nhà giáo bị nhiễm độc CS (một cách tự nguyện hay bắt buộc) lại đứng trên bục, giảng cái gọi là môn Lịch sữ đã “tích hợp” bị nhiễm độc nặng nề thì nạn nhân là những người bị nuốt những thức ăn tinh thần độc hại đó là những con em chúng ta, những chủ nhân tương lai của đất nước sẽ bị nhiễm độc hàng loạt, sẽ chết từ từ cả về trí tuệ và tâm hồn, đến lượt họ lại thành những người thày đi gieo chất độc thì xã hội chỉ còn là con thuyền lạc bến, buông trôi theo mật ước Thành Đô.
***
Để dứt lời, xin các thầy giáo cô giáo, những đồng nghiệp của tôi miễn thứ cho tôi nếu có những lời làm quá đau lòng đồng nghiệp trước cái “đại cục” nhức nhối cho tương lai của giống nòi mình. Nhưng cũng thật mừng trong cuộc tranh luận về môn Sử Việt này, nhiều thầy giáo cô giáo đã không thể im lặng, đã lên tiếng phản biện quyết liệt. Thương trò, thương mình và thương Dân tộc. Xin trích lời của Phó Gíáo Sư Vũ Quang Hiển (Khoa Lịch sử, Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội) làm một ví dụ:
“ Cắt ghép và xuyên tạc lịch sử vốn là cách làm của những người muốn bôi nhọ lịch sử dân tộc và nhân loại. Ngày càng có nhiều công bố trên phương tiện thông tin đại chúng làm lung lạc tinh thần thế hệ trẻ Việt Nam bằng cách lắp ghép và xuyên tạc lịch sử theo một logic chủ quan đã định trước, nhưng lại núp bóng “cách nhìn mới” về lịch sử. Vì vậy, việc giáo dục lịch sử thiếu tính hệ thống và toàn diện sẽ đặt thế hệ trẻ Việt Nam đứng trước hiểm họa thấy rõ.”
Đề nghị không giữ môn Lịch sử “độc lập” và “bắt buộc” phải học đối với học sinh của Bộ Giáo dục và Đào tạo (GD&ĐT) đã bị các nhà Giáo dục hàng đầu Việt Nam lên án có chủ tâm tiến đến “xoá bỏ môn Lịch sử trong nền giáo dục phổ thông" .
Cuộc tranh luận từ ngoài xã hội đến Quốc hội được tập trung vào Dự thảo “Chương trình giáo dục phổ thông tổng thể” , sau 3 năm nghiên cứu và thu nhận ý kiến của Bộ GD&ĐT.
Theo đề nghị này thì môn học Lịch sử từ bậc Tiểu học (từ lớp 1 đến 5) lên Trung học cơ sở (từ lớp 6 đến lớp 9) rồi qua Trung học Phổ thông (từ 10 đến 12) được tuần tự biến dạng từ "Cuộc sống quanh ta" đến "Tìm hiểu xã hội" sang "Khoa học xã hội" và sau cùng gọi là "Công dân với Tổ quốc", theo lời Gíao sư Phan Huy Lê, Chủ tịch Hội Khoa học Lịch sử Việt Nam (HKHLSVN).
Nhưng trong ruột của môn mới “Công dân với Tổ quốc” của Dự thảo, Bộ GD&ĐT lại lồng ghép môn Lịch sử với hai môn học có từ trước không ăn nhậu gì với nhau là “Giáo dục công dân” và “An ninh quốc phòng”
Các nhà sọan thảo của Bộ giáo dục gọi cách tập trung hổ lốn này là “tích hợp” với các môn khác nhưng Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo Phạm Vũ Luận lại khoe với Quốc hội hôm 16/11 (2015) rằng tuy tích hợp nhưng môn Lịch sử “không bị coi nhẹ và tôi khẳng định được coi trọng hơn so với chương trình hiện hành”.
Tuy nhiên khi bị Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Sinh Hùng vặn hỏi muốn ông “nêu quan điểm của mình về việc nên để môn Lịch sử là môn tích hợp hay độc lập”, thì ông Luận tỏ ra lúng túng và cho biết: “Ban soạn thảo lắng nghe ý kiến người dân sẽ có báo cáo với Ban Tuyên giáo trung ương, Hội đồng lý luận Trung ương, Ủy ban Văn hóa Giáo dục Thanh niên Thiếu niên Nhi đồng của Quốc hội và các hiệp hội.”
Rõ là chuyện nói vuốt đuôi cho xuôi buồm thuận gió. Khi sọan thảo Chương trình giáo dục phổ thông tổng thể , Bộ GD&ĐT không hề hỏi ý kiến Hội Khoa học Lịch sử Việt Nam; chưa hề tổ chức thảo luận rộng rãi với các nhà giáo, thầy cô dạy môn sử, nhân dân hay với Mặt trận Tổ quốc là nơi quy tụ cả trăm Tổ chức nghề nghiệp, xã hội và chính trị.
Đến khi bị tứ phía chỉ trích, tạt nước lạnh vào mặt thì ông Luận mới “lắng nghe”, mới cầu thị nhưng vẫn phải tâu lại với Ban Tuyên giáo Trung ương và Hội đồng lý luận Trung ương xin ý kiến những ông bà chuyên nghề “lý luận Mác-Lênin” bảo thủ, giáo điều, chậm tiến và lạc hậu thì ông chưa mất chức hãy còn may !
TIẾNG NÓI CHUYÊN MÔN
Nhưng Tổ tiên người Việt từng có câu “họa vô đơn chí”. Các nhà giáo, chuyên gia lịch sử hàng đầu Việt Nam trong Hội Khoa học Lịch sử Việt Nam (HKHLSVN) và một số Đại biểu Quốc hội, trong đó có ông Dương Ttrung Quốc (đơn vị Đồng Nai), Nhà sử học, Tổng thư ký HKHLSVN cũng nghi ngại đối với đề án coi nhẹ môn Lịch sử vào lúc lãnh thổ và chủ quyền biền đảo của Việt Nam đang bị Trung Quốc đe dọa.
Giáo sư Phan Huy Lê nói : “ Thông tin nói trên đã làm xã hội kinh ngạc vì nếu môn Sử bị xoá sổ sẽ gây hậu quả to lớn. Một thế hệ trẻ sẽ lớn lên, trở thành công dân chỉ biết lờ mờ, thậm chí biết sai về lịch sử dân tộc, không biết cội nguồn tổ tiên, những thành tựu dựng nước và giữ nước của cha ông.
Trên thế giới, hầu hết nước văn minh xem Lịch sử là môn cơ bản và bắt buộc trong nền giáo dục quốc dân. Với yêu cầu của giáo dục phổ thông, môn học nào cũng quan trọng, nhưng xét về chức năng giáo dục thì các môn quốc ngữ, quốc văn, quốc sử và toán học là cơ bản nhất, hay còn gọi là cốt yếu, cốt lõi nhất và đều mang tính bắt buộc" (Trích từ hội thảo “Môn lịch sử trong giáo dục phổ thông” do Hội Khoa học Lịch sử Việt Nam tổ chức ngày 15-11 ở Hà Nội)
Giáo Sư Trần Thị Vinh (Khoa Sử, Đại học Sư phạm Hà Nội) giải thích, theo tường thuật của báo chí Việt Nam :“Ba môn Giáo dục đạo đức, Lịch sử, Giáo dục quốc phòng - An ninh có đối tượng, mục tiêu, nội dung, phương pháp giảng dạy khác nhau. Lịch sử là môn khoa học cơ bản giúp học sinh thông hiểu kiến thức lịch sử cốt lõi của nhân loại, dân tộc. Đối tượng là toàn bộ tiến trình phát triển của nhân loại, khu vực, dân tộc. Còn mục tiêu của môn Quốc phòng an ninh là đảm bảo cho học sinh có hiểu biết ban đầu về quốc phòng, an ninh nhân dân, mang tính thực hành cao do tính chất rèn luyện kỹ thuật, chiến thuật. Còn môn Đạo đức là giáo dục những giá trị đạo đức truyền thống, ý thức tuân thủ pháp luật, trách nhiệm, nghĩa vụ công dân...”
Theo Nghị định 116/NĐ-CP ngày 10/07/2007 thì các đối tượng của giáo dục quốc phòng - an ninh gồm :” Học sinh, sinh viên Việt Nam trong các trường trung học phổ thông, trung cấp chuyên nghiệp, trung cấp nghề, cao đẳng, cao đẳng nghề và đại học (sau đây gọi là trung học phổ thông đến đại học), học viên các trư¬ờng thuộc cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội (sau đây gọi là các trường chính trị, hành chính, đoàn thể); bồi dư¬ỡng kiến thức quốc phòng - an ninh cho cán bộ đảng viên, công chức các cấp, các ngành…”
Các thành phần này được học về: “Truyền thống chống giặc ngoại xâm, tinh thần yêu nước, lòng tự hào, tự tôn dân tộc; đư¬ờng lối, quan điểm cơ bản của Đảng, Nhà nước về quốc phòng, an ninh; công tác quốc phòng, an ninh của Đảng và Nhà nư¬ớc; các văn bản pháp luật về quốc phòng, an ninh; phổ cập những kiến thức cần thiết về lực lư¬ợng vũ trang nhân dân; nghệ thuật quân sự Việt Nam; phòng, chống chiến lược "Diễn biến hoà bình", bạo loạn lật đổ của các thế lực thù địch đối với cách mạng Việt Nam; kiến thức cơ bản cần thiết về kỹ thuật, chiến thuật quân sự, phòng thủ dân sự.”
Như vậy rõ ràng môn Lịch sử, khi được lồng chung với Quốc phòng-an ninh thì không còn gía trị chính chuyên nữa.
Vì vậy, Phó Gíao Sư Vũ Quang Hiển (Khoa Lịch sử, Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội) mới lên án: “ Cắt ghép và xuyên tạc lịch sử vốn là cách làm của những người muốn bôi nhọ lịch sử dân tộc và nhân loại. Ngày càng có nhiều công bố trên phương tiện thông tin đại chúng làm lung lạc tinh thần thế hệ trẻ Việt Nam bằng cách lắp ghép và xuyên tạc lịch sử theo một logic chủ quan đã định trước, nhưng lại núp bóng "cách nhìn mới" về lịch sử. Vì vậy, việc giáo dục lịch sử thiếu tính hệ thống và toàn diện sẽ đặt thế hệ trẻ Việt Nam đứng trước hiểm họa thấy rõ.”
Trong khi đó, Nhà sử học, Đại biểu Quốc hội Dương Trung Quốc đã công khai hoài nghị:“Bộ GD&ĐT luôn lập luận không bỏ môn Lịch sử nhưng theo tôi, đó chỉ là cách nói và chúng tôi rất nghi ngờ”. (báo Người Lao Động, 8/11/2015)
Giáo Sư Vũ Dương Ninh, ĐHQG Hà Nội, cũng lo lắng: “ Đúng là từ trước đến nay, chưa bao giờ Bộ GD-ĐT có một văn bản, một chỉ thị nào coi nhẹ môn lịch sử hoặc loại bỏ môn sử nhưng thực tế hoàn toàn khác. Vị trí của môn sử và vài môn khác đã bị đẩy lùi dần và đến nay thì mất tên chính danh trong chương trình THPT. Nó bị lẫn vào môn khoa học xã hội (tự chọn) trong chương trình cho học sinh theo phân ban khoa học tự nhiên, chỉ còn là môn chính thức đối với học sinh chọn ban khoa học xã hội. Có nghĩa là lớp trí thức trẻ tương lai, ngoại trừ số ít chọn ngành khoa học xã hội, sẽ không hiểu hoặc hiểu biết lơ mơ về lịch sử của dân tộc mình, đất nước mình.”
