- Viết bởi TRẦM THIÊN THU
VRNs (15.02.2015) – Sài Gòn
Giã từ Năm Cũ, sám hối lỗi lầm, quyết tâm trở về với Chúa Trời nhân hậu;
Chào đón Tân Niên, canh tân đời sống, thành thật tín thác nơi Lòng Chúa Xót Thương.
Thời gian cứ ngắn dần, mùa Đông lui bước để nhường chỗ cho mùa Xuân. Đó là quy luật muôn thuở.
Dân tộc nào cũng có ngày Tết riêng. Dù muốn dù không, dù trẻ hay già, dù nam hay nữ, tất cả đều cảm thấy cõi lòng rạo rực, nô nức, dù ít hay nhiều, dù chỉ là vô thức hoặc không muốn. Ngoại tại khả dĩ tác động nội tại.
Thời gian là của Chúa. Thời gian không thuộc quyền của chúng ta, nhưng chúng ta được Chúa cho phép quản lý thời gian của mình. Đó là trách nhiệm. Ai cũng có mỗi ngày 24 giờ, không hơn 1 giây, không kém 1 giây. Dùng thời gian đó làm điều tốt hay xấu là quyền của mỗi người. Nén-thời-gian Ngài đã trao và cho chúng ta hoàn toàn tự do sử dụng.
Chúa rất muốn chúng ta vui. Dân tộc nào cũn có cách vui Xuân đặc trưng. Có nhiều cách ăn tết, thế nên mỗi người đón tết cũng rất khác nhau. Có người chỉ cần một cành mai, có người muốn nếm miếng bánh chưng, có người thích ăn một miếng mứt, có người ưa ăn một miếng dưa, có người khoái sắm chiếc áo mới, có người dành thời gian đọc sách báo, nghiên cứu, hoặc làm từ thiện,… Thế nhưng có người lại cố gắng thể hiện bề ngoài cho ra vẻ tết nhất để hợp với “đẳng cấp” của mình. Mỗi người mỗi kiểu, mỗi người có quan niệm riêng và phong cách riêng.
Tết nhau cũng đa dạng, tùy theo “thần tài” nhà mình, do đó mà lễ vật cũng mỗi người mỗi vẻ, mức “nặng” và “nhẹ” cũng rất khác nhau. Các “ông to, bà lớn” rất vui khi được “bề dưới” thể hiện bản lĩnh “biết điều” sao cho đúng mức. Người nghèo cũng rất vui khi được các nhà hảo tâm tặng vài kg gạo, túi đường hoặc bịch mứt. Giá trị vật chất khác nhau, nhưng giá trị tinh thần có thể giống nhau về niềm vui mà lại không giống nhau về “ý nghĩa”. Nhiêu khê quá!
Có người nói “tết là chết trong lòng”, thật cũng hợp lý lắm!
Với con người là thế. Người ta lo tết nhau những thứ có giá trị “thực tế”, làm đẹp lòng nhau bằng vật chất. Người ta cân-đo-đong-đếm giá trị tinh thần bằng chính giá trị vật chất, người nghèo không “chết trong lòng” sao được!
Về tinh thần thì sao? Có lẽ người ta không chú trọng nhiều đến việc xin lỗi nhau, dù ai cũng có lỗi, mà Tết là dịp để gặp gỡ nhau. Dù không nói ra, nhưng chính sự gặp nhau đó ngầm hiểu là tha thứ cho nhau. Chính sự giao hòa và lòng tha thứ mới là “quà tết” giá trị nhất.
Còn với Chúa thì sao? Thực sự chúng ta chỉ là những tội đồ vô cùng khốn nạn, hoàn toàn bất túc và bất trác, nhận rất nhiều mà chẳng có gì xứng đáng để tết Chúa, như Tv 115 nói: “Con biết lấy gì dâng lại cho Chúa, để đền đáp những điều Ngài ban tặng cho con?”, thế nên chúng ta chỉ biết tiếp tục làm như Tv 115 dạy: “Con sẽ dâng Chén Cứu Độ và con sẽ kêu cầu Thánh Danh Chúa chí tôn”. Vả lại, chính Chúa cũng xác định: “Tôi muốn lòng nhân chứ đâu cần lễ tế” (Mt 9:13), Ngài cho chúng ta tất cả: “Tôi đến để cho con người được sống và được sống dồi dào” (Ga 10:10). Thế nên Ngài không đòi hỏi gì ở chúng ta, Ngài chỉ muốn chúng ta đối xử tốt với nhau, và Ngài coi đó là làm cho chính Ngài.
Chúa không cần chúng ta tết Chúa, nhưng Ngài muốn chúng ta tết tha nhân bằng chính tấm lòng chân thành nhất: YÊU THƯƠNG NHAU. Chúa Giêsu gọi đó là Điều Răn Mới: “Thầy ban cho anh em một điều răn mới là anh em hãy yêu thương nhau; anh em hãy yêu thương nhau như Thầy đã yêu thương anh em” (Ga 13:34; Ga 15:12). Đó là “dấu hiệu” chứng tỏ ai là nhân chứng đức tin: “Mọi người sẽ nhận biết anh em là môn đệ của Thầy ở điểm này: là anh em có lòng yêu thương nhau” (Ga 13:35). Chúa Giêsu nhắc lại: “Điều Thầy truyền dạy anh em là hãy yêu thương nhau” (Ga 15:17).
Chúa Giêsu thường nhắc đi nhắc lại: “Hãy yêu thương nhau”. Điều đó cho thấy Luật yêu cực kỳ quan trọng trong cuộc sống người Công giáo nói riêng. Và đó mới là Quà Tết đẹp lòng Chúa nhất. Chính món quà đó là những thứ Chúa muốn, nhưng không để lợi ích cho Ngài, mà là để lợi ích cho chính chúng ta và tha nhân. Tất nhiên, Quà tết đó sẽ thắm sắc màu Tin Cậy Mến:
Đầu Xuân con dâng lễ
Tết Thiên Chúa chí nhân
Quà Tết con chia sẻ
Là yêu thương tha nhân
Món quà yêu thương là Quà Tết quý giá, nhưng Quà Tết thánh đức nhất lại không gì bằng chính Con Thiên Chúa:
Bánh, rượu con dâng tiến
Xin Thiên Chúa chúc lành
Hóa thành Mình Máu Chúa
Hồn con đón Chúa Xuân
Chúa cũng sẽ rất vui chúc lành nếu chúng ta không chỉ giao hòa với Ngài mà còn cầu nguyện cho đất nước yêu dấu, tổ quốc thân thương, nơi mình đang sinh sống, với tâm tình cảm tạ:
Xuân mới đầy Ơn Thánh
Đức Chúa ban muôn người
Tình đồng loại thắm nở
Khắp nước Việt nơi nơi
Và dâng cho Chúa tất cả những nỗi niềm, lo toan, mơ ước, dự tính,… trong năm mới:
Đầu Xuân con dâng Chúa
Những mơ ước tin yêu
Rạng rỡ như hoa nở
Người luôn yêu thương nhau
Quà Tết dành cho Chúa còn là món quà “vâng lời”, như Đức Mẹ đã “xin vâng” (Lc 1:38), là thực hiện những điều Ngài dạy qua Kinh thánh:
– “Ai muốn theo tôi, phải từ bỏ chính mình, vác thập giá mình hằng ngày mà theo” (Lc 9:23).
– “Anh em hãy có lòng nhân từ, như Cha anh em là Đấng nhân từ” (Lc 6:36).
– “Chính anh em hãy cho họ ăn” (Lc 9:13), vì “cho thì có phúc hơn là nhận” (Cv 20:35).
– “Anh em đừng bao giờ thốt ra những lời độc địa, nhưng nếu cần, hãy nói những lời tốt đẹp, để xây dựng và làm ích cho người nghe” (Ep 4:29).
– Đừng mắc nợ gì ai, ngoài món nợ tương thân tương ái (Rm 13:8).
Và còn rất nhiều “món quà” khác chúng ta phải tết Chúa hôm nay và suốt cuộc đời này…
Lạy Chúa Xuân vĩnh hằng, chúng con chỉ là những đầy tớ vô dụng (Lc 17:10), chúng con thành tâm xin lỗi Chúa, xin Ngài thương xót mà tha thứ tội lỗi cho chúng con. Xin cảm tạ Chúa về mọi ơn lành Ngài đã ban cho chúng con trong năm qua, và xin thương xót mà chúc lành cho năm mới của chúng con. Xin giúp chúng con biết sống vuông tròn Ý Ngài trong từng hơi thở của chúng con, luôn thể hiện yêu thương và khiêm nhường ngay từ trong ý nghĩ, đúng như Con Chúa đã truyền dạy. Chúng con cầu xin nhân danh Đức Kitô, Thiên Chúa cứu độ của chúng con. Amen.