Thiếu tướng Nguyễn Thiện Minh (Vụ trưởng Giáo dục Quốc phòng, Bộ Giáo dục và Đào tạo), theo báo chí Việt Nam, cho rằng: “ Vị trí của môn Lịch sử trong đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục phải được đặt đúng tầm quan trọng của nó. Đó là môn học cốt lõi nhất trong các môn học cốt lõi, phải được hệ thống lại, bổ sung cho đủ nội dung, không thể lồng ghép vào một môn học khác.”
Ông nói: "Nếu không coi trọng lịch sử, chúng ta sẽ nhận lại hệ luỵ không thể lường trước cho chính chế độ, an nguy của đất nước."
Gọi dự thảo của Bộ GD&ĐT là “ép duyên”, chắp vá, thiếu cơ sở khoa học”, GS Đỗ Thanh Bình, Trường ĐH Sư phạm Hà Nội, cho rằng: “ Có những vấn đề đặt ra mà những người làm chương trình phải tính toán lại, đừng chỉ vì cố hoàn thành dự án mà để lại hậu quả, sẽ tác động không tốt tới xã hội. Trước hết, chương trình này sẽ dẫn đến hệ lụy làm “teo” môn lịch sử trong trường phổ thông, lớp trẻ không còn biết sự hy sinh của các bậc tổ tiên để có đất nước như ngày nay. Chương trình vừa mới “thai nghén” đã gặp phải nhiều ý kiến tâm huyết trái chiều, liệu khi hoàn thành, đưa vào thực tiễn thì “tuổi thọ” của nó có được lâu dài? Giáo dục không thể là nơi thí nghiệm.”
Vậy ai, hoặc những ai là Tác gỉa của quyết định liều lĩnh cố ý làm lu mờ môn Lịch sử dân tộc ?
CHỦ QUYỀN HÒANG-TRƯỜNG SA ĐÂU ?
Cũng rất kinh ngạc khi nghe Giáo sư Phan Huy Lê cho biết: “ Trong sách Giáo Khoa lịch sử, địa lý đang lưu hành hoàn toàn chưa đề cập lịch sử xác lập, thực thi và đấu tranh bảo vệ chủ quyền với 2 quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa. Hội nghị khẩn thiết đề nghị Bộ GD-ĐT bổ sung ngay nội dung về chủ quyền của Việt Nam với 2 quần đảo này, không thể chờ đợi đến khi biên soạn lại SGK - phải vài ba năm sau mới hoàn thành.”
Đề nghị bổ sung sách Lịch sử của HKHLSVN để xác nhận chủ quyền của Việt Nam trên Hòang Sa và Trường Sa và cuộc chiến chống quân Khmer đỏ ở Tây Nam (miền Nam) đã được đặt ra từ năm 2012, nhưng Bộ Giáo dục vẫn tai điếc thì không biết lỗi tại ai và lệnh không làm đến từ đâu ?
Nhưng nếu là quyết định của Bộ Chính trị thì hành động này phải bị lên án và Quốc hội phải có nhiệm vụ điều tra để trả lời cho dân biết.
Bằng chứng làm ngơ chủ quyền ở Biển Đông của đảng Cộng sản Việt Nam không mới. Tuy vẫn ra rả nói Hòang Sa-Trường sa là của Việt Nam, nhưng hành động thì ngược lại, và được chứng minh trong sách “Những sự kiện Lịch sử Việt Nam-1975-2000” của Viện sử học-Viện Khoa học Xã hội VN.
Cuốn sách do Nhà xuất bản Giáo dục in phổ biến đã không ghi một chữ nào về Trận chiến xâm lược của quân đội Trung Quốc đã chiếm 7 bãi đá ngầm ở Trường Sa ngày 14/03/1988.
Trong khi ấy thì tài liệu của Bách khoa Tòan thư (mở) viết: “Hải chiến Trường Sa 1988 là tên gọi của cuộc chiến trên biển Đông năm 1988 khi Hải quân Quân giải phóng Nhân dân Trung Hoa đưa quân chiếm đóng bãi đáCô Lin, bãi đá Len Đao và bãi đá Gạc Ma thuộc quần đảo Trường Sa. Do ba bãi đá này không có quân đội đồn trú nên Hải quân Nhân dân Việt Nam phải đưa quân ra bảo vệ, đánh trả và cuộc chiến nổ ra vào ngày 14 tháng 3 năm 1988. Phía Việt Nam mất ba tàu vận tải của hải quân Việt Nam, 64 thủy binh Việt Nam đã thiệt mạng. Trung Quốc bị hư hại tàu chiến, thương vong 24 thủy binh. Kể từ đó Trung Quốc đã chiếm đóng bãi đá Gạc Ma và hai nước cùng cho hải quân ra đóng giữ một số đá ngầm khác mà hai bên cùng tuyên bố chủ quyền.
Trong các tài liệu của Hải Quân Việt Nam, sự kiện này được biết đến với tên gọi CQ-88 (Chủ quyền-88).”
Về cuộc chiến ở Hòang Sa giữa Quân đội Việt Nam Cộng hòa và quân Trung Quốc tháng 1/1974 thì sách này chỉ viết vắn tắt: “Ngày 19 tháng Một-1974, Trung Quốc cho hải quân tiến đánh quân ngụy Sài Gòn và chiếm quần đảo Hòang Sa. Ngày 20 tháng Một-1974, Trung Quốc cho máy bay nèm bom xuống ba đảo Hữu Nhật, Quang Anh và Hòang Sa, sau đó quân Trung Quốc đánh chiếm phần phía tây của quần đảo Hòang Sa. Đồng thời Bội Ngọai giao Trung Quốc ra tuyên bố về tình hình quần đảo Hòang Sa để biện hộ hành động của họ.
Đại diện chính quyền Sài Gòn tại Liên Hiệp Quốc gửi Công hàm thông báo hành động xâm phạm chủ quyền Việt Nam của Trung Quốc tại Hòang Sa cho Hội đồng Bảo an và Tổng Thư ký Liện hợp quốc. Chính quyền Sài Gòn thông báo tình hình Trường Sa cho các bên Định ước Pari và các nước khác trên thế giới.”
Có 74 chiến sỹ Việt Nam Cộng hòa đã hy sinh tại cuộc chiến này, nhưng cuốn sách không nói gì đến họ, coi như họ không phải là “người Việt của phe mình” !
Vì vậy mà dù đã có nhiều tầng lớp nhân dân, Trí thức và cựu đảng viên công khai xuống đường biểu dương và ghi ơn 74 lính VNCH, nhà nước vẫn lờ đi và còn không cho tổ chức truy điệu 64 chiến sỹ đã hy sinh ở Trường Sa vì sợ mất lòng Trung Quốc.
Bách khoa Tòan thư (mở) viết: “Báo chí Việt Nam Dân chủ Cộng hòa không đề cập gì đến việc Trung Quốc cưỡng chiếm Hoàng Sa . Nhà sử học Nguyễn Đình Đầu nhận định về phản ứng của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa trước việc Trung Quốc chiếm Hoàng Sa: "Một điều lạ, là trong khi dư luận phản ứng như thế ở miền Nam, mà Việt Nam Dân chủ Cộng hòa không có phản ứng gì.”
Cho đến bây giờ, 41 năm sau trận Hòang Sa, và 27 năm sau trận Trường Sa, nhà nước Cộng hoà Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam (hậu thân của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa) vẫn chưa dám in sách Sử để xác nhận chủ quyền lãnh thổ ở Hòang Sa và Trường Sa là một nghi vấn sợ hãi Trung Quốc sẽ lật ngửa quân bài nhìn nhận chủ quyền của Trung Hoa trên 2 quầo đào này trong Công hàm của Thủ tướng Phạm Văn Đồng gửi Thủ tướng Chu Ân Lai năm 1958.
Một điều ngạo ngược khác của Dự thảo “Chương trình giáo dục phổ thông tổng thể” là khi cố tình làm lu mở môn học Lịch sử Dân tộc thì Bộ Giáo dục lại ca tụng Chủ nghĩa ngọai lai Mác-Lênin.
Dự thảo viết: “Nội dung giáo dục phổ thông bảo đảm tinh giản, hiện đại, thiết thực, thực hành, vận dụng kiến thức vào thực tiễn, phù hợp với đặc điểm tâm – sinh lý lứa tuổi học sinh; giáo dục nhân cách, đạo đức, văn hoá pháp luật và ý thức công dân; tập trung vào những giá trị cơ bản của văn hoá, truyền thống và đạo lý dân tộc, tinh hoa văn hoá nhân loại, giá trị cốt lõi và nhân văn của chủ nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh.”
Vậy giá trị cốt lõi và nhân văn của những trang sử oai hùng Việt Nam trong công cuộc giữ nước và dựng nước từ thời Hồng Bàng đến nay đã bị Bộ GD&ĐT cất ở xó nào ?
Lịch sử cũng có mắt và bất diệt đấy. Không ai có thể bóp méo và xuyên tạc để mất gốc được đâu. -/-
*Tại sao các báo chính thống và hai Cổng Thông tin của Đảng và Chính phủ không đăng lời phản bác của Lê Hải Bình ?
Lãnh đạo đảng và nhà nước Cộng sản Việt Nam chỉ đánh võ gió đã đành, nhưng cả Quốc hội đại biểu của dân cũng ù ù cạc cạc trước những lời đường mật của Tổng bí thư, Chủ tịch nhà nước Trung Hoa Tập Cận Bình sau 2 ngày thăm Việt Nam thì nước chưa mất là điều may.
Sự kiện này thể hiện qua miệng lưỡi trịch thượng của Tập trong 6 lần phát biểu: Tại sân bay Nội Bài khi đến; bài viết ngắn đăng trên báo Nhân Dân của Việt Nam và đối đáp với 4 Lãnh đạo chóp bu đảng CSVN gồm Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng, Chủ tịch nước Trương Tấn Sang, Chủ tịch Quốc Hội Nguyễn Sinh Hùng và Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng.
Ngôn ngữ của phiá chủ nhà Việt Nam tòan là “đề nghị” và “biết ơn” trong khi họ Tập lại lên lớp “ hai bên cần kiên trì, lấy đại cục quan hệ hai nước làm trọng”; dậy khôn:”Chữ tín là nền tảng để làm bạn…Khi đại sự được coi trọng thì tiểu sự sẽ không khó giải quyết.”
Rồi tự khoe trước Quốc hội Việt Nam: “ Dân tộc Trung Hoa từ trước đến nay đều yêu hòa bình, cái gen “ hòa” của dân tộc từ trước tới nay đều không thay đổi, “ hòa” trong văn hóa được bảo lưu trường tồn, mãi mãi….”
Họ Tập còn nhắc đi nhắc lại nhiều lần với Việt Nam phải: “Kiên trì phương châm láng giềng hữu nghị, hợp tác toàn diện, ổn định lâu dài, hướng tới tương lai với tinh thần láng giềng tốt, bạn bè tốt, đồng chí tốt, đối tác tốt” trong khi phiá Trung Quốc thì không làm theo phương châm mà lại tiếp tục đe dọa chiếm thêm phần còn lại của Trường Sa và không muốn bàn đến Hòang Sa mà Bắc Kinh đã chiếm từ tay Quân lực Việt Nam Cộng Hòa tháng 01/1974.
Phương châm được gọi là 16 chữ vàng và tinh thần 4 tốt là đòi hỏi của Trung Quốc muốn phía Việt Nam phải tuân thủ, bắt đầu từ khi hai nước nối lại bang giao năm 1991. Sau đó, liên tiếp dưới hai đời Tổng Bí thư Lê Khả Phiêu (khoá VIII) và Nông Đức Mạnh (khoá IX và X), việc thi hành đơn phương của phiá Việt Nam không ngừng tăng cao cho đến ngày nay.
VÕ GIÓ ĐUỔI RUỒI TRƯỚC TẬP
Nhưng “đại cục” là cái quái gì thế ?
Đại Từ Điển tiếng Việt của Bộ Giáo dục và Đào tạo xuất bản năm 1998 định nghĩa Đại cục là: “Tình hình chung, có tính bao quát. Công cuộc to lớn”.
Như vậy, khi người Trung Hoa muốn Việt Nam hãy coi các vụ ngư dân Việt liên tục bị lính Trung Hoa tấn công, cướp của trên vùng đánh bắt truyền thống của người Việt ở Biển Đông, hay việc Trung Quốc cải tạo 7 bãi đá chiếm năm 1988 ở Trường Sa để xây căn cứ quân sự trên Đá Subi, Gaven, Tư Nghĩa, Vành Khăn, Chữ Thập, Gạc Ma và Châu Viên là chuyện nhỏ thì thứ gen“ hòa” của ông Tập đã thành gen “ác”, gen “ăn người” , gen “bá quyền” gen “bành trướng lãnh thổ”trong văn hoá ứng xử của tổ tiên người Hoa.
Vậy mà ông Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng của Việt Nam vẫn “ khẳng định, Đảng, Nhà nước và nhân dân Việt Nam luôn coi trọng việc duy trì quan hệ láng giềng hữu nghị với Trung Quốc; sẵn sàng cùng Trung Quốc đưa quan hệ đối tác hợp tác chiến lược toàn diện Việt-Trung đi vào chiều sâu” , nhưng ông lại không dám nêu đích danh Hòang Sa và Trường Sa là của Việt Nam khi đối thoại với Tập.
Tại sao ? Chẳng nhẽ cái Công hàm “há miệng mắc quai” tai ác của Thủ tướng Phạm Văn Đồng năm 1958 nhìn nhận chủ quyền của Trung Hoa trên hai quần đảo Hòang Sa và Trường Sa mà ông Trọng, ông Sang, ông Hùng và ông Dũng đều không dám khẳng định chủ quyền của Việt Nam trên hai quần đảo này trước mặt Tập Cận Bình ?
Vì vậy chẳng có gì ngạc nhiên hay sững sờ khi cả nước phải nghe Tập Cận Bình nhắc khéo với Việt Nam trong diễn văn trước Quốc Hội Việt Nam sáng 6/11 (2015) rằng: “ Chữ tín là nền tảng để làm bạn.” ?
Phản ảnh của bối cảnh này đã thể hiện trong ngôn ngữ mềm mỏng, nhẹ nhàng của ông Trọng khi ông:”Đề nghị hai bên phối hợp chặt chẽ để kiểm soát hiệu quả tình hình trên biển; tôn trọng lợi ích chính đáng của nhau; thực hiện nghiêm túc các nhận thức chung và thỏa thuận của lãnh đạo cấp cao hai Đảng, hai nước; duy trì nguyên trạng, không có hành động làm phức tạp, mở rộng tranh chấp, gây căng thẳng tình hình” .
Nhưng “giữ nguyên trạng” lại chỉ có lợi cho Trung Quốc mà hại cho Việt Nam. Giữ “nguyên trạng” ở Hòang Sa là nhìn nhận quyền chiếm hữu hợp pháp lãnh thổ Việt Nam của Bắc Kinh. Giữ “nguyên trạng” ở Trường Sa là nhìn nhận sự có mặt của quân đội, quyền kiểm soát của Trung Quốc trên một vùng lãnh thổ của Tổ tiên người Việt Nam.
Khi ông Trọng yêu cầu phiá Trung Hoa “không có hành động làm phức tạp, mở rộng tranh chấp, gây căng thẳng tình hình” ở Biển Đông, thì Bắc Kinh đã gây phức tạp qua vụ đặt giàn khoan Hải Dương 981 thăm dò dầu khí vào bên trong vùng đặc quyền kinh tế và vùng đặc quyền của Việt Nam từ ngày 2 đến 17/05/2014 và đã “mở rộng tranh chấp” khi cải tạo 7 bãi đá thành đảo ở Trường Sa trong hai năm 2014-2015.
Tập Cận Bình còn không thèm trả lời đề nghị “Trung Quốc cùng Việt Nam đi đầu trong việc thực hiện nghiêm túc, đầy đủ Tuyên bố về ứng xử của các bên ở Biển Đông (DOC) và sớm xây dựng hiệu quả Bộ Quy tắc ứng xử của các bên ở Biển Đông (COC); không theo đuổi mục tiêu quân sự hóa ở Biển Đông….”
Còn nhớ ông Tập từng tuyên bố tại Hoa Thịnh Đốn ngày 25/9/2015 rằng : “Trung Quốc không có chủ tâm tiến tới quân sự hóa ở đó.” (China does not intend to pursue militarization)
Nhưng có ai biết tại sao họ Tập lại không nói như thế với tất cả 4 Lãnh đạo Việt Nam trong hai ngày 5 và 6/11/2015 ?
Nhà lãnh đạo Trung Hoa còn cố tình tảng lờ như không nghe rõ đề nghị của Chủ tịch nước Trương Tấn Sang và Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng khi cả hai cùng kêu gọi “đảm bảo an toàn hàng hải, hàng không và các hoạt động đánh bắt hải sản bình thường của ngư dân.”
Cũng không hiểu tại sao hai ông Sang và Dũng lại không dám đòi Trung Quốc phải ngưng ngay các cuộc tấn công phi pháp, dã man và cướp của ngư phủ Việt Nam khi họ đánh bắt ờ vùng biển Đông ?
Họ Tập cũng không nhắc lại lời ông ta từng nói với Tổng thống Mỹ Barack Obama ngày 25/9/2015: “Chúng tôi cam đoan bảo vệ lưu thông hàng hải và hàng không của các quốc gia theo luật pháp quốc tế.”
(“We're committed to respecting and upholding the freedom of navigation and overflight that countries enjoy according to international law.”)
Cáo già họ Tập cũng đã nói ở Tòa Bạch Ốc : “Liên quan đến các hoạt động xây cất của Trung Quốc thi hành ở quần đảo ở phía Nam, Trường Sa, không nhắm vào hay gây ảnh hưởng đến bất cứ nước nào, và Trung Quốc không có chủ tâm tiến tới quân sự hóa ở đó.”
(Relevant construction activities that China are undertaking in the island of South -- Nansha Islands do not target or impact any country, and China does not intend to pursue militarization.)
Nhằm nói với Hoa Kỳ và Thế giới, nhưng rõ ràng Tập Cận Bình muốn cho Việt Nam và các nước có tranh chấp chủ quyền ở Biển Đông nghe rõ thông điệp của mình khi nói trước mặt Tổng thống Obama rằng: “Trung Quốc cam kết theo đuổi chính sách phát triển hòa bình, láng giềng tốt và hợp tác với các quốc gia láng giềng của chúng tôi. Các hòn đảo ở biển Nam Trung Hoa, từ thời cổ đại, là lãnh thổ của Trung Quốc. Chúng tôi có tòan quyền bảo vệ chủ quyền lãnh thổ hợp pháp của chúng tôi, cũng như các quyền lợi chính đáng về hàng hải. Chúng tôi cam kết duy trì hòa bình và ổn định ở vùng biển Nam Trung Hoa, dung hòa khác biệt và tranh chấp qua đối thọai, thương thuyết, tham khảo lẫn nhau trong hòa bình để mưu tìm giải pháp cùng có lợi thông qua hợp tác.”
(China is committed to the path of peaceful development and a neighboring foreign policy characterized by good neighborliness and partnership with our neighbors. Islands in the South China Sea since ancient times are China’s territory. We have the right to uphold our own territorial sovereignty and lawful and legitimate maritime rights and interests. We are committed to maintaining peace and stability in the South China Sea, managing differences and disputes through dialogue, and addressing disputes through negotiation, consultation, and peaceful manner, and exploring ways to achieve mutual benefit through cooperation.)
VỖ MẶT VIỆT NAM
Thái độ ương ngạnh của họ Tập không mảy may diễn ra ở Hà Nội trong suốt 48 tiếng đồng hồ nói chuyện giữa Tập với phiá Việt Nam. Ngược lại Tập đã có thái độ ôn hòa, thân thiện từ lời nói đến hành động, mặc dù những điều Tập nói không mới.
Nhưng con hổ đội lốt cừu họ Tập đã quay ngoắt 90 độ khi đến thăm Tân Gia Ba ngày hôm sau, 7/11 (2015).
Họ Tập khẳng định như đinh đóng cột trong diễn văn tại Đại học Quốc gia Tân Gia Ba:” Các đảo ở biền Nam Trung Hoa đã là lãnh thổ của Trung Quốc từ thời cổ đại, và chính phủ Trung Hoa có trách nhiệm phải bảo vệ chủ quyền lãnh thổ và quyền hàng hải chính đáng ở đó.”
(“Islands in the South China Sea have been China’s territory since ancient times, and the Chinese government must take responsibility to safeguard its territorial sovereignty and legitimate maritime interests.”—Tài liệu New York Times, 7/11/2015)
Ông Tập cũng nói thêm: “Tự do hàng hải và hàng không chưa hề có vấn đế gì và sẽ không bao giờ có vấn đế trong tương lai, bởi vì hơn ai hết, Trung Quốc là nước cần có sự thông thương xuyên suốt.”
(“Freedom of navigation and aviation has never been a problem and will never be a problem in the future, because first of all China is the one who most needs smooth navigation.”)
Như thế thì “có mấy ông Tập” trong vòng 24 giờ từ Việt Nam sang Tân Gia Ba ? Và tại sao ông ra phài đợi đến Tân Gia Ba mới nói điều phiá Việt Nam không muốn nghe tại Hà Nội ?
Hay ông ta sợ nói ra sẽ khuyến khích áp lực đảng CSVN mau chóng “thoát Trung” có cơ hội bùng lên trong nhân dân Việt Nam ?