TRẦM THIÊN THU
Nguồn: DCCT
- Viết bởi TRẦM THIÊN THU
VRNs (14.02.2015) – Sài Gòn – Bệnh phong còn gọi là bệnh hủi hay cùi, do vi khuẩn Hansen (1) gây ra. Vi khuẩn này không có bào tử nên nó không lây qua vật trung gian. Khi ở ngoài, nó chỉ tồn tại được 1-2 ngày. Loại vi khuẩn Mycobacterium Leprae và Mycobacterium Lepromatosis là tác nhân gây bệnh phong. Da thịt bệnh nhân thường nổi nhọt, lở loét, nặng hơn thì vết thương lõm vào da thịt, lông mày rụng, mắt lộ ra,…
Bệnh nhân phong chịu đựng sự đau nhức vào những đêm trăng sáng, trăng càng sáng thì họ càng đau nhức vì vi khuẩn rúc rỉa, do đó mà Thi sĩ Phanxicô Hàn Mặc Tử (Nguyễn Trọng Trí, 1912-1944) đã mong ước “khác người” khi ông thốt lên: “Ai mua trăng, tôi bán trăng cho…” (Trăng Vàng Trăng Ngọc).
Tình trạng mất cảm giác xuất hiện ở một vài bộ phận trên cơ thể do dây thần kinh bị nhiễm trùng. Sau đó các bắp thịt tiêu đi, gân cốt co rút lại, khiến đôi tay co quắp. Ở mức độ nặng ngón tay ngón chân rụng dần. Ước vọng của họ rất đơn giản: Khỏi bệnh. Họ khổ cả thể lý lẫn tinh thần vì bị mọi người xa lánh, kỳ thị. Ngày nay, bệnh phong đã trị được, nhưng người ta vẫn “ngại” khi tiếp xúc với bệnh nhân phong.
Bệnh phong xuất hiện từ xa xưa, thời Cựu Ước cũng đã có. Thời đó, Đức Chúa phán với ông Môsê và ông Aharon: “Khi trên da thịt người nào phát ra nhọt, lác hoặc đốm, và cái đó trở thành vết thương phong hủi, người ta sẽ đưa người ấy đến với tư tế Aharon hoặc với một trong các tư tế, con của Aharon” (Lv 13:1-2). Kinh Thánh giải thích: “Tư tế sẽ khám người ấy: nếu nhọt ở vết thương có màu trắng đỏ nhạt ở chỗ sói đầu hoặc sói trán, trông giống như phong hủi da thịt, người ấy bị phong hủi: người ấy ô uế. Tư tế sẽ tuyên bố người ấy là ô uế, nó bị vết thương ở đầu” (Lv 13:43-44). Các bệnh nhân hóa nạn nhân, vì họ không chỉ khổ thể lý mà còn khổ tâm, có thể nói đối với họ là điều sỉ nhục!
Thật vậy, vì thời đó người ta lập ra “quy chế người phong hủi”, khắt khe và tàn nhẫn lắm: “Người mắc bệnh phong hủi phải mặc áo rách, xoã tóc, che râu và kêu lên: ‘Ô uế! Ô uế!’. Bao lâu còn mắc bệnh thì nó ô uế; nó ô uế: nó phải ở riêng ra, chỗ ở của nó là một nơi bên ngoài trại” (Lv 13:45-46). Ngày nay, cái quan niệm tàn nhẫn đó vẫn chưa thể “tẩy não” hoàn toàn được! Nếu có dịp đến Trại Phong Di Linh (2), bạn sẽ thấy các bệnh nhân phong thật đáng thương. Họ có vẻ ít nói với vẻ ngần ngại lắm. Có lẽ họ không dám tin rằng người đối diện với họ không ác ý, vì trong tâm trí họ đã in sâu “nếp nghĩ” rồi!
Phong cùi thể lý thật đáng sợ và đáng thương, nhưng phong cùi tâm linh còn đáng sợ và đáng thương hơn. Ai trong chúng ta cũng đã từng bị chứng “phong cùi” này. Nhưng thật diễm phúc vì chúng ta có Đại Bác Sĩ Giêsu chữa trị. Tác giả Thánh Vịnh nói: “Hạnh phúc thay, kẻ lỗi lầm mà được tha thứ, người có tội mà được khoan dung. Hạnh phúc thay, người Chúa không hạch tội, và lòng trí chẳng chút gian tà” (Tv 32:1-2). Dạng diễm phúc này đôi khi chúng ta không để ý, nhưng thực sự là niềm hạnh phúc khôn tả, vì được Thiên Chúa chúc phúc.
Một khi cảm nhận được như vậy, chắc hẳn người ta không ngần ngại hoặc lần lữa đến với Bí tích của Lòng Chúa Thương Xót: “Con đã xưng tội ra với Ngài, chẳng giấu Ngài lầm lỗi của con. Con tự nhủ: ‘Nào ta đi thú tội với Chúa’, và chính Ngài đã tha thứ tội vạ cho con” (Tv 32:5). Sau đó, người ta còn chia sẻ với người khác về niềm vui thánh thiện: “Hỡi những người công chính, hãy vui lên trong Chúa, hãy nhảy mừng. Mọi tâm hồn ngay thẳng, nào cất tiếng hò reo!” (Tv 32:11).
Có Chúa là có tất cả. Người có Chúa không còn ham mê điều gì khác ngoài Chúa, và họ làm gì cũng chỉ muốn tôn vinh Chúa. Đúng như Thánh Phaolô khuyên: “Dù ăn, dù uống, hay làm bất cứ việc gì, anh em hãy làm tất cả để tôn vinh Thiên Chúa. Anh em đừng làm gương xấu cho bất cứ ai, dù là cho người Do-thái hay người ngoại, hoặc cho Hội Thánh của Thiên Chúa; cũng như tôi đây, trong mọi hoàn cảnh, tôi cố gắng làm đẹp lòng mọi người, không tìm ích lợi cho riêng tôi, nhưng cho nhiều người, để họ được cứu độ” (1 Cr 10:31-33). Người biết sống vì Chúa thì cũng biết vì tha nhân, bởi vì thước đo lòng mến Chúa là lòng yêu người. Vả lại, ai nói yêu mến Chúa mà lại ghét tha nhân thì là kẻ nói dối (1 Ga 4:20). Ước gì chúng ta khả dĩ mạnh dạn nói được như Thánh Phaolô khi chúng ta tâm sự với người khác: “Anh em hãy bắt chước tôi, như tôi bắt chước Đức Kitô” (1 Cr 11:1).
Trình thuật Mc 1:40-45 nói về việc Đức Giêsu chữa người bị phong hủi (Mt 8:1-4; Lc 5:12-16). Một hôm, có người bị phong hủi đến gặp Ngài, anh ta quỳ xuống van xin: “Nếu Ngài muốn, Ngài có thể làm cho tôi được sạch”. Chữ “” ở đây không phải là nghi ngờ, mà chỉ là “một cách nói” mà thôi. Chắc hẳn người này đã rất khổ sở vì mắc bệnh phong đã lâu, khổ đủ thứ, và anh rất muốn được khỏi để không bị xã hội ruồng rẫy. Anh đến cầu xin với Chúa Giêsu, chứng tỏ anh rất vững tin vào Ngài, tin chắc Ngài là người có quyền phép vô song. Anh tin thật chứ không mê tín dị đoan hoặc xin theo phong trào như nhiều người ngày nay vẫn làm. Vâng, vấn đề quan trọng là niềm tin chân thành và vững vàng.
Nghe anh nói, Chúa Giêsu đã chạnh lòng thương giơ tay đụng vào anh và bảo: “Tôi muốn, anh sạch đi!”. Thật hạnh phúc cho anh vì ước muốn của anh hoàn toàn hợp ý Chúa. Thế nên ngay lập tức, chứng phong hủi biến khỏi anh, và anh được sạch. Anh đã được toại nguyện.
Nhưng Ngài nghiêm giọng đuổi anh đi ngay, và bảo anh: “Coi chừng, đừng nói gì với ai cả, nhưng hãy đi trình diện tư tế, và vì anh đã được lành sạch, hãy dâng những gì ông Môsê đã truyền, để làm chứng cho người ta biết”. Chúa Giêsu bảo anh “coi chừng” vì anh có nói ra cũng chẳng ai tin, và những kẻ có quyền hành chỉ muốn tìm dịp để bắt giết Ngài. Tuy nhiên, làm sao anh có thể im lặng được, và anh không thể hoãn lại cái sự sung sướng ấy, thế nên vừa ra khỏi đó, anh đã bắt đầu rao truyền và tung tin ấy khắp nơi, đến nỗi Ngài không thể công khai vào thành nào được, mà phải ở lại những nơi hoang vắng ngoài thành.
Nhưng Ngài có đi đâu thì người ta cũng tìm cho bằng được, bởi vì họ đã tận mắt thấy anh chàng phong cùi hôm nào đã sạch hoàn toàn. Lạ quá sức! Và rồi dân chúng từ khắp nơi kéo đến với Ngài, đông như trẩy hội.
Ai cũng có những ước vọng, dù lớn hay nhỏ, ước vọng cho chính mình và cho người khác, nhất là cho những người thân yêu. Ước vọng có thể cao thượng, bình thường hoặc tầm thường. Thi văn sĩ kiêm lý luận phê bình Samuel Johnson (1709-1784, Anh quốc) nói: “Mỗi người đều giàu có hay nghèo khổ tùy thuộc tỷ lệ giữa niềm ước vọng và sự thỏa mãn của mình”.