Nhưng lãnh đạo Việt Nam có bất ngờ và cảm thấy tẽn tò vì đã tiếp đón họ Tập như thượng khách quan trọng nhất trong 10 năm qua, hay biết đã bị vỗ mặt mà không dám hé răng ?
Cơ quan Tuyên giáo do Ủy viên Bộ Chính trị Đinh Thế Huynh cầm đầu và hàng hà sa số dư luận viên của đảng đâu mất mà không thấy anh nào dám mở cái mồn ra để phản bác ?
Báo chí chính thống của đảng như Nhân Dân, Quân Đội Nhân Dân, Sài Gòn Giải Phóng, Thông Tấn Xã Việt Nam, Đài Truyền hình và Đài Phát thanh cũng co vòi. Các Giáo sư, Tiến sỹ ăn lương cao như núi trong Hội đồng Lý luận Trung ương cũng không có ông, bà nào dám nhó mặt ra ngênh ngang với lập luận sai trái của họ Tập là thế nào nhì ?
Mãi 5 ngày sau, vào chiều ngày 12/11, Chính phủ mới để cho người Phát ngôn Bộ Ngoại giao Việt Nam Lê Hải Bình lên tiếng khi được báo chí hỏi về lời tuyên bố của ông Tập ở Tân Gia Ba.
Ông Bình nói: “ Việt Nam có đầy đủ cơ sở pháp lý và chứng cứ lịch sử về chủ quyền không tranh cãi của mình với hai quần đảo Trường Sa và Hoàng Sa”.
“Chúng tôi yêu cầu các bên tôn trọng chủ quyền của Việt Nam đối với hai quần đảo Trường Sa và Hoàng Sa, không có lời nói và hành động làm phức tạp thêm tình hình Biển Đông, đóng góp tích cực cho hòa bình ổn định ở khu vực và thế giới”.
Câu nói của ông Bình không có gì mới, nhưng tại sao Bộ Ngọai giao Việt Nam lại không dám cho phép ông ta bác bỏ thẳng tay lời nói “thực dân” của Tập Cận Bình ?
Cũng đáng chú ý khi thấy, cho đến nửa đêm ngày 12/11 (2015), các cơ quan Việt Nam Thông Tấn Xã, báo Nhân Dân, Quân Đội Nhân Dân, Sài Gòn Giaỉ Phóng và hai Cổng Thông tin của Đảng và Chính phủ đều không phổ biến lời tuyên bố của Lê Hải Bình.
Bác Trọng thì tất nhiên chả thấy đâu, nhưng âm vang lời biết ơn Trung Quốc của Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Sinh Hùng vẫn văng vẳng quanh Hội trường Diên Hồng.
Tại căn phòng huy hòang tiêu biểu cho tiếng nói toàn dân của Quốc hội sáng ngay 6/11, ai cũng đã nghe ông Hùng nói dõng dạc: "Nhân dân Việt Nam không bao giờ quên sự giúp đỡ của Đảng, Chính phủ nhân dân Trung Quốc trong suốt 2 cuộc kháng chiến cứu nước cũng như công cuộc xây dựng bảo vệ đất nước.
Tình hữu nghị đoàn kết chiến đấu, hợp tác vừa là đồng chí, vừa là anh em đó không những đóng góp vào sự nghiệp xây dựng đất nước của nhân dân hai nước Việt Nam - Trung Quốc mà còn góp phần vào sự nghiệp chung của nhân loại vì hoà bình, độc lập và tiến bộ xã hội.
Quốc hội Việt Nam sẽ làm hết sức mình hợp tác cùng đại biểu nhân dân toàn quốc Trung Quốc, góp phần củng cố và thúc đẩy mối quan hệ hữu nghị hai nước vì lợi ích của nhân dân hai dân tộc". (Theo VTCNews)
Giờ đây khách đi rồi. Cả hội trường không những lặng thinh mà cả Thủ đô Hà Nội cũng im lìm thấm thiá để hậm hực với tuyên bố chủ quyền Biển Đông của Tập Cận Bình, -/-
V/v Những lấn chiếm và xâm phạm đến Tòa Khâm sứ và Tu viện kín Carmêlô
Kính thưa quý Cha và anh chị em,
1. Siêu thị Nguyễn Kim (10B Tràng Thi) lại tiếp tục xây dựng trên khoảnh đất lấn chiếm Tòa Khâm Sứ (42 phố Nhà Chung, Hà Nội). UBND quận Hoàn Kiếm đã cho phép siêu thị này xây dựng trên đất có nguồn gốc tôn giáo và đang tranh chấp (xem giấy phép). Tòa Tổng Giám mục Hà Nội đã hai lần gửi văn thư khiếu nại đến UBND thành phố Hà Nội và các cơ quan hữu trách (ngày 30/9/2014 và ngày 30/10/2015). Nhưng đến nay siêu thị vẫn tiếp tục thi công ở bên trong (xin xem hình ảnh).
2. Bệnh viện đa khoa Xanh Pôn (Saint Paul), đang sử dụng Tu viện kín Carmêlô (72 Nguyễn Thái Học, Hà Nội), đã làm thay đổi hiện trạng Nhà thờ của Tu viện, cơi nới thêm phòng tại trước mặt tiền nhà thờ để làm kho và phòng. Hơn nữa, bệnh viện Xanh Pôn lại đang tu sửa và xây dựng các dãy nhà bên trong Tu viện kín Carmêlô mà không hỏi ý kiến của Tòa Tổng Giám mục Hà Nội. Tòa Tổng Giám mục đã gửi văn thư khiếu nại ngày 02/10/2015 và ngày 04/11/2015.
Nhà thờ dù bị sử dụng vào việc khác ngoài ý muốn của Giáo Hội vẫn là nhà thờ và là nơi linh thiêng và tôn nghiêm nhất đối với người Công Giáo. Việc xâm phạm, xây dựng và biến đổi hiện trạng các cơ sở của Giáo Hội đang gây phản cảm và bức xúc cho linh mục và giáo dân.
Tòa Tổng Giám mục Hà Nội mạnh mẽ phản đối việc xây dựng của Siêu thị Nguyễn Kim trên đất lấn chiếm của Tòa Khâm sứ, việc cho phép xây dựng của quận Hoàn Kiếm, việc cơi nới thay đổi hiện trạng nhà thờ và xây sửa tại Tu viện kín Carmêlô.
Xin quý cha và toàn thể anh chị em cầu nguyện để những việc xâm phạm này mau chấm dứt, đất đai và cơ sở của Giáo Hội được tôn trọng.
Trân trọng,
+Lôrensô Chu Văn Minh
Tổng Đại diện
Giám mục Phụ tá Hà Nội
***
Giấy phép xây dựng của UBND quận Hoàn Kiếm cấp cho Siêu thị Nguyễn Kim
Hình ảnh Siêu thị Nguyễn Kim xây sửa nhà trên đất của Tòa khâm sứ
Hình ảnh Bệnh viện Xanh Pôn cơi nới bên ngoài và xây dựng bên trong Tu viện kín
1. Bệnh viện Xanh Pôn cơi nới thêm phòng trước mặt tiền nhà thờ
2. Bệnh viện Xanh Pôn tu sửa và xây dựng các dãy nhà bên trong Tu viện kín
11/11/2015 (Diễn Đàn Việt Nam 21) - Cộng hòa Liên bang Miến Điện (Myanmar), một quốc gia thành viên của Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN) với 51 triệu dân đã tiến hành một cuộc bầu cử tự do vào ngày 08/11/2015 và tạo được sự chú ý của thế giới. Hầu hết các quốc gia dân chủ tây phương đều khen ngợi những nỗ lực của chính quyền, các chính đảng và các Hiệp hội công dân ở Miến Điện đã đặt quyền lợi đất nước trên quyền lợi đảng phái khi hợp tác thực hiện bầu cử mở đầu cho kỷ nguyên xây dựng một nước Miến Điện dân chủ.
Vận động tranh cử tại Myanmar: Time to change - Đã đến lúc phải thay đổi !
Cuộc tổng tuyển cử dân chủ đầu tiên trong nhiều thập niên qua đã diễn ra trên cả nước trong bầu không khí tưng bừng. Gần 30 triệu cử tri hân hoan đi bỏ phiếu để bâu 1100 đại biểu cho Quốc Hội và các Nghị viện địa phương. Thành viên của 91 chính đảng và các đoàn thể tham gia ứng cử. Nhưng kết quả bầu Quốc hội (Lưỡng viện) được xem có ý nghĩa chính trị quan trọng nhất. Thượng viện và Hạ viện có tổng số 664 ghế, trong đó ¼ ghế được dành cho quân đội. Ngày 9/11, Miến Điện (Myanmar) qua nhiều cuộc kiểm phiếu cho thấy Liên đoàn Quốc gia vì Dân chủ (National League for Democracy - NLD) của bà Aung San Suu Kyi, người mang giải Nobel hoà bình chiếm nhiều ghế nhất trong lưỡng viện và Liên minh Đoàn kết Phát triển (Union Solidaity and DevelopmentParty - USDP) đã nắm quyền từ năm 2011 đã nhìn nhận thất bại. Tổng thống đương nhiệm Thein Sein và Tổng tư lệnh quân đội Min Aung Hlaing đã lên tiếng chấp nhận „Ý dân“ thể hiện qua kết quả bầu cử
Giới quân nhân đã cai trị Miến Điện gần 50 năm (1962-2011). Đảng của bà Suu Kyi đã thắng trong cuộc bầu cử 1990 nhưng quân đội không công nhận kết quả bầu cử và bà bị quản thúc tại gia 20 năm.
Giới trẻ Myanmar hỗ trợ đối lập thắng cử
Lưỡng viện sẽ bầu Tổng thống vào tháng 2/2016 và nhiệm kỳ bắt đầu ngày 30/03/2016. Dân chúng lo ngại bà Suu Kyi khó trở thành Tổng thống vì hiến pháp Myanmar cấm bất cứ ai có con với nước ngoài giữ chức vụ này. Hai con trai của bà với người chồng quá cố đều là người Anh. Dầu vậy Bà Suu Kyi (70 tuổi) cho biết Liên đoàn NLD sẽ có ứng cử viên Tổng thống.
Hy vọng và những trở ngại
Một nước Miến Điện giầu có tài nguyên, có vị trí chiến lược thuận lợi giữa Trung Cộng, Ấn Độ và Đông Nam Á đã bị độc tài kìm hãm phát triển hàng chục năm, nay cuộc bầu cử tự do đã khởi sự đưa đất nước vào con đường dân chủ và mang đến nhiều hy vọng cho nhân dân Miến Điện trong tương lai.
Triển vọng phát triển đất nước được các chuyên gia kinh tế ngoại quốc đánh giá rất khả quan. Trong vòng 15 năm tới, Miến Điện cần 650 tỉ USD để đầu tư trong nhiều lãnh vực xây dựng hạ tầng cơ sở (đường xá, hải cảng, điện nước...). Đến năm 2030 Miến Điện sẽ đạt tổng sản lương nội địa hằng năm 200 tỉ USD và tạo thêm 10 triệu chỗ làm. Cách đây 4 năm cựu tướng Thein Sein giữ chức Tổng thống đã mạnh dạn cải cách chính trị và kinh tế. Đầu tư ngoại quốc tăng trong khi mức đầu tư của Trung cộng và Hương Cảng (Hongkong) trước chiếm hơn 2/3 nay đã giảm xuống còn 15%. Nhật Bản đầu tư xây dựng khu công nghiệp Thilawa gần Rangun tạo hơn 12000 việc làm. Giới chuyên gia kinh tế phỏng định tiến trình hòa giải dân tộc và dân chủ hóa đất nước sẽ tạo thêm sức mạnh cho nền kinh tế Miến Điện có khả năng đạt tăng trưởng 8% mỗi năm và kéo dài 30 năm góp phần giảm thiểu mức độ chênh lệch giầu nghèo giữa các tầng lớp nhân dân.
Bà Suu Kyi và cử tri trong cuộc bầu cử tự do
Miến Điện – Bài học cho Đảng cộng sản Việt Nam
Cuộc bầu cử dân chủ và tự do với sự tham dự của nhiều chính đảng diễn ra ôn hòa ở Miến Điện đã minh chứng lý luận dân chủ đa đảng tạo ra hỗn loạn chỉ là ngụy biện của ĐCSVN nhằm duy trì chế độ độc tài, độc đảng. Một quốc gia chỉ có một đảng là quốc gia độc tài. Các quốc gia đa đảng dù chưa kiện toàn thể chế dân chủ, và còn có nhiều xáo trộn chính trị như Thái Lan, Mã Lai Á, Nam Dương.. nhưng vẫn là các quốc gia có mức phát triển kinh tế cao hơn các quốc gia độc đảng như Triều Tiên, Việt Nam, Lào…
Hiện nay Việt Nam và Lào là hai quốc gia còn kiên trì chủ trương thực hiện xã hội chủ nghĩa và cộng sản chủ nghĩa dưới chế độ độc đảng và cũng là hai quốc gia nghèo nhất trong Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á( ASEAN). Mức thu nhập GDP bình quân đầu người của Việt Nam năm 2014 đạt 2.052 USD chỉ bằng 3/5 của Nam Dương, 2/5 của Thái Lan, 1/5 của Mã Lai và 1/27 của Tân Gia Ba.
Về mặt tệ trạng xã hội: Tham nhũng, kinh tế bè nhóm lợi ích, gia tộc lãng phí của công …thì Việt Nam vượt trội các quốc gia trong vùng.
40 năm dưới chế độ Cộng sản độc đảng-Việt nam đã không phát triển, thậm chí còn tụt hậu.
Những phát biểu hứa hẹn „đổi mới“, „nhân dân làm chủ“... mà lãnh đạo đảng và các cơ quan thông tin, báo chí của đảng ra rả đã làm người dân chán ghét.
Quần chúng không còn quan tâm đến những quyết định liên quan đến sự tồn vong của đảng hay những thay đổỉ nhân sự lãnh đạo đảng. Nhân dân cả nước hiện đang trông đợi ở một sự cải cách thực sự sâu rộng về mọi mặt có khả năng hồi sinh tự do, dân chủ và phục hưng đất nước.
Trước đại hội đảng lần thứ 12 dự kiến triệu tập vào năm 2016, giới lãnh đạo đảng hãy can đảm nêu ra những trở lực chính kìm hãm sự đoàn kết và sức mạnh của quốc gia: xã hội chủ nghĩa, chế độ độc đảng, sự tước đoạt quyền làm chủ của nhân dân.
Đã đến lúc phải có những quyết định mang tính chất lịch sử:
- Dứt khoát gạch bỏ cụm từ „Chủ nghĩa xã hội ra khỏi Hiến pháp. Đảng không thể áp đặt Việt Mam mãi chấp nhận một chủ nghĩa lỗi thời và viển vông. - Chuyển hóa chế độ độc đảng phi dân chủ qua chế độ đa đảng dân chủ thực hiện nguyên tắc tam quyền phân lập, nhà nước dân chủ pháp trị và nền kinh tế thị trường thật sự. - Trả lại quyền làm chủ cho nhân dân thể hiện qua bầu cử tự do chọn người lãnh đạo. Chỉ nhân dân là người chủ duy nhất có quyền giao quyền và chia quyền lãnh đạo chứ không phải đảng CSVN. - Chấp nhận quyền tự do tư tưởng, quyền đối lập chính trị, quyền tự do báo chí và quyền tự do lập hội.
Đại hội 12 sắp đến sẽ là cơ hội lịch sử cho ĐCSVN dẹp bỏ chủ nghĩa xã hội Mác-Lênin ra khỏi hiến pháp, kết thúc chế độ một đảng toàn trị tệ hại bao che cho tham nhũng và bất công cũng như cản trở sự nghiệp canh tân đất nước.
Cố vấn Ngô đình Nhu có thể nói là nhân vật rất thâm cứu về Trung quốc nên muốn thương thảo với Cộng sản Hà nội nhằm thúc đẩy hai miền Việt Nam tránh khỏi một cuộc xung đột ý thức hệ ngu xuẩn chỉ có lợi cho Trung quốc (52 năm sau, điều này sắp trở thành sự thật ?). Từ năm 1962, chính phủ Kennedy đã ép Tổng thống Diệm phải nhận lính tác chiến Mỹ vào nước Việt Nam. Sự hiện diện của các lính viễn chinh làm Việt Nam mất chính nghĩa (cộng sản Hà nội đã tuyên truyền 'Miền Nam đang bị đế quốc Mỹ chiếm đóng, chúng ta phải hy sinh để giải phóng'. Sự lường gạt có hiệu lực rất mạnh trên trên các thiếu niên như chúng ta đã chứng kiến trong cuộc tổng tấn công Tết Mậu thân 1968. Trái lại, những người lính Mỹ, sinh viên vừa tốt nghiệp Đại học, bị buộc phải đi quân dịch và rời cha mẹ, bạn gái... để đến một nước xa dù chỉ để dạy Anh ngữ quân đội. Họ rất bất mãn.
Ông Ngô đình Diệm nhận và thi hành sứ vụ Thủ tướng và Tổng thống với tất cả khả năng đạo đức, thâm cứu lý thuyết cùng quan sát tại chổ và kinh nghiệm hành chánh địa phương các cấp của mình để phục vụ Tổ Quốc và Đồng bào. Nghĩa cử của vị Tổng thống từ chối để người lính quốc gia nỗ súng vào nhau vì mình, dù có bị kẻ giết mướn đâm và bắn mình chết (xem II./ A.-) cho thấy sự thương người, những đồng bào, dù bên kia chiến tuyến và tôn trọng đời sống con người. Người không muốn tung ra những trận đánh lớn để chiến tranh leo thang và thương vong gia tăng. Do đó, một vài Tướng Mỹ nghi Tổng thống Diệm là Việt cộng (!). Ông chủ trương : « Chính sách của chúng tôi là chính sách hòa bình. Nhưng không có gì có thể khiến chúng tôi đi chệch khỏi mục tiêu của chúng tôi là sự thống nhất đất nước, thống nhất trong tự do chứ không phải trong nô lệ. Vì dân tộc, chúng tôi sẽ đấu tranh hết sức mình cho sự thống nhất đất nước. Chúng tôi không từ chối nguyên tắc tuyển cử tự do để thống nhất đất nước một cách hòa bình và dân chủ. Tuy nhiên nếu những cuộc bầu cử là một trong những nền tảng cơ bản của nền dân chủ thật sự thì chúng chỉ có ý nghĩa với điều kiện chúng hoàn toàn tự do. Hiện nay, thực tế phải đối mặt với chế độ áp bức Việt minh, chúng tôi nghi ngờ về việc có thể bảo đảm những điều kiện của cuộc bầu cử tự do ở miền Bắc ».
D.- Địa vị Hoa kỳ trong tiến trình Hòa bình dự định.
Ngày 24.09.2015, chúng tôi hân hoan xem truyền hình trực tiếp Đức Thánh Cha Phanxicô đọc diễn văn tại lưỡng viện Lập pháp Hoa kỳ đã khiến chúng tôi hình dung, cách nay hơn 58 năm, ngày 08.05.1957, Tổng thống Ngô đình Diệm cũng đứng tại diễn đàn này để phát biểu những lời cám ơn của chính phủ và nhân dân Việt Nam Cộng hòa. Nhận lời mời của Tổng thống Mỹ Dwight D. Eisenhower, Tổng thống Việt Nam Cộng hòa đến thăm Hoa kỳ từ ngày 07.05.1957 do sự thành công trong công cuộc xây dựng nước Việt Nam Cộng hòa, đặc biệt trong việc tái định cư thành công hơn 800 ngàn người tỵ nạn từ miền Bắc, đều được các báo uy tín hàng đầu của Mỹ coi là 'phép lạ'. Theo Wikipedia, dọc theo đại lộ từ phi trường quốc gia Andrew vào thủ đô, khoảng 50.000 người, gồm rất đông người Việt, đứng hai bên vệ đường để vẫy tay chào ông Diệm. Trước các vị dân cử Lập pháp, đại diện toàn dân Hoa kỳ, Tổng thống Việt Nam Cộng hòa nói :
« Tôi tự hào mang đến quý vị dân cử lỗi lạc Cộng hòa Hoa kỳ cao quý những lời chúc huynh đệ tốt đẹp nhất từ nhân dân Việt Nam. Tôi cũng mang đến đây sự bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc của nhân dân Việt Nam về sự giúp đỡ tinh thần và vật chất của nhân dân Hoa Kỳ. Nhân dân chúng tôi nhận thức được tầm quan trọng rất lớn lẫn ý nghĩa sâu sắc của sự trợ giúp này.
... trong truyền thống dân chủ Việt Nam, tôi đã có danh dự định rõ học thuyết này trong thông điệp đọc trước Quốc hội Lập hiến vào ngày 17.04.1956. Tôi xin mạn phép trích dẫn từ thông điệp ấy những đoạn ý nghĩa nhất, vì chúng tạo thành nền tảng Hiến pháp chúng tôi: 'Trong hoàn cảnh những lực lượng trấn áp vật chất và chính trị quá mạnh thường xuyên đe dọa chúng tôi, chúng tôi cảm thấy, hơn các dân tộc khác, nhu cầu rất quan trọng đặt cuộc sống chính trị của mình trên một nền tảng vững chắc và thúc đẩy một cách rất chính xác những bước kế tiếp trong hành động mình theo những đường lối mà sẽ chắc chắn tạo ra mức độ tiến bộ dân chủ lớn nhất. (Vỗ tay.)
Điều này chỉ có thể là duy linh, đường lối ấy con người theo đuổi trong hiện thực mật thiết của họ cũng như trong cuộc sống cộng đồngỉ, trong nghề nghiệp cũng như trong sự theo đuổi tự do sự hoàn thiện trí tuệ, đạo đức, và tinh thần. Vì thế, chúng tôi khẳng định niềm tin của mình vào giá trị tuyệt đối của con người, nhân phẩm họ có trước xã hội và số phận của họ lớn hơn thời gian. (Vỗ tay.)