Thiên Chúa biết rõ mọi ước vọng thầm kín của chúng ta (Tv 38:10). Tác giả Thánh Vịnh cho biết: “Ngài nghe thấy ước vọng của kẻ nghèo hèn; Ngài cho họ an lòng và lắng tai nghe họ, để bênh kẻ mồ côi và người bị áp bức, khiến cho kẻ mang thân cát bụi, chẳng còn khủng bố ai” (Tv 10:17-18).
Lạy Thiên Chúa, xin giúp chúng con biết cầu xin Con Một Ngài chữa lành “chứng phong cùi” tâm hồn của chúng con. Xin dẫn chúng con đến với những người nhỏ bé hèn mọn trong xã hội, trong Giáo Hội, để chúng con thông cảm và chia sẻ với họ bằng tấm lòng chân thành vì Danh Thánh Đức Giêsu Kitô. Người là Đấng hằng sinh và hiển trị cùng Thiên Chúa Cha, hiệp nhất với Chúa Thánh Thần, đến muôn thuở muôn đời. Amen.
TRẦM THIÊN THU
(1) Bác sĩ Armauer Hansen, người Na-Uy, đã phát hiện vi khuẩn gây bệnh phong vào năm 1873.
(2) ĐGM Cassaigne, thường được gọi thân thương là Cha Sanh, thuộc Hội Thừa Sai Balê, đến Di Linh năm 1927. Chính ngài đã lập Trại Phong Di linh (Djiring) năm 1929. Ngài sinh ngày 30-1-1895 tại Grenade (Pháp), thụ phong linh mục ngày 19-2-1925. Ngài được bổ nhiệm làm giám mục chánh tòa Saigon, lễ tấn phong giám mục diễn ra tại Nhà Thờ Đức Bà ngày 24-6-1941. Khẩu hiệu Giám mục của ngài là “Bác Ái và Yêu Thương” (Caritas et Amor). Ngài qua đời lúc 10 giờ đêm ngày 30-10-1973 và được mệnh danh là “Tông Đồ của Người Cùi”.
Nguồn: DCCT
- Viết bởi TRẦM THIÊN THU (Viết theo Beliefnet.com)
VRNs (14.02.2015) – Sài Gòn – Ngày 14 tháng Hai hằng năm là Valentine’s Day – Ngày Tình Yêu hoặc Ngày Tình Nhân. Ngày này dành cho những người hẹn hò yêu đương với nhau. Nhưng ngày này nhắc nhở bạn về tình yêu tâm linh, tình yêu bạn dành cho Chúa Giêsu. Như vậy, Valentine’s Day phải là Ngày Tình Yêu Thánh đối với các Kitô hữu chúng ta.
Thánh nữ “bông hoa nhỏ” Têrêsa đã gọi Chúa Giêsu là Đức Tình Quân. Mỗi chúng ta đều có cuộc “hôn nhân mầu nhiệm” với Chúa Giêsu. Tại sao chúng ta phải yêu mến Ngài? Đây là 10 lý do xác định Chúa Giêsu là người yêu của bạn:
- NGÀI TRỢ GIÚP BẠN
“Thầy sẽ xin Chúa Cha và Người sẽ ban cho anh em một Đấng Bảo Trợ khác đến ở với anh em luôn mãi. Đó là Thần Khí sự thật, Đấng mà thế gian không thể đón nhận, vì thế gian không thấy và cũng chẳng biết Người. Còn anh em biết Người, vì Người luôn ở giữa anh em và ở trong anh em. Thầy sẽ không để anh em mồ côi. Thầy đến cùng anh em” (Ga 14:16-18). Chúa Giêsu không bỏ mặc bạn một mình, Ngài giúp đỡ bạn qua Chúa Thánh Thần, Đấng giữ bạn đi trên đường ngay nẻo chính.
- NGÀI BAN SỨC MẠNH
“Với Đấng ban sức mạnh cho tôi, tôi chịu được hết” (Pl 4:13). Thánh Phaolô biết rằng ngài có sức mạnh nhờ Chúa Giêsu hoàn tất công việc của thánh nhân. Ơn Chúa đủ cho chúng ta, chỉ cần chúng ta mở lòng ra đón nhận!
- NGÀI THEO ĐUỔI BẠN
“Những ai đón nhận, tức là những ai tin vào danh Người, thì Người cho họ quyền trở nên con Thiên Chúa” (Ga 1:12). Chúa Giêsu theo đuổi chúng ta mọi nơi, muốn chúng ta là con cái Thiên Chúa và được trường sinh trong Vương Quốc của Thiên Chúa.
- NGÀI CHIẾN THẮNG TỬ THẦN CHO BẠN
“Chính Đức Kitô đã tiêu diệt thần chết, và đã dùng Tin Mừng mà làm sáng tỏ phúc trường sinh bất tử” (2 Tm 1:10). Chúa Giêsu chết trên Thập Giá để ban sự sống dồi dào cho bạn. Ngài ghét tội lỗi, bệnh tật và bất công, ghét đến nỗi làm cho ách của chúng ta trở nên thoải mái và gánh nặng của chúng ta trở nên nhẹ nhàng.
- NGÀI CẦU NGUYỆN CHO BẠN
“Con không chỉ cầu nguyện cho những người này, nhưng còn cho những ai nhờ lời họ mà tin vào con, để tất cả nên một, như Cha ở trong con và con ở trong Cha để họ cũng ở trong chúng ta” (Ga 17:20-21). Bạn là phần lớn trong đời sống cầu nguyện của Chúa Giêsu. Ngài luôn luôn là Đấng trung gian biện hộ cho chúng ta trước mặt Chúa Cha.
- NGÀI CỨU ĐỘ BẠN
“Chính do ân sủng và nhờ lòng tin mà anh em được cứu độ: đây không phải bởi sức anh em, mà là một ân huệ của Thiên Chúa; cũng không phải bởi việc anh em làm, để không ai có thể hãnh diện” (Ep 2:8-9). Chúa Giêsu cứu bạn thoát khỏi thung lũng tử thần và sự hủy diệt. Ngài đưa bạn vào Vương Quốc của Thiên Chúa bằng lòng thương xót của Ngài.
- NGÀI TUYỂN CHỌN BẠN
“Anh em là giống nòi được tuyển chọn, là hàng tư tế vương giả, là dân thánh, dân riêng của Thiên Chúa, để loan truyền những kỳ công của Người, Đấng đã gọi anh em ra khỏi miền u tối, vào nơi đầy ánh sáng diệu huyền” (1 Pr 2:9). Chúng ta được tuyển chọn để làm vinh danh Thiên Chúa. Chúa Giêsu giáo dưỡng chúng ta suốt hành trình tâm linh và đưa chúng ta càng ngày càng lên cao.
- NGÀI BÊNH VỰC BẠN
“Ai sẽ buộc tội những người Thiên Chúa đã chọn? Chẳng lẽ Thiên Chúa, Đấng làm cho nên công chính?34 Ai sẽ kết án họ? Chẳng lẽ Đức Giêsu Kitô, Đấng đã chết, hơn nữa, đã sống lại, và đang ngự bên hữu Thiên Chúa mà chuyển cầu cho chúng ta?” (Rm 8:33-34). Chúa Giêsu là Đấng bảo vệ và biện hộ cho chúng ta trước mặt Chúa Cha.
- NGÀI CHUẨN BỊ CHỖ Ở CHO BẠN
“Trong nhà Cha Thầy, có nhiều chỗ ở; nếu không, Thầy đã nói với anh em rồi, vì Thầy đi dọn chỗ cho anh em” (Ga 14:2). Chúa Giêsu không để chúng ta mồ côi, Ngài về trời chuẩn bị chỗ ở cho chúng ta, rồi Ngài sẽ trở lại để đón chúng ta về với Chúa Cha.
10. NGÀI YÊU THƯƠNG BẠN
“Đức Kitô đã chết vì chúng ta, ngay khi chúng ta còn là những người tội lỗi; đó là bằng chứng Thiên Chúa yêu thương chúng ta” (Rm 5:8). Đời đời Chúa Giêsu yêu thương bạn vô hạn, không chỉ trong ngày Valentine, mà Ngài làm cho bạn vui sống suốt 365 ngày.
TRẦM THIÊN THU (Viết theo Beliefnet.com)
Nguồn: DCCT
- Viết bởi Lm. Jos Tạ Duy Tuyền
VRNs (13.02.2015) – Đồng Nai – Có ai đó nói rằng: “Yêu thương và lòng trắc ẩn là những thứ thiết yếu trong cuộc đời. Không có yêu thương và lòng trắc ẩn, nhân loại không thể tồn tại”. Nhờ tình yêu thương và lòng trắc ẩn mà con người mới dành cho nhau những nghĩa cử cao đẹp của tình người, tình đồng loại. Nhờ tình yêu và lòng trắc ẩn con người mới tìm cách làm cho thế giới này bớt khổ hơn.