Chúng tôi khẳng định mục đích chính đáng duy nhất của nhà nước là bảo vệ quyền tồn tại, quyền phát triễn tự do cuộc sống trí tuệ, đạo đức và tinh thần căn bản của con người. Chúng ta khẳng định dân chủ không phải là hạnh phúc vật chất cũng không phải là quyền lực tối cao của thành viên. Dân chủ về cơ bản là một nỗ lực trường tồn nhằm tìm ra những phương tiện chính trị đúng để đảm bào cho tất cả mọi công dân quyền phát triễn tự do và quyền sáng kiến, trách nhiệm, và cuộc sống tinh thần cao nhất'. (Vỗ tay.)
Chúng tôi tin chắc rằng với những nguyên tắc chỉ đạo này như là chủ đề trọng tâm cho sự phát triển thể chế chính trị của mình, Việt Nam sẽ có thể tạo ra chế độ chính trị và kinh tế mà không phải là một hệ thống đóng kín nhưng là hệ thống mở, càng ngày càng mở rộng cho đến khi nào hệ thống đạt đến các phương diện tự do của con người. Việt Nam Cộng Hòa, nền cộng hòa non trẻ nhất Á châu, chẳng bao lâu nữa sẽ tròn hai tuổi. Nền cộng hòa chúng tôi sinh ra từ trong vô vàn đau khổ. Nền cộng hòa ấy đang can đảm đương đầu với cuộc cạnh tranh kinh tế với người cộng sản, cho dù hoàn cảnh khó khăn và nghiêm trọng, mà mỗi ngày lại càng trở nên phức tạp hơn. Việt Nam, tuy nhiên, có lý do chính đáng để tin tưởng và hy vọng. Nhân dân Việt Nam thông minh, tháo vát và can đảm. Họ cũng có thêm được sức mạnh nhờ sự giúp đỡ vật chất và tinh thần họ nhận được từ thế giới tự do, đặc biệt sự giúp đỡ từ nhân dân Mỹ. Trong hoàn cảnh căng thẳng quốc tế và áp lực cộng sản ở Đông Nam Á ngày càng gia tăng tôi không thể nào lập lại biết bao nhiêu lần cho đủ lòng biết ơn sâu sắc của nhân dân Việt Nam trước sự giúp đỡ của Mỹ và nhân dân Việt Nam ý thức rất cao về tầm quan trọng, ý nghĩa sâu sắc, và số lượng của sự giúp đỡ này. Quả thực, chưa bao giờ lúc nào trong lịch sử những cuộc xung đột phát sinh giữa các dân tộc lại quan hệ cấp bách như thế đến nền văn minh như những cuộc xung đột ngày nay.
Chính qua những đóng góp kịp thời và đầy đủ cho sự kiến thiết cuộc sống kinh tế và kỹ thuật chúng tôi, nhờ đấy tạo ra mức sống cao hơn, thế giới tự do, dưới sự lãnh đạo của Hoa kỳ, đang khẳng định sự thành công của hệ thống hợp tác quốc tế mới. Hành động này đã góp phần bảo vệ Đông Nam Á và ngăn cản những nguyên liệu trong vùng này không rơi vào tay Cộng sản.
Dù nền kinh tế chúng tôi bị thiệt hại nặng nề do chiến tranh, tàn phá, và chủ nghĩa thực dân, nhưng bây giờ nhân dân Việt Nam đang tăng gia đóng góp vào quốc gia mình. Cách đây vài tháng Quốc hội Lập hiến đã bỏ phiếu thông qua nhiều thuế mới và cao hơn nhằm mang lại thu nhập cần thiết cho ngân sách quốc gia. Mới đây sắc lịnh quân dịch đã được ban hành và cách đây hai tháng chúng tôi đã đưa ra bản tuyên bố toàn diện về chính sách nhằm mục đích khích lệ đầu tư tư nhân từ nước ngoài. Chính trên bình diện đạo đức cao cả này chúng tôi bày tỏ lòng biết ơn sự giúp đỡ rộng rãi và quên mình mà chúng tôi đã nhận được từ nhân dân Hoa kỳ. Chính trên cũng bình diện này quyền lợi của Việt Nam hoàn toàn giống với quyền lợi của nhân dân thế giới tự do. (Đứng dậy và vỗ tay).
[Xin nhắc : Đức Thánh Cha Phanxicô và Tổng thống Ngô đình Diệm đọc Thông điệp tại lưỡng viện Lập pháp đều được mời bởi Chủ tịch Viện Dân biểu. Đó là nguyên tắc chung áp dụng tại mọi nước. Trái lại, Tập cận Bình đã 'đòi' Quốc hội Việt cộng phải họp đàn để hắn dạy bảo ngày 06.11.2015. chúng ta nghĩ gì về 'sự thật' này ?].
Lời của vị Nguyên thủ Việt Nam Cộng hòa chứng minh là chính phủ và toàn dân Việt Nam luôn biết ơn chính phủ và toàn dân Hoa kỳ. Đồng thời, Việt Nam luôn cần sự viện trợ của Mỹ quốc. Tuy nhiên, vì tôn trọng 'Quyền Dân Tộc Tự Quyết' của một quốc gia độc lập, ông Ngô đình Diệm nhất quyết bảo vệ Chủ Quyền nước Việt Nam. Khôn ngoan hơn, Tổng thống Diệm đã bắt tay giao hảo với mọi quốc gia, những nước biết tôn trọng sự Độc lập của Việt Nam. Những tin tức cho biết : từ tháng 5/1963, Mỹ đã giảm viện trợ kinh tế cho Việt Nam thì nước Pháp đã tiếp viện thay vào đó. Năm 1975, chính phủ Nguyễn văn Thiệu và Trần thiện Khiêm, hai 'Tướng CIA' chủ mưu đảo chính ngày 01.11.1963, đã mất tinh thần ngay khi Quốc hội Mỹ cắt viện trợ 300 triệu mỹ kim trong tài khóa 1976.
Đ.- Vai trò nước Pháp trong tiến trình Hòa bình dự định.
Đắc cử Tổng thống tháng 5/1958, ông Charles De Gaulle, lưu tâm khẩn cấp về Hiến pháp đệ Ngũ Cộng hòa và chiến tranh Algérie, nên ủy thác Bộ Ngoại giao và những tổng trưởng liên hệ trực tiếp điều hành hồ sơ Đông Dương nhằm tái phục ảnh hưởng Pháp để cân bằng với sự hiện diện của Mỹ mỗi ngày một lớn. Do đó, sự giao hảo với Việt Nam Cộng hòa được gia tăng. Tháng 11/1959, Tổng trưởng Tài chính Antoine Pinay ký với Việt Nam Cộng hòa những Thoả hiệp về tài chính, kỹ thuật và văn hoá cũng như những tranh chấp về ruộng đất và tài chính được giải quyết tốt đẹp vẹn. Trong bức thư cám ơn Thủ tướng Michel Debré, ông Diệm gợi ý là về phần mình, Việt Nam sẵn sàng làm sâu rộng mối bang giao Pháp-Việt.
Sau đảo chính hụt ngày 11.11.1960, ông Ngô đình Nhu đã nói với Đại sứ Pháp Roger Lalouette là 'Nếu nước Pháp muốn, giờ của Pháp đã điểm ở Việt Nam'. Sau đó, hàng hóa Pháp sản xuất được dễ dàng nhập cảng vào Việt Nam. Sau cuộc viếng thăm của Phó Tổng thống Lyndon B. Johnson tháng 05/1961 tại Sài gòn khi ông này đề nghị Tổng thống Diệm phải chấp nhận quân tác chiến Mỹ vào Việt Nam, ông Diệm đã ngỏ ý với ông Lalouette là Việt Nam muốn 'giảm sự chi phối của Mỹ bằng sự hiện diện của một cường quốc khác, ưu tiên là Pháp hay Pháp cùng Anh quốc'. Ngày 24.06.1961, Thủ tướng Michel Debré tiếp kiến ông Ngô đình Nhu, một người thấm nhuần văn hoá Pháp và có ảnh hưởng lớn trong chính quyền Việt Nam.
E.- Tiến trình Hòa bình dự định bắt đầu.
Sự giao thiệp thương thảo bí mật giữa ông Ngô đình Nhu với Cộng sản Hà nội nhằm thúc đẩy hai miền Nam-Bắc Việt Nam để tránh một cuộc xung đột ý thức hệ ngu xuẩn chỉ có lợi cho Trung quốc. Chúng dạy bọn cộng sản Vi ệt cứ giết nhau đến người Việt cuối cùng trong khi chúng hòa giải với Đài loan bằng cái bắt tay Tập cận Bình dành cho Mã anh Cửu tại Tân gia ba. Chúng không dám thực hiện trong nước vì sợ thật đông người Đài loan biểu tình chống. Tại Việt Nam, sự biểu tình vô cùng can đảm chống Tập cận Bình đến đây của vài trăm người thật đáng khâm phục, nhưng đa số đồng bào vô cảm, thế mà nhiều người Công Giáo tự hài lòng 'mình làm theo lời Đức Thánh Cha Phanxicô dạy'.
Để mở đầu cuộc thuơng thảo, Việt Nam Cộng hòa đồng ý viện trợ kinh tế bao gồm lúa gạo, sản phẩm gia dụng và y tế cho Cộng sản Hà nội nếu họ đồng ý tuyên bố đứng trung lập như Việt Nam Cộng hòa đồng tham gia khối 'Các Nước Không Liên Kết' do Ấn độ đứng đầu. Qua sự trao đổi thuơng mại với Miền Bắc, chính phủ Sài gòn cam kết sẽ cố gắng giúp đồng bào Miền Bắc thoát khỏi tình trạng đói kém do đang phải sống bằng hiện vật chu cấp mọi thứ bởi Bắc kinh, nhất là để đến cán bộ cộng sản không phải theo đường lối Đấu tố của Mao trạch Đông đã khiến 200 000 oan mạng bị giết chỉ trong vài năm. Họ lưỡng lự trước đề nghị yêu nước, thương đồng bào, nhưng thật táo bạo này của ông Nhu vì biết rõ những cam kết mà Việt Nam Cộng Hòa đưa ra rất thật lòng dựa trên sự ổn định phát triển kinh tế miền Nam Việt Nam trong suốt gần chín năm sau hiệp nghị Geneva 1954.
1. Với sự tiếp tay và bảo đảm bởi các vị thuộc ngoại giao đoàn.
Tháng 9/1962, Hồ chí Minh nói với Chủ tịch Ủy hội Quốc tế Ấn độ là muốn bắt tay với Diệm được coi là một người 'yêu nước theo kiểu ông ta' (Il est, à sa manière, un patriote) . Phạm văn Đồng thì gợi ý là Đại diêản Pháp ở Hà nội Jean François de la Boissière nên viếng thăm Sài gòn và trong tương lai sẽ tiếp đón Roger Lalouette ở Hà nội. Tổng thống Diệm, khi bàn cãi với Đại sứ Pháp, cũng không dứt khoát gạt qua triển vọng một giải pháp hoà bình. Những người cầm quyền Việt Nam muốn Pháp đặt nhịp cầu đó, nhưng Á đông vụ Bộ Ngoại giao không muốn làm tăng thêm sự căng thẳng với chính quyền Mỹ với ông Diệm để buộc Việt Nam Cộng hòa phải hoàn toàn phục vụ những mục tiêu của Washington.
Đại sứ Roger Lalouette là một nhà ngoại giao lão luyện, rất rành về những vấn đề Việt Nam. Ông biết một hành động quá lộ liễu sẽ làm ông Diệm bị thay thế rất nhanh để nhường chỗ cho một chính phủ hoàn toàn theo đường lối của Washinton. Nên ông quyết định trao sứ vụ cho Đại sứ Mieczyslaw Maneli, Trưởng phái đoàn Ba lan trong Ủy ban Quốc tế Kiểm soát Đình chiến tại Việt Nam, với một kế hoạch ba giai đoạn cho Việt Nam : mở cuộc đối thoại giữa Hà nội và Sài gòn ; đặt những trao đổi kinh tế và văn hoá ; tổ chức những cuộc hội đàm về chính trị. Maneli quyết định chuyển tin ra Hà Nội nơi mà ông đi đi về về nhiều lần.
Đầu tháng 7/1963, ông cho biết khi gặp Thủ tướng Phạm văn Đồng và Bộ trưởng ngoại giao Xuân Thủy : « Tôi hỏi nên làm gì nếu Ngô đình Nhu mời tôi tới nói chuyện. Họ lập tức trả lời 'nhận gặp và lắng nghe'. Tôi lại hỏi họ có muốn tôi nói gì. Họ trả lời 'Tất cả những gì đồng chí biết về lập trường của chúng tôi trong sự trao đổi và hợp tác kinh tế và văn hóa. Một điều chắc chắc là Mỹ phải rút đi. Trên cơ sở chính trị ấy, chúng tôi có thể thương lượng bất cứ điều gì. Maneli hỏi thêm về khả năng một chính phủ liên hiệp ở miền Nam hay một hình thức liên bang Bắc Nam, ông Đồng trả lời 'Trên cơ sở độc lập và chủ quyền của Việt Nam, mọi điều đều có thể thương lượng. Hiệp định Genève đã đặt ra nền tảng pháp lý và chính trị : không có căn cứ hay quân đội nước ngoài trên lãnh thổ đất nước chúng tôi. Như thế, chúng tôi có thể đi tới thoả thuận với bất luận người Việt Nam nào ». Miền Bắc sẵn sàng cung cấp than đá không đặt điều kiện nào với giá rẻ để đổi lấy gạo, thực phẩm và cao su, để đối phó với một cơn hạn hán trầm trọng, đồng thời, có thể thoát khỏi viện trợ từ Trung cộng.
Ngày 01.06.1963, Roger Lalouette thông báo cho Tổng thống Diệm những điều mật mà Maneli thâu thập được. Điện Élysée (Tổng thống phủ Pháp) cũng được thông báo về thành quả này và họ không tỏ dấu hiệu chống Lalouette tiếp tục làm chuyện đó. Ngày 25.08.1963, trong cuộc tiếp tân của Quyền Ngoại trưởng Việt Nam Cộng hòa Trương Công Cừu, các Đại sứ Lalouette (Pháp, d'Orlandi (Ý), Goburdhun (Ấn độ) và Đức Cha Salvatore Asta (Tòa Thánh) đã giới thiệu ông Maneli với ông Nhu. Ông Nhu vui vẻ mời ông Maneli thu xếp để gặp nhau riêng. Ngày hôm sau, văn phòng ông Nhu đã liên lạc và hẹn cuộc gặp vào sáng ngày 02.09.1963.
Sau cuộc gặp gỡ này tại dinh Độc Lập, ông Maneli cho biết ông Nhu đã nói, trong khoảng hai giờ, về chủ nghĩa cần lao nhân vị, chính sách ấp chiến lược, thành quả của Việt Nam Cộng hoà v.v... Còn về vấn đề hiệp thương giữa hai Miền, ông Nhu có ý như sau: « Tôi không chống lại việc đàm phán và hợp tác với miền Bắc, và như ông biết, nhiều nhà ngoại giao phương Tây đã đề nghị với tôi. Ngay trong những trận giao tranh tàn ác nhất, người Việt Nam cũng không quên ai là người Việt, ai là ngoại quốc. Nếu bắt đầu đối thoại trực tiếp, thì có thể tiến tới xích lại gần. Và Ủy hội quốc tế – cũng như bản thân ông – sẽ đóng vai trò tích cực ở đây... Trong tương lai gần, tôi không dự liệu điều gì dẫn tới nói chuyện trực tiếp, nhưng sớm muộn có thể sẽ hé ra khả năng... ». Như vậy ông Nhu chưa có một ý để đi xa hơn nói chuyện trực tiếp với lãnh đạo cộng sản Hà nội.
Ngày 20.10.1963, khi tiếp đoàn Đại biểu Viện Kiểm soát Tối cao Liên xô, Hồ chí Minh tuyên bố: « Để hoà bình vãn hồi ở miền Nam Việt Nam hiện nay, chỉ có một cách là Đế quốc Mỹ phải rút khỏi nơi đây, vấn đề miền Nam Việt Nam phải do nhân dân Việt Nam tự gỉai quyết, như hiệp định Giơnevơ đã quy định ».
2. Ông Ngô đình Nhu gặp ông Phạm Hùng.
Năm 2012, ông Cao xuân Vỹ, người đã tháp tùng ông Nhu bí mật gặp Phạm Hùng, cán bộ cao cấp cộng sản Hà nội, tại khu rừng Tánh linh (Bình tuy), đã kể : « Chúng tôi cùng đến Quận Tánh linh, nơi đây có một vùng do cộng quân kiểm soát. Khi đầu, tôi tưởng là đi săn cọp như mọi khi. Nhưng đến nơi, ông Nhu bảo chúng tôi ở ngoài, còn ông đi về phía trước độ vài trăm mét để gặp Phạm Hùng. Sau này, khi ông Vỹ hỏi, ông Nhu chỉ tiết lộ về Ấp Chiến Lược. Họ rất sợ chương trình này. Ai chủ trương và để làm gì? Ông Nhu trả lời: đó chỉ là một chủ trương của chính phủ nhằm bảo vệ sinh mạng và tài sản của người dân, ngăn ngừa sự xâm nhập, phá phách của du kích các ông... Các ông bảo cán bộ đừng tìm cách đánh phá làng xã, thì chúng tôi sẽ bỏ luật 10/59 ».
Một loạt báo tại Việt Nam đã phê phán Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình vì tuyên bố nhận chủ quyền Biển Đông khi phát biểu ở Singapore.
Hôm 7/11, một ngày sau khi rời Việt Nam, phát biểu ở Viện nghiên cứu Đông Nam Á, Singapore, Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình nhắc lại những hòn đảo trên Biển Đông là thuộc lãnh thổ Trung Quốc từ thời cổ đại.
Nhiều tờ báo Việt Nam cùng ngày đã chỉ trích tuyên bố này.
Báo PetroTimes viết: “Mặc dù dư luận không lấy làm lạ trước những lời lẽ xảo ngôn, đại bá trên của lãnh đạo Trung Quốc, bởi trước chuyến thăm Mỹ và Anh lần lượt vào tháng 9 và tháng 10 vừa qua, ông Tập cũng đã thốt ra được chúng.”
“Chỉ có điều, phát ngôn của ông Tập tại Singapore lần này được chú ý hơn bởi ông mới vừa rời Việt Nam xong, vừa mới phát biểu trước Quốc hội Việt Nam là “chữ tín là nền tảng để làm bạn” xong.”
Trang Giáo dục Việt Nam chạy tít “Thiện chí chót lưỡi đầu môi”:
“Trung Quốc vẫn cứ làm theo ý mình trong khi mong muốn và tìm cách ép các bên liên quan, bao gồm Việt Nam phải theo luật chơi của họ.”
“Nếu thực sự trân quý hòa bình, thượng tôn công lý và lẽ phải, Trung Quốc nên từ bỏ cách tiếp cận hung hăng, áp đặt và leo thang tranh chấp.”
Trong khi đó, trang tin Zing nhận định “ông Tập lại nói vô căn cứ về Biển Đông”.
Báo Pháp Luật TP. HCM nói ông Tập đã “ngang ngược” khi tuyên bố rằng các đảo trên biển Đông là thuộc về lãnh thổ Trung Quốc từ thời xa xưa.
Tại Singapore, ông Tập nói nhiệm vụ quan trọng nhất của các nước châu Á hiện nay là đảm bảo phát triển bền vững, vì thế cần môi trường hòa bình và ổn định.
Ông Tập đề xuất bốn điểm về phát triển quan hệ Trung Quốc với các nước xung quanh trong tình hình mới:
Chuyến thăm Việt Nam của Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình trong hai ngày 5 và 6 tháng 11/2015 đã gây nhiều bão tố cả trên mạng xã hội lẫn ngoài đường phố. Đã có các kiến nghị phản đối của một số tổ chức xã hội dân sự, nhiều cuộc biểu tình đã nổ ra ở Hà Nội và Saigon.
Trừ cuộc biểu tình tập hợp được khoảng 200 người ở Saigon và một cuộc khác nhỏ hơn ở Hà Nội hôm 04/11/2015, đúng ngày ông Tập Cận Bình đến nhiều người đấu tranh đã bị trấn áp. Trước đó, Câu lạc bộ Lê Hiếu Đằng đã có thư khẩn gởi các đại biểu Quốc hội đề nghị phải có thái độ đúng mực đối với nhân vật trước Đại hội đồng Liên Hiệp Quốc đã ngang nhiên khẳng định « Biển Đông là của Trung Quốc từ thời cổ đại ».
RFI đã phỏng vấn Phó giáo sư Hoàng Dũng, thành viên Câu lạc bộ Lê Hiếu Đằng về sự kiện trên.
RFI : Kính chào Phó giáo sư Hoàng Dũng. Thưa ông, sau hai ngày thăm Việt Nam bây giờ Chủ tịch Trung Quốc đã ra đi, ông có thể cho biết những gì còn đọng lại trong ông về sự kiện này ?
PGS Hoàng Dũng : Đọng lại trong tôi là hình ảnh ông Trần Văn Bang, máu đổ như thế… Trên Facebook ông này viết rằng để làm « thảm đỏ » đón tiếp ông Tập. Câu ấy thật là cay đắng. Có bao giờ lãnh tụ của một đất nước láng giềng đến, mà người dân Việt Nam lại tỏ thái độ như vậy. Và việc đàn áp như thế chứng tỏ sự xa cách giữa giới cầm quyền và người dân trong việc ứng xử với Trung Quốc.
RFI : Nhưng việc tiếp đón các nguyên thủ nước ngoài là vấn đề ngoại giao, và trong những chuyến công du Mỹ và Anh trước đây, ông Tập Cận Bình đều cho nước chủ nhà biết là không muốn thấy những cuộc biểu tình chống đối ông ta ?
Chuyện ngoại giao là chuyện của Nhà nước, chứ còn việc người dân thể hiện thái độ là chuyện của người dân. Các lãnh tụ Việt Nam qua Mỹ thì Tổng thống Mỹ đón tiếp, mà một số người dân Mỹ biểu tình thì không lẽ đàn áp ? Chính việc đàn áp chứng tỏ là mất dân chủ, chứ tôi không nói việc Nhà nước đón tiếp. Vấn đề không phải là đón tiếp mà là đón như thế nào, làm sao đón tiếp trong tư thế một đất nước tự chủ, độc lập, và đừng gây sốc cho người dân Việt.