Có một một chàng thanh niên tình cờ nghe một mẩu đối thoại:
-Ăn hộ tôi mớ rau cô ơi! Tiếng bà cụ già yếu ớt bán rau giữa trời sương gió giá rét.
-Rau thế này mà bán cho người ăn à? Bà mang về cho lợn! Tiếng chan chát của một cô gái tuổi đôi mươi đáp lời bà cụ.
Chàng thanh niên cau mày đợi cô gái đi rồi hỏi bà :
-Rau này bà bán bao nhiêu ?
-Hai nghìn một mớ. Bà cụ mừng rỡ.
Chàng rút tờ mười nghìn đưa cho cụ và nói : Bây giờ con phải đi làm, bà cho con gửi đến chiều con về qua con lấy !
Nhưng công việc bộn bề đã khiến chàng trai quên luôn sự việc trên và vài tuần sau đó khi trở lại, anh cay đắng biết được thông tin chỉ vì đợi anh trong cơn mưa suốt buổi chiều hôm đó, bà lão đã bị cảm và vĩnh viễn ra đi…
Câu chuyện trên có thực hay không thực, điều đó không quan trọng. Điều quan trọng là trong xã hội này, chúng ta cần nhiều lắm những tấm lòng trắc ẩn như chàng trai. Anh đã mua mớ rau của bà như mua niềm vui tặng bà, vì có ai đó đã cảm thông và lắng nghe lời van xin của bà. Cái chết của bà chỉ là một tai nạn, điều quan yếu là trong xã hội vẫn còn đó lòng trắc ẩn yêu thương dành cho đồng loại.
Đọc lại Tin mừng chúng ta thấy rõ nét về lòng trắc ẩn nơi Chúa Giê-su. Lòng trắc ẩn ấy không dừng lại ở sự cảm thông, mà còn bằng hành động xoa dịu nỗi đau cho tha nhân. Ngài đã trắc ẩn trước đoàn lũ đói khát đang đi theo Ngài. Ngài đã trắc ẩn trước cái chết của Lagiaro. Ngài cũng trắc ẩn trước những nỗi đau của những người mang bệnh tật trong mình. Ngài còn đồng hóa mình nơi những phận người kém may mắn trong cuộc sống. Ngài đã làm tất cả những gì trong khả năng để xoa dịu nỗi đau cho những ai đến với Ngài.
Hôm nay, lòng trắc ẩn ấy Chúa đã dành cho người phong hủi tại cửa thành. Hành vi Chúa Giê-su đụng chạm đến người phong cùi như tấm lòng của Chúa luôn vượt qua mọi rào cản để đụng đến con tim người phong hủi. Một người bị bỏ rơi nay được Đức Giê-su trìu mến quan tâm. Một người bị loại ra khỏi xã hội loài người nay được Đức Giê-su chữa lành để có thể hội nhập với xã hội. Tình thương và lòng trắc ẩn của Chúa đã cứu sống một con người, và đã mang lại niềm vui hạnh phúc cho người bất hạnh đang mang trong mình bệnh phong trầm kha.
Cuộc đời sẽ đẹp biết bao khi chúng ta có lòng trắc ẩn với tha nhân. Lòng trắc ẩn khiến chúng ta biết mình phải làm gì để xoa dịu nỗi đau. Lòng trắc ẩn là nhịp cầu dẫn chúng ta tới với tha nhân. Lòng trắc ẩn khiến chúng ta không còn dửng dưng với những mảnh đời bất hạnh bên cạnh chúng ta.
Nhưng đáng tiếc, thế giới chúng ta đang sống có quá nhiều người dửng dưng với đồng loại. Họ chủ trương « mackeno » cho an phận. Dường như con người ngày nay mất đi tình liên đới để chỉ sống cho bản thân, hưởng thụ cho bản thân và chỉ tìm lợi ích cho bản thân. Dường như con người hôm nay rất cô đơn tuy sống giữa biển người bao la.
Xin Chúa giúp chúng ta biết cởi bỏ vỏ bọc ích kỷ của mình để sống chan hòa tình yêu với tha nhân. Xin cho chúng ta biết trao cho nhau những nghĩa cử yêu thương thay cho những thái độ thờ ơ lạnh nhạt. Xin cho chúng ta biết học nơi Chúa luôn yêu thương và sẵn lòng phục vụ tha nhân. Amen
Lm. Jos Tạ Duy Tuyền
- Viết bởi Lm. An-rê Đỗ Xuân Quế
Tết là những ngày lễ rất quan trọng, đặc biệt đối với người Việt Nam. Trong những ngày này, người ta thăm viếng, tưởng nhớ đến nhau và cầu chúc cho nhau những điều tốt đẹp. Những câu chúc quen thuộc luôn ở trên môi và đầu lưỡi của mọi người lớn bé già trẻ. Gần đây xuất hiện một cụm từ mới gọi là Văn Hóa Tết để nói về những điều đó.
Ngoài tinh thần Văn Hóa Tết của phần chung đồng bào, Người Công Giáo lại còn có những Ngày Lễ Tết : Lễ Giao Thừa, Lễ Minh Niên, Lễ Cầu Cho Tổ Tiên, Lễ Thánh Hóa Công Ăn Việc Làm. Mỗi lễ một ý nghĩa. Lễ Giao Thừa có những lời cầu phúc riêng trong đó. Những lời người ta chúc cho nhau trong Ba Ngày Tết là những lời chúc theo lối dân gian, còn lời cầu phúc trong Đêm Lễ Giao Thừa đúng là những lời cầu để mà chúc. Người tin Chúa cầu phúc cho người thân thay vì chỉ chúc phúc. Lời chúc tự nó đã đẹp rồi, nay thêm lời cầu nữa, chắc hy vọng sẽ có kết quả thiết thực hơn, do lòng tin của người cầu và sức mạnh cùng quyền năng của Đấng được cầu xin.
Đây là những lời cầu phúc trong Đêm Lễ Giao Thừa mà chủ điểm là cầu bình an và xin ơn hạnh phúc.
Thật vậy, Đức Chúa bảo ông Mô-sê nói với ông Áp-ra-ham và các con của ông này rằng khi chúc lành cho con cái của Ít-ra-en thì hãy nói thế này : “Nguyện Thiên Chúa chúc lành và gìn giữ anh em ! Nguyện Đức Chúa tươi nét mặt nhìn đến anh em và rủ lòng thương anh em ! Nguyện Đức Chúa ghé mắt nhìn và ban bình an cho anh em.”
Qua câu cuối cùng này, bình an là một ơn huệ. Vì là ơn huệ nên phải cầu, phải xin mới được. Xin Chúa chúc lành và gìn giữ chúng ta. Chúng ta cần được Chúa chúc lành và gìn giữ thì mới được bình an. Chúa chúc lành là Chúa ban ơn phúc, Chúa gìn giữ là Chúa bảo vệ, rồi Chúa lại “tươi nét mặt nhìn đến và rủ lòng thương”
Như vậy, bình an là một bước đường qua hai giai đoạn : giai đoạn thứ nhất là được Chúa chúc lành và gìn giữ ; giai đoạn thứ hai là được Chúa ghé mắt nhìn và ban bình an. Thánh Âu-tinh đã tạo điều kiện cho chúng ta đón nhận và sống trong bình an, khi đưa ra một câu định nghĩa chí lý về bình an : “Bình an là sự ổn định của trật tư”. (Pax, tranquillitas ordinis) : trật tự giữa ta với Chúa, giữa ta với tha nhân và giữa ta với ta. Trật tự giữa ta với Chúa là khi chúng ta ở trong tình trạng ơn nghĩa, trật tự giữa chúng ta với tha nhân là khi chúng ta giữ đức công bình, tôn trọng danh dự và quyền lợi của người ta, còn trật tự với chình mình là khi chúng ta điều khiển được mình, không để cho mình buông theo những dục vọng bất chính hay sống một đời vô tổ chức, không nguyên tắc, không đường lối, không lý tưởng. Trong Thánh Lễ Giao Thừa, chúng ta cầu xin cho được sự bình an đó.
Sau bài Sách Dân Số nói về sự bình an thì tới Bài Tin Mừng nói đến Các Mối Phúc Thật. Thường thì ai cũng thích được hạnh phúc và hạnh phúc thông thường thôi, chứ không phải hạnh phúc đích thật như trong Bài Giảng Trên Núi. Hạnh phúc này đối với phần đông là xa xôi, viển vông và xem ra không thực tế một chút nào. Ở đời, mấy ai cho nghèo khổ, bị ngược đãi là phúc. Thế mà Đức Giê-su lại rao giảng và cho những điều đó là phúc mà lại là phúc thật ! Vậy cần phải hiểu chữ phúc ở đây theo lời dạy của Chúa.
Trước hết, Chúa nói đến phúc của những người có tâm hồn nghèo khó. Những người này không phải là những người nghèo khổ túng đói mà là những người đơn sơ, nghèo nàn mà không cùng khổ,nhưng khiêm tốn và biết trông cậy vào Chúa, biết giải gỡ lòng mình cho khỏi những sự ham mê tiền tài vật chất một cách quá đáng đến nỗi quên cả luân thường đạo lý. Người có tinh thần nghèo khó là người biết dùng của cải một cách hợp lý, không để cho tiến tài mê hoặc lòng mình mà làm những điều thất nhân thất đức. Người có tinh thần nghèo khó là người như vậy, chứ không phải người lang thang cùng khổ ở đầu đường, xó chợ. Những người như thế là nạn nhân của sự nghèo đói, là sự thất bại của một xã hội kém tổ chức và vụng điều hành, là một cái nạn trong xã hội mà những người cầm quyền trị nước và những nhà hoạt động chính trị theo đúng nghĩa có bổn phận phải lo giải quyết.
Thánh Tô-ma A-qui-nô cũng nói :”Phải có một chút dễ chịu tối thiểu để thực hành nhân đức.” (Il faut un minimum de bien- être pour pratiquer la vertu) Như thế có nghĩa là nếu nghèo khổ cùng cực quá đáng thì cũng khó thực hành nhân đức. Vậy, sống nghèo nhưng là nghèo theo tinh thần Tám Mối Phúc Thật. Do đó, Chúa nhằm tới tinh thần và tấm lòng nhiều
hơn.
Rồi Chúa lại cho những người sầu khổ là may lành hạnh phúc. Thường mất nhà mất của, mất công ăn việc làm, bị lường gạt, ốm đau, buôn thua bán lỗ là người ta buồn. Bây giờ bảo những người như thế là có phúc thì thật Là ngược đời. Nhưng người sầu khổ ở đây không phải là những người đó, mà là những người lo buồn vì tội lỗi của mình, thấy mình bất trung, tinh thần bạc nhược, muốn vươn lên nhưng không có sức. Họ cảm thấy mình thiếu vắng nghị lực và sức sống tinh thần. Vì vậy, họ buồn sầu khổ sở và ao ước thoát khỏi tình trạng này để được nên thân tình với Chúa. Ngoài ra, Chúa còn cho những người hiền lành, khát khao sự công chính, xót thương người và có lòng trong sạch cũng như những người bị ngược đãi vì chính đạo là có phúc. Những điều này dễ hiểu hơn và tương đối cũng ít gây ra thắc mắc. Nhưng dù sao vẫn là những điều khó hiểu và khó chấp nhận đối với phần đông loài người. Vì thế, Chúa mới nói trong Tin Mừng:’Ai có tai thì nghe.” (Mt 11,15; Mc 4,9 ; Lc 8,8) Chúng ta có tai nhưng không biết đã nghe chưa. Vậy xin Chúa cho chúng ta biết nghe và hiểu được lời của Chúa để thực hành trong đời sống mỗi ngày.
Trong Thánh Lễ Giao Thừa, các tín hữu đã dựa vào các Bài Sách Thánh để suy nghĩ về Sự Bình An và những Mối Phúc Thật. Người Công Giáo đi lễ trong Đêm Giao Thừa cũng là để cầu nguyện cho được bình an và hạnh phúc trong Năm Mới, đồng thời cầu xin cho ông bà cha mẹ, anh em, chú bác cô dì và bạn bè thân hữu, có được những những điều người ta cầu chúc, nhờ tình thương và sức mạnh của Chúa trong Những Ngày Đầu Năm Mới này. Ước mong được như vậy.
- Viết bởi nhà văn Quyên Di
GIẤC MƠ XUÂN
Ca dao Việt Nam có câu: "Đố ai nằm ngủ không mơ? " Câu ấy mang ngầm ý nghĩa là ai ngủ thì cũng mơ cả. Vậy mà có nhiều người nói rằng họ không biết mơ là gì, hay ít nhất dù có mơ, tỉnh dậy cũng không nhớ gì hết. Tôi không biết những người ấy nghĩ gì; riêng tôi thấy tiếc cho họ, vì trong mơ có nhiều cái dễ thương lắm.
Tôi thì... may mắn có ''khả năng'' mơ và ''khả năng'' nhớ những giấc mơ của mình. Tôi mơ... giỏi đến độ nhắm mắt lại là mơ, mà ngủ... gật cũng mơ luôn. Tôi còn có khả năng "mơ lại", tức là là mơ cùng một giấc mơ nhiều lần; lại có khả năng ''mơ tiếp'' nữa: đêm hôm trước mơ một đoạn, đêm hôn sau mơ thêm đoạn kế tiếp, y như truyện đăng từng kì trên nhật báo vậy! Lắm lúc tôi cũng băn khoăn tự hỏi mình làm gì mà mơ lắm thế.
Khi mong ước một điều gì mình chưa có, ta gọi là ''mơ''. Nằm ngủ chiêm bao cũng gọi là ''mơ''. Như thế, người ta tự hiểu rằng giấc mơ trong khi ngủ phản ảnh phần nào suy tư khát vọng của mình. Khi chuyện không xảy ra trong đời sống thực được, người ta đem nó vào giấc mơ. Tôi thương nhớ ai mà không gặp được ngươi đó, tôi đem người đó vào giấc mơ và tôi gặp gỡ họ trong giấc mơ ấy. Tôi mong làm được việc này chuyện nọ mà chưa làm được; trong giấc mơ, tôi làm được tất cả những chuyện đó. Bởi vậy, biết bao người khi mơ thì muốn mơ luôn không đậy nữa, hoặc đã lỡ dậy rồi thì nuối tiếc giấc mơ. Tôi nhớ đến câu hát: "Tôi đang mơ giấc mộng dài, đừng lay tôi nhé cuộc đời chung quanh."Ở đây, tôi không có ý nới tới những giấc mơ hãi hùng mà người ta gọi là ''ác mộng''.
Tuy nhiên, giấc mơ không phải chỉ phản ảnh những ước mơ trong cuộc sống thực tế hoặc do sự thúc ép của tiềm thức vô thức. Giấc mơ nhiều khi là một lời nhắn bảo, hay một điềm báo. Thánh Giuse, trong giấc mơ, đã thấy thiên thần hiện đến và dặn dò Người phải đem Maria và hài nhi Giêsu sang Ai Cập lánh nạn (Mạt 2: 13). Giuse trong Cựu ước cũng đã giải mộng cho Pharaon, để biết được những điều sắp xảy đến cho đất nước Ai Cập (Kn 41: 17-32).
Tôi không tin những giấc mơ bao giờ cũng là điểm báo một chuyện gì. Bận tâm với những gì xảy ra trong mơ, người ta sẽ rụt rè e sợ không đâu và vì thế làm hư chuyện thực sự phải làm trong đời sống thực tế. Tôi cũng không phải là người giải mộng, không phải là nhà tâm lí để đi tìm những ẩn ức của chính mình, được thể hiện trong giấc mơ. Tôi cũng không dựa vào những điều thấy trong mơ để mua vé số hay đánh số đề! Tuy nhiên, tôi hay tìm ý Chúa qua những giấc mơ. Chúa để cho mọi chuyện xẩy đến cho tôi, thì giấc mơ của tôi cũng không ngoài ý Chúa.
Có những giấc mơ tôi thường mơ đi mơ lại nhiều lần. Một trong những giấc mơ đó là giấc mơ ''lượm bạc cắc''. Trong mơ, tôi thấy trên đường đi, những ai đó đã làm rớt không biết bao nhiêu là bạc cắc. Đụng đâu cũng thấy, nhìn đâu cũng có. Và tôi cúi lưng xuống nhặt, nhặt thỏa thích; nhét đầy túi mà nhìn xuống đất cũng vẫn còn. Có điều những đồng bạc cắc đó không sạch sẽ cho lắm, đồng thì đầy bụi đất, đồng thì dính bùn, đồng thì nằm trên đống rác... Tỉnh dậy, tôi thường băn khoăn tự hỏi: có phải mình đang sống cuộc sống tầm thường, là đà dưới đất; đang theo đuổi những mục tiêu thấp kém; đang cúi mình tìm kiếm những lợi lộc thấp hèn, những vinh danh phù ảo?
Có lẽ tôi chưa đứng thẳng dậy, hướng về phía trước, nơi có chân trời nạc sáng. Mắt tôi còn đang mê mải cúi xuống đất đen, kiếm tìm những đồng bạc cắc lấm láp rơi rớt đâu đó. Những băn khoăn và tra vấn lương tâm ấy khiến tôi phản tỉnh. Nếu trước bất cứ mọi chuyện, dù khi mơ hay lúc tỉnh, sau đó tôi đều biết đặt lại vấn đề và đối diện với lương tâm như thế, chắc tôi đã khá hơn nhiều lắm.
Một giấc mơ khác tôi cũng mơ đi mơ lại nhiều lần. Tôi gọi đó là ''giấc mơ trần truồng''. Trong mơ, tôi thấy mình trần truồng đi giữa những đám đông. Tôi vô cùng xấu hổ, trốnn đâu cũng không được, che đậy thế nào cũng không hết. Và tôi cứ phải đi như thế trước bao nhiêu con mắt dòm ngó của mọi người. Giấc mơ đó cũng khiến tôi nhiều khi tỉnh dậy cảm thấy băn khoăn. Thường tôi hay tư hỏi: lúc này tôi có đang hãnh diện, tự hào về một vài ''thành công'' tôi đạt được? Có phải tôi đang tự khoác cho mình đủ thứ hào quang lộng lẫy hay trang điểm cho mình bằng đủ thứ khả năng hay đức tính mà chưa chắc tôi đã thực sự có? Nếu quả tôi đang như vậy, thì qua ''giấc mợ trần truồng'', Chúa nhắc cho tôi biết tôi không là gì. Tôi sinh ra trần truồng và chẳng có gì đáng hãnh diện. Những gì tôi có là quà tặng Chúa gửi cho để tôi chia sẻ với anh chị em khác, nó không phải của riêng tôi, hay của chính tôi, nên tôi không có lí đo gì để hãnh diện.
Tôi còn nhiều giấc mơ khác nhưng kể ra đây thì dài dòng lắm. Tôi muôn bạn nhìn về giấc mơ của bạn. Chẳng biết bạn có ''khả năng'' mơ nhiều và nhớ nhiều như tôi không, nhưng ít nhiều chắc cũng có những giấc mơ bạn nhớ. Nhớ nó, không phải để vui với mộng mà quên thực tế; không phải để bị ám ảnh và lo sợ; cũng không phải để dựa vào nó mà quyết định mua vật nọ, bán vật kia, Nhưng nhớ nó, để tìm hiểu xem, qua nó, mình có điều gì cần phản tỉnh, có vấn đề gì thuộc lãnh vực lương tâm cần xét lại.
Tôi rời bỏ những giấc mơ ngủ để trở về với giấc mơ đời. Có người định nghĩa về tuổi trẻ như sau: ''Tuổi trẻ là tuổi biết ước mơ. '' Như thế, mỗi khi ta tự hỏi lòng, mà thấy mình còn biết mơ ước, thì ta cứ yên tâm rằng mình còn đang là tuổi trẻ. Và như thế, mình cứ vui mà sống. Thực sự tuổi trẻ là tuổi có nhiều mơ ước nhất, thế thôi, chứ tuổi nào cũng có ước mơ; và trong hoàn cảnh nào, người ta cũng vẫn ước mơ. Một giáo sư văn chương của tôi nói rằng: "Con người là sinh vật chân bước trên mặt đất mà mắt ngắm trăng sao."
Giấc mơ của tuổi trẻ thường là giấc mơ đẹp, trong giấc mơ có hơn có bướm, có chàng hoàng tử xinh trai hay cô công chúa diễm lệ, có một chân trời rực sáng và một cánh cổng tương lai rộng mở. Giấc mơ ấy được gọi là Giấc Mơ Xuân, và tuổi trẻ cũng được gọi là Tuổi Xuân. Mùa Xuân đẹp như thế nào thì Tuổi Xuân và Giấc Mơ Xuân cũng đẹp như thế. Nếu Tuổi Xuân kéo dài và Giấc Mơ Xuân thành sự thật thì có lẽ người ta đã tìm thấy hạnh phúc và bước chân đã đặt lên ngưỡng cửa thiên đàng.
Có người xem thường những ước mơ, cho đó là điều thiếu thực tế. Hãy hành động hơn là ngồi mơ ước. Đó là châm ngôn của họ. Tuy nhiên, nếu không có những ước mơ thì người ta cũng không có động lực biến ước mơ thành sự thật. Bởi thế, theo tôi thì, hãy cứ ước mơ đi, nhưng đừng chìm đắm trong mơ. Hãy thức tỉnh để hoạt động và biến ước mơ thành sự thật. Một nhà tư tưởng đã có câu nói thật dễ thương:
"Ưa mộng mơ, đâu để mộng say lòng,
Theo lí tưởng, nhưng thoát vòng không tưởng."
Nói cho cùng, đời người cũng là một giấc mơ dài. Chúng ta nghe nhiều đến ''giấc mộng kê vàng'', nằm mộng thấy cả cuộc đời mình mà tỉnh dậy nồi kê chưa chín. Trong "giấc mơ dài'' đó, ta đã làm gì, đã sống thế nào, đã thực hiện được chút gì mục tiêu của ''giấc mộng dài'' đó chưa? Đã gọi là ''giấc mơ" thì thế nào cũng có lúc thức tỉnh. Đối với những người ý thức, thì khi thức tỉnh tức là lúc ta đã trọn vẹn giấc mơ, để trở về với cuộc sống thật, cuộc sống vĩnh hằng bên Thượng Đế. Hạnh phúc cho ta, nếu trong giấc mơ đời, ta biết mơ về Đấng đã tạo dựng nên ta và gửi ta và giấc mơ tươi đẹp. Nếu trong giấc mơ đời ta không mơ về Thượng Đế, thì khi trở về, ta quên mất Ngài và lòng chỉ lưu luyến với những gì ta đang mơ trong giấc mơ đời. Khi đó, có lẽ Thượng Đế cũng chỉ nhìn ta như một người xa lạ.
Ngày xưa, có lần Trang Tử nằm mơ thấy mình hóa bướm, tỉnh dậy bâng khuâng tự hỏi không biết mình là người hay là bướm. Mình là người rồi nằm mơ thành bướm, hay mình là bướm và đang nằm mơ là người? Giấc mơ Trang Tử cho ta thấy cái tương đối và hư không của đời sống. Trang Tử đã mơ và đã băn khoăn, giấc mơ và nỗi băn khoăn của một triết gia.
Với tôi, một người Công giáo, tôi không băn khoăn như Trang Tử. Thực ra tôi cũng băn khoăn, nhưng nỗi băn khoăn của tôi nó khác. Giả dụ tôi cũng mơ thành bướm như Trang Tử, nỗi băn khoăn của tôi sẽ thế này: nếu tôi la người, tôi có biết dùng đôi chân để đi trên nẻo đường Chúa đã dẫn lối? Và nếu tôi là bướm, tôi có dùng đôi cánh để bay lượn khắp cả trời Xuân, tìm cho ra Đấng được gọi là Chúa của mùa Xuân bất diệt?
Tôi yêu những Giấc Mơ Xuân. Tôi yêu những giấc mơ khi ngủ và yêu cả giấc mơ đời. Đời người ta, nếu được dệt bằng những giấc mơ đẹp và ước mơ thần tiên thì đẹp đẽ biết bao nhiêu. Và với tôi, giấc mơ đẹp nhất, ước mơ thần tiên nhất là giấc mơ và ước mơ được luôn gần gũi với Chúa của mùa Xuân.
Nhà Văn Quyên Di
Tác giả: Nhà văn Quyên Di
- Viết bởi Lm Fx Nguyễn hùng Oánh
Ủy Ban Phụng tự/ HĐGMVN đã ra thông báo:
1/ Về Lễ Tro: Hội Đồng Giám Mục đã quyết định cử hành Lễ Tro vào 30 Tết Ất Mùi (tức là không dời Lễ Tro).
2/ Chuyển ăn chay kiêng thịt dời vào ngày thứ sáu Mồng Chín Tết (ngày thứ sáu 27-2-2015).
Một thắc mắc của Dòng tu, của giáo dân sống như nhà tu: con ăn chay kiêng thịt ngày thứ tư Lễ Tro rồi có phải buộc ăn chay ngày thứ sáu Mồng Chín Tết không?
Phải ăn chay kiêng thịt đúng luật dạy tức là thứ tư Lễ Tro, nhưng Hội Đồng Giám mục đã cho dời vào Mồng Chín Tết, đó là một một đặc ân. Ta có thể chối từ đặc ân nầy (x. Gl 80,2) và giữ chay kiêng thịt vào Ngày thứ tư Lễ Tro (tức là không phải ăn chay kiêng thịt thứ sáu Mồng Chín Tết nữa). Ăn chay kiêng thịt ngày thứ tư Lễ Tro, xin nhớ ngày tính giờ từ không giờ (nửa đêm) đến hết 24 giờ.
Nếu Lễ Giao thừa về, ăn uống tới một, hai giờ sáng thì sao ?
Thì ăn chay kiêng thịt ngày thứ sáu Mồng Chín Tết. Xin nhớ cho kỹ: 14 tuổi trọn mới buộc kiêng thịt ngày thứ sáu quanh năm cho đến chết (thứ tư Lễ Tro và thứ Sáu Tuần thánh phải kiêng thịt còn các thứ sáu khác thay vì kiêng thịt tức là được ăn thịt nhưng phải làm việc đạo đức, như lần một tràng hạt …hoặc việc từ thiện để bù vào) và 18 tuổi trọn đến hết 59 tuổi mới buộc phải ăn chay thứ Tư Lễ Tro, thứ sáu Tuần Thánh.
Lm Fx Nguyễn hùng Oánh
- Viết bởi Lm. Antôn Nguyễn Văn Độ
Tứ thời bát tiết Xuân, Hạ, Thu, Đông, thay đổi tuần hoàn luân vòng chuyển đổi. Niên lịch phụng vụ của Giáo hội Công Giáo cũng nằm trong chu kỳ ấy.
Phụng vụ Giáo Hội cũng có bốn Mùa như : Mùa Vọng, Mùa Giáng Sinh qua đi, Mùa Thường niên tiếp nối, chúng ta chuẩn bị bước vào Mùa Chay Thánh, cao điểm là Tuần Thánh và Đêm Vọng Phục Sinh. Vậy Mùa Chay có từ bao giờ, kéo dài bao lâu ? Những việc chúng ta làm trong Mùa Chay có ý nghĩa thế nào ? Mùa Chay đến rồi lại đi, chúng ta làm gì để Mùa Chay không trở nên nhàm chán và có ý nghĩa ?
Mùa Chay có từ bao giờ, kéo dài bao lâu ?
Vào những thế kỷ đầu Kitô giáo, để sống đạo và thực hành đạo, các kitô hữu tiên khởi đã quan sát những người chung quanh xem họ sống đạo và thực hành đạo thế nào, cụ thể như việc người Dothái giữ ngày Sabát, hay lên Đền thờ cầu nguyện. Tuy các kitô hữu tiên khởi họp nhau thành một cộng đoàn tế tự, cử hành phép rửa nhân danh Cha và Con và Thánh Thần theo một công thức tuyên xưng đức tin. Nhưng khi cử hành các ngày đại lễ như lễ Vượt Qua, lễ Năm Mươi, dù vẫn giữ nguyên những ngày lễ của người Dothái nhưng lại mặc cho các ngày lễ ấy một ý nghĩa mới, chẳng hạn : khi cử hành, họ không chỉ nhắc lại các biến cố Xuất Hành Cựu Ước, mà còn tưởng nhớ cuộc khổ nạn và phục sinh của Chúa Kitô, cũng như việc Chúa Thánh Thần hiện xuống trên các Tông đồ.
Mãi đến thế kỷ thứ IV, trong Giáo hội mới nảy sinh những ý kiến khác nhau như : liệu có cử hành lễ Phục Sinh vào ngày lễ Vượt Qua của người Dothái không ? Tại các Giáo đoàn thuộc Tiểu Á, họ vẫn giữ nghi lễ chiên vượt qua. Riêng Giáo đoàn Antiokia lại ấn định lễ Phục Sinh vào ngày Chúa Nhật sau lễ Vượt Qua của người Dothái, trong khi đó, các kitô hữu tại Alexandria do các nhà chiêm tinh tính toán nên đã chuyển rời lễ Phục Sinh vào dịp phân xuân.
Cho dù có sự khác nhau về ngày cử hành các ngày lễ, nhưng lễ Phục Sinh vẫn là lễ chung của toàn thể cộng đoàn Kitô giáo, vì lễ Phục Sinh dựa trên nền tảng đức tin, trước lễ Phục Sinh, có một thời gian chuẩn bị tương đối dài gọi là Mùa Chay hay “40 ngày”, tưởng nhớ 40 Chúa Giêsu ở trong hoang địa 40 đêm ngày.
Việc thực hành Mùa Chay đã có từ thời thì đầu Kitô giáo, nhưng trải qua những bước thăng trầm, mãi tới thế kỷ thứ II, thời thánh Irênê, giám mục thành Lyon, việc giữ chay ngắn hạn từ hai đến ba ngày, không ăn bất kỳ thức ăn nào mới được phổ biến. Sang kỷ thứ III tại Alexandria, người ta kéo dài việc ăn chay ra hết một tuần. Những dấu tích của Mùa Chay hay “40 ngày” được tìm thấy ở thế kỷ thứ IV, trong lễ qui của Công Đồng Nicêa. Đây là thời gian chuẩn bị mừng lễ, nhưng ưu tiên vẫn là việc giúp các người dự tòng chuẩn bị lãnh Phép Rửa Tội và Đêm Vọng Phục Sinh.
Cuối thế kỷ thứ IV, Giáo đoàn tại Giêrusalem bắt đầu giữ chay 40 ngày hay còn gọi là Mùa Chay 8 tuần, người ta ăn chay suốt thời gian này, trừ thứ Bẩy và Chúa Nhật. Sang thế kỷ thứ V, tại Aicập người ta cũng giữ chay, tiếp đến là xứ Gôlơ, người ta ăn chay ngày thứ Bẩy và thứ Sáu tuần trong Mùa Chay. Trong khi giữ chay, các kitô hữu chỉ ăn một bữa mỗi ngày, thức ăn gồm có bánh, rau và nước. Giữ nghiêm ngặt nhất là ngày Thứ Sáu và Thứ Bẩy Tuần Thánh, người ta không ăn một chút thức ăn nào. Giờ ăn chay được qui định tùy theo sự khác nhau của mỗi giáo đoàn. Vì mùa chay gồm 6 tuần không thể tương ứng với 40 ngày được. Nên sang thế kỷ thứ VII, người ta đã lùi về trước Mùa Chay mấy ngày, cụ thể như bắt đầu từ ngày thứ Tư cho đến ngày thứ Bẩy tuần trước khi bước vào Mùa Chay, ngày mà hôm nay chúng ta gọi là Thứ Tư Lễ Tro, ngày ăn chay. Đồng thời, ba Chúa nhật trước Mùa chay, là gồm tóm thời gian chuẩn bị mừng lễ Phục Sinh, cách lễ Phục Sinh chín tuần. Việc giữ chay ngày càng đòi hỏi nghiêm ngặt hơn, chẳng hạn như buộc chỉ ăn bữa tối. Nhưng đến thế kỷ thứ VIII, việc giữ chay được nới rộng ra, nghĩa là cho phép những người ốm đau bệnh tật được ăn chứng, bơ, sữa, cá và cả rượu nữa. Sang thế kỷ XII và XIII, bữa ăn ngày chay được ấn định là trước giờ trưa 3 giờ tức 9 chín giờ sáng, tiếp theo được ăn “bữa ăn nhẹ” vào buổi tối. Sang thế kỷ XVII việc ăn chay giảm dần và Giáo hội cho phép được ăn cháo, sữa và cá nhỏ. Trong ngày chay, tại các hoàng gia, nhà bếp thi nhau trổ tài làm ăn với những thực đơn sao cho dồi dào phong phú hơn ngày thường.
Từ năm 1949, Giáo hội Công giáo qui định việc giữ chay và kiêng thịt là ngày Thứ Tư lễ Tro và Thứ Sáu Tuần Thánh mà thôi. Lý do vì hai ngày đó là ngày tưởng nhớ sự chết : ngày thứ tư lễ Tro, linh mục chính thức làm phép tro được đốt từ những cành lá đã làm phép vào ngày Lễ Lá năm trước rồi vẽ hình thánh giá trên trán người nhận tro và nhắc lại rằng “ngươi là tro bụi, và người sẽ trở về tro bụi”, nhắc lại cái chết của mỗi người chúng ta, tiếp đến, ngày Thứ Sáu Tuần Thánh, ngày tưởng niệm cái chết của Chúa Giêsu trên Thập giá.
Trong phụng vụ của Giáo hội Chính Thống, thời gian chuẩn bị bước vào Mùa Chay kéo dài năm tuần liền, mỗi tuần đọc một đoạn Tim Mừng riêng, với cách thức sám hối sâu xa. Tuần thứ bốn, được ấn định là ngày kiên thịt và ăn chay trong toàn Giáo hội. Chúa nhật thứ năm được gọi là Chúa nhật Hòa giải, mỗi người hòa giải với người bên cạnh trước khi toàn thể cộng đoàn xin lỗi Chúa.
Cảm tưởng chung là một bầu không khí “vui và buồn”. Mỗi tín hữu, với sự hiểu biết có giới hạn và khác nhau về phụng vụ, nên khi bước vào nhà thờ với các kinh nguyện của Mùa Chay, mỗi người mỗi cảm tưởng khác nhau. Một phần vì những lời kinh tiếng hát mang đậm nét buồn, màu áo tím, những bài đọc dài hơn, đơn điệu hơn ngày thường, và hầu như không có nét vui tươi. Một nét đẹp nội tâm rực sáng, tựa như ánh sáng ban mai chiếu rọi từ thung lũng tối tăm lên tận đỉnh cao của núi đồi.
Niềm vui âm thầm, êm dịu và toàn bộ các bài Sách thánh trong Mùa Chay nghe thật đơn điệu cho thấy sự bình an đã dẫn đưa người ta tới những điệp ca hòa tấu Allêluia trong Đêm Vọng Phục Sinh.
Chúa nhật lễ Lá là thời gian không còn dành riêng cho việc tưởng niệm cuộc khổ nạn nữa, bước vào một Tuần Thánh, với những bài đọc nhắc lại những ngày sau hết của Chúa Kitô trên trần gian và sự Phục Sinh của Ngài.
Tại sao lại gọi là 40 ngày chay thánh ?
Từ “Mùa Chay” là một từ tương phản với từ gốc latinh là “quadragesima” có nghĩa là 40. Trong Kinh thánh, con số 40 có ý diễn tả một khoảng thời gian chờ đợi, một quá trình, tượng trưng cho việc chuẩn bị gặp gỡ Thiên Chúa. Số 40 còn diễn tả hành trình trong sa mạc trên đường về Đất hứa của Dân Dothái kéo dài 40 năm. Ông Môisen đã ở trên núi Chúa 40 ngày (x. Xh 24, 18; 34,28). Những người trinh sát đã ở trong vùng đấy 40 ngày (x. Ds 13, 25). Elia đã đi 40 ngày trước khi tới được hang ở đó Ngài được thị kiến (x. 1V 19, 8). Ninivê đã được cho 40 ngày để sám hối (x. Gn 3, 4). Và quan trọng nhất là Chúa Giêsu được Chúa Thánh Thần thúc đẩy vào trong hoang địa 40 ngày để ăn chay cầu nguyện trước khi thi hành sứ vụ công khai (x. Mt 4,2).
Như vậy Mùa Chay là mùa nhắc nhớ 40 năm hành trình trong sa mạc của dân Dothái, 40 ngày trong hoang địa của Chúa Giêsu. Con số 40 ngày, là thời gian đi vào hoang địa của cõi lòng, thinh lặng để chuẩn bị gặp gỡ Chúa. Đây là thời gian phụng vụ cao điểm thuân tiện thích hợp cho các kitô hữu noi gương Đức Kitô dùng 40 ngày để ăn năn đền tội và dấn thân phục vụ anh chị em. Và bằng 40 ngày long trọng của Mùa Chay, mỗi người được liên kết mật thiết hơn với các Mầu Nhiệm của Chúa Giêsu, Đấng đang tiến đến cái chết và sự sống lại.
Mùa chay mang lại cho chúng ta điều gì?
Phần lớn người kitô hữu không thực hành việc ăn chay, nguyện ngắm, nên Mùa Chay không có ảnh hưởng tới đời sống của họ là bao? Khi nói về Mùa Chay, người ta thường hiểu một cách không tích cực lắm. Đại đa số dân chúng cho rằng trong Mùa Chay việc kiêng ăn, kiêng uống giữ chay chiếm vị trí hàng đầu.
Tuy nhiên điều đáng lưu ý là đại đa số người kitô hữu không thực hành đạo trong đời sống nhưng họ vẫn đến nhận tro vào Thứ Tư Lễ Tro. Đây là một nghi thức giầu tính biểu tượng, nó tác động đến tận đáy lòng con người, nhắc nhớ người ta suy nghĩ về thân phận của mình khi nhận tro và mời gọi con người trở về với Chúa. Vì nhiều khi con người quên đi thân phận yếu hèn, mỏng giòn của mình, dẫn đến đau thương và đổ vỡ. Bi kịch cuộc đời con người đều từ đó mà ra. Con người phạm tội, tội cắt đứt sự hiệp thông giữa con người với Thiên Chúa, làm cho con người mất đi hạnh phúc, phải đau khổ và phải chết. Chuyện sa ngã của Nguyên tổ đã chứng minh điều đó. Lịch sử cứ độ của Dân Chúa, tội thì Chúa phạt, hối cải thì Chúa tha và cứu. Nên mỗi khi lâm vào hoàn cảnh bi đát đau thương hay thất vọng, Dân Chúa đều nhận ra rằng cần phải sám hối trở về giao hòa với Thiên Chúa để được chữa lành. Mùa Chay là mùa sám hỗi, chúng ta hãy ra sức làm những việc cần thiết để được giao hòa và hiệp thông với Chúa, hầu được Chúa ban ơn.
Trong đời sống người kitô hữu, nhiều khi lắng nghe lời Chúa xong, chúng ta đã có quyết tâm đi xưng tội, làm việc đền tội, nhưng rồi kết quả không mấy khả quan, thì Mùa Chay là cơ hội rất thuận lợi. Thư thánh Phaolô nói với chúng ta : “Đây là lúcthuận tiện, đây là ngày cứu độ» (2 Cr 6,2). Đây là thời gian khẩn trương trong năm phụng vụ, thời gian thuận tiện được ban cho chúng ta để đẩy mạnh quyết tâm hoán cải, tăng cường việc lắng nghe Lời Chúa, cầu nguyện, thống hối, mở rộng tâm hồn đón nhận thánh ý Chúa, thực hành khổ chế một cách quảng đại hơn, để đi tới và giúp đỡ tha nhân đang túng thiếu: đó là một hành trình tinh thần giúp chúng ta chuẩn bị sống Mầu Nhiệm Phục Sinh. Vậy chúng ta hãy tin tưởng điều đó và bước vào Mùa Chay Thánh.
Lm. Antôn Nguyễn Văn Độ
- Viết bởi Lm. Daminh Nguyễn ngọc Long
Theo phong tục tập quán văn hóa Á Đông Việt Nam, vào ngày 23. Tháng Chạp âm lịch có tập tục cúng tiễn đưa Ông Táo về trời.
Tập tục văn hóa dân gian này tuy vậy cũng ẩn hiện phần nào tâm linh đời sống con người.
Nói đến Ông Táo là nói về nhà bếp nấu ăn. Ngày xưa, và ngày nay ít nhiều nơi vẫn còn, ở vùng thôn quê bên quê nhà Việt Nam, nhà bếp đun thổi bằng rơm rạ, bằng trấu vỏ lúa, bằng củi than. Nên bếp nấu theo cổ truyền có ba trụ hình khối vuông chữ nhật, trên đầu đẽo nghiêng sâu độ ba phân đắp nặn nung bằng đất, hay đẽo gọt bằng đá, quen gọi là „ đầu rau“. Ba trụ đầu rau này cao chừng từ hai tới ba mươi phân. Ba trụ đặt ba góc cách nhau theo hình tam giác rộng to nhỏ tủy theo vòng chu vi cái nồi đặt bên trên ba trụ đầu rau. Mặt trước ba đầu rau là cửa để cho rơm rạ, than củi vào đốt lửa lên đun nấu.
Bếp có ba trụ đầu rau kê lên như thế vững chắc, nồi cơm, canh, nồi nước bên trên không bị lung lay nghiêng đổ.
Vậy hình ảnh ba trụ đầu rau táo quân ở nhà bếp có thể nói gì với chúng ta về đức tin đạo giáo?
Trong dân gian bên tây phương cũng có ngạn ngữ câu: „Con số ba là con số tốt đẹp.“
Ba trụ đầu rau kê chụm gần lại nhau thành một cái bếp cho việc nấu nướng làm liên tưởng đến thuyết tam vị nhất thể. Và với người Công giáo làm nhớ đến mầu nhiệm căn bản của đức tin: Một Chúa Ba Ngôi.
Ngay từ lúc con em mình còn thơ ấu, các người mẹ thường cầm bàn tay nhỏ bé của chúng vẽ hình thánh giá trên trán, trên ngực em và đọc lời kinh:‘‘ Nhân danh Cha và Con và Thánh Thần .Amen‘‘ trước bữa ăn, mỗi khi uống thuốc và trước khi đi ngủ. Người mẹ làm chuyện này vì thói quen đạo đức tốt lành của mình, và muốn gieo vào tâm hồn con mình thói quen cùng tâm tình đạo đức này.
Đây là việc đạo đức đơn sơ nhưng căn bản biểu lộ tâm tình biết ơn sâu thẳm vào Thiên Chúa, Đấng là chủ vạn vật trời đất và là nguồn sự sống. Và tập quán này cũng còn muốn nói lên: Xin Thiên Chúa chúc lành cho của ăn, cho giấc ngủ và cho cuộc đời của con!
Câu kinh và dấu thánh giá nói lên ý nghĩa gì ?
Câu kinh ngắn gọn này hàm chứa điều căn bản sâu thẳm và rất khó cắt nghĩa của niềm tin: Mầu nhiệm Thiên Chúa ba ngôi: Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần – Một Chúa nhưng có ba ngôi vị.
Trong đời sống có nhiều điều ta không thể nhìn thấy, nhưng chỉ có thể cảm thấy như tình yêu, hạnh phúc, không khí, sự sống và Thiên Chúa.
Không nhìn thấy, nhưng cảm thấy điều đó nhất là khi nhìn thấy một biểu tượng. Như khi nhìn thấy hình trái tim, ta liên tưởng ngay đến tình yêu, đến sự sống. Khi nhìn thấy chim bồ câu, ta nghĩ ngay đến hoà bình. Khi nhìn thấy hai chiếc nhẫn cưới, đó là biểu tượng của tình yêu hôn nhân giữa hai người nam nữ. Khi nhìn thấy cây nến cháy, ta cảm thấy không khí ấm cúng thi vị hay tấm lòng chân thành đang cầu xin khấn nguyện...
Trong thiên nhiên có những yếu tố, thường là ba, nối liền với nhau để tạo nên một liên đới chung và mang lại sự hài hoà hỗ tương cần thiết cho vạn vật như đất, nước và không khí; chiều sâu, chiều cao và chiều rộng – không gian ba chiều ; quá khứ, hiện tại và tương