Một lãnh tụ của một đất nước mà dám nói trước Liên Hiệp Quốc rằng Biển Đông thuộc chủ quyền của Trung Quốc từ thời cổ đại, và ít lâu sau lại đến Việt Nam, yêu cầu được phát biểu trước Quốc hội ; mà chúng ta nói những lời hữu hảo, không hề có một câu gì chứng tỏ mình có lập trường riêng, thì làm sao người dân thông cảm được. Tóm lại tôi muốn nói là cách đón tiếp, thái độ ứng xử của chủ nhà chứ không phải bản thân sự việc.
RFI : Thưa ông có phải vì vậy mà Câu lạc bộ Lê Hiếu Đằng đã có thư gởi các đại biểu Quốc hội về cách tiếp đón ông Tận Cận Bình ?
Thư ấy đã được công khai trên các trang mạng, và cũng đã được gởi khẩn cấp đến Quốc hội, nói rõ vì sao phải như vậy và đề nghị về thái độ ứng xử. Tinh thần là như thế này : làm thế nào các đại biểu Quốc hội, mà trước hết là đại biểu Thành phố Hồ Chí Minh, phải tỏ rõ thái độ xứng đáng với cha ông trong Hội trường mang tên Diên Hồng.
Chúng ta nhớ rằng Diên Hồng là một hội nghị dân chủ đầu tiên trong lịch sử Việt Nam. Vua Trần mời các bô lão đến để bàn việc « Hòa » hay « Chiến ». Đại Việt sử ký toàn thư ghi rằng muôn người như một đều bật lên tiếng nói đòi « Chiến ! ». Giặc xâm lược đã vào tận Thăng Long, thì đánh là phải.
Còn bây giờ chúng ta gắng hết sức để giữ hòa bình, nhưng chúng ta không sợ, một khi cần thiết phải giữ gìn sự toàn vẹn lãnh thổ.
Trong thư của Câu lạc bộ Lê Hiếu Đằng gửi cho các đại biểu Thành phố Hồ Chí Minh, cũng nói rõ là cần phải có thái độ lịch thiệp ; với bề dày truyền thống, phải tôn trọng người đại diện của nhân dân Trung Quốc láng giềng. Nhưng một lãnh tụ mà tuyên bố những câu láo xược như vậy, thì chúng ta cần phải có thái độ !
Nếu (ông Tập) đến đọc diễn văn, tốt nhất là không đến dự. Mà nếu buộc phải đến dự thì không nên vỗ tay. Sở dĩ tôi nói như vậy bởi vì hình như ông (Chủ nhiệm Văn phòng Quốc hội – TM) Nguyễn Hạnh Phúc có đề nghị là phải vỗ tay. Đến cả vỗ tay cũng được « chỉ đạo » nữa thì thôi, hết chuyện nói !
Có lẽ chỉ có Quốc hội Việt Nam mới có thể chỉ đạo được chuyện ấy. Chứ tôi thấy ở các nước dân chủ, không có một Nhà nước nào dám chỉ đạo Quốc hội cả. Ngay cả lãnh tụ của Quốc hội cũng không thể chỉ đạo được từng nghị sĩ.
RFI : Nhưng có lẽ cũng không thể kỳ vọng nhiều vào một Quốc hội mà đa số đại biểu là quan chức ?
Tất nhiên ! Chúng ta không có Quốc hội nào khác, thành ra đành phải vậy. Khi đi bầu Quốc hội, người dân Việt Nam đều biết rằng không thể kỳ vọng vào họ, chứ có phải đợi đến lúc này mới thấy đâu. Chúng ta biết Quốc hội Việt Nam với cách thức bầu bán như thế này, trong một đất nước toàn trị, thì làm gì có người đại biểu thực sự cho người dân.
RFI : Sau bài phát biểu của ông Tập Cận Bình trước Quốc hội Việt Nam, ông có nhận xét như thế nào ?
Tôi thấy ông cũng đủ khôn ngoan để không động đến Biển Đông. Không động đến vấn đề toàn vẹn lãnh thổ, không nói đến « lợi ích cốt lõi », tức những việc nhạy cảm nhất mà ông đã ngang ngược nói ở Liên Hiệp Quốc.
Tôi nghĩ rằng nếu ông nói như vậy, thì chắc là các đại biểu Quốc hội – dù như tôi đã nói là không thể trông mong gì nhiều lắm – nhưng chắc chắn sẽ có nhiều người phản ứng. Bởi vì họ đều là con dân Việt Nam cả. Thành ra ông (Tập) làm như thế là khôn ngoan.
Tuy nhiên những lời ông nói như « hợp tác » rồi « bốn tốt », « mười sáu chữ vàng »…tất cả những cái đó đối với người Việt nó quen thuộc, nhàm chán. Mà càng nhắc thì người ta càng thấy sự mâu thuẫn giữa lời nói và việc làm.
Ông nói phải nhìn vào « đại cục », « đại cục » mới là quan trọng chứ không phải « tiểu cục ». Tôi xin nói là đối với người Việt Nam, cái « tiểu cục » đó chính là « đại cục » đấy ! Còn « đại cục » ông nói tôi không rõ là cái gì, mơ hồ lắm.
Ví dụ, « đại cục » có phải là chủ nghĩa xã hội không ? Thì ngay cả nước ông cũng đã có chủ nghĩa xã hội đâu ! Mà ở Việt Nam thì ông « đảng trưởng » Nguyễn Phú Trọng bảo rằng tới cuối thế kỷ này chưa chắc đã có được chủ nghĩa xã hội hoàn thiện. Nói chung là cả hai nước đều không có cái chủ nghĩa xã hội ấy, thì làm gì có « đại cục » ! Còn không lẽ sự toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam chỉ là « tiểu cục » ?
Cho nên những lời sáo rỗng không thể nào lừa bịp được người dân Việt. Tôi thấy các đại biểu Quốc hội có nén lại, họ căng thẳng mà nghe ông, chứ còn trong lòng họ, nếu có thể nói thật chắc họ cũng không bằng lòng. Chắc cũng có người cảm thấy phẫn nộ, cảm thấy rằng việc Tập Cận Bình qua Việt Nam không thêm được một chút ánh sáng nào cho việc giải quyết vấn đề Biển Đông, giải quyết những chuyện khúc mắc lớn nhất giữa Việt Nam và Trung Quốc.
Mà như vậy, tôi không biết ở một số nào đó do quyền lợi của riêng họ thì như thế nào, nhưng xét về quyền lợi của cả đất nước thì không có gì thay đổi cả.
RFI : Chủ tịch Trung Quốc đến thăm vào thời điểm sắp Đại hội Đảng Việt Nam. Dư luận cho rằng còn có một mục đích là gây sức ép lên vấn đề nhân sự trong giới lãnh đạo Việt Nam, ông nghĩ thế nào ?
Tôi nghĩ rằng không loại trừ khả năng đó. Trong phát biểu của giáo sư Tương Lai hôm mùng 4 trước tượng đài Trần Hưng Đạo ở Saigon, thì giáo sư nói thẳng cái ý đó. Trong một xã hội như Việt Nam, mọi thông tin đều bí mật, chỉ trong một nhóm người nào đó mới biết được, dân chỉ có cách ngồi đoán với nhau. Nhưng tâm lý người Việt Nam sau bao nhiêu năm, thì họ tin là như vậy.
Có phải như thế hay không ? Đó là nhiệm vụ của Nhà nước chứ không phải người dân. Dân người ta cho rằng Tập qua đây là để tác động đến việc bầu cử trong Đại hội Đảng. Trước sự nghi ngờ như vậy – và nghi ngờ ấy không phải là không chính đáng – thì đảng phải có cách, có biện pháp nào để làm cho dân tin là không phải như thế. Đó là trách nhiệm của Nhà nước, đừng bắt người dân phải tin một cách mù quáng.
Một anh bạn email bảo rằng đối với những thành phần bán nước, chỉ nhổ một bãi nước bọt là đủ. Tôi có bình luận, mỗi người một bãi nước bọt thôi, thì kẻ bán nước cũng đủ chết chìm rồi.
RFI : Nhưng những hoạt động phản đối chính sách Trung Quốc ở Biển Đông nói chung và các cuộc biểu tình vừa rồi ở cả hai miền, số người tham gia còn ít, chưa kể chuyện bị trấn áp…
Những hoạt động phản đối trong đó có biểu tình, tôi tin là người dân Việt Nam đều đồng tình. Nhưng số người tham gia ít, không có nghĩa là người ta ơ thờ với những chuyện liên quan đến vận mệnh của đất nước đâu. Mà chỉ cho thấy một điều là đất nước Việt Nam của chúng ta ngột ngạt đến như thế nào, bộ máy quyền lực tác động đến từng người dân mạnh mẽ ra sao.
Số lượng nếu nhiều hơn thì càng vui, nhưng ít như thế không phải không vui. Chúng ta nhớ rằng trước khi Bức tường Berlin sập, số người đi biểu tình có bao nhiêu đâu, và Đức có thể nói là vững vàng nhất ở Đông Âu. Những người cầm quyền cứ nghĩ rằng họ dựa vào sức mạnh bạo lực, mà không nghĩ đến vấn đề căn bản hơn : làm sao có cùng suy nghĩ với người dân. Thì một con đê bị tổ mối ăn có thể sụp khi nào không biết.
RFI : Phải chăng bên cạnh đó còn có một yếu tố là tuyên truyền về biển đảo chủ quyền của Việt Nam trên truyền thông nhà nước và trong các trường học quá ít, nên không gợi lên được ý thức và lòng yêu nước nơi người dân ?
Tôi nghĩ điều đó là trước đây, chứ còn bây giờ, sau khi cái giàn khoan dầu của Trung Quốc tiến vào Việt Nam, thì báo chí đã thay đổi lắm rồi. Trước đây chỉ dám nói là « tàu lạ », bây giờ nói thẳng là tàu Trung Quốc, và người Việt Nam không phải là thiếu thông tin. Nhưng tôi nghĩ máu trên mặt anh Trần Văn Bang là một lời giải thích.
Người ta biểu tỏ lòng yêu nước của mình, thì lực lượng an ninh không ngần ngại dùng những người mặc thường phục đánh người ta như vậy. Tôi thấy anh máu chảy trên mặt mà vẫn vung tay nói « Tôi đuổi Tập Cận Bình nên bị đánh », thì bất cứ ai cũng cảm thấy thương xót cả. Và như thế chế độ còn tồn tại đến khi nào.
Vụ ông Tập Cận Bình qua thăm Việt Nam khiến cho tôi nghĩ lại lời của ông Phùng Quang Thanh – Bộ trưởng Quốc phòng, ủy viên Bộ Chính trị – khi nói rằng « Chúng ta tuyên truyền thế nào mà từ già đến trẻ ai cũng ghét Trung Quốc, điều đó rất có hại ». Câu đó tôi thấy thú vị ở chỗ là cả một bộ máy tuyên truyền cho « bốn tốt, mười sáu chữ vàng » mà cuối cùng ông Bộ trưởng Quốc phòng phải thừa nhận như vậy, chứng tỏ là đã thất bại như thế nào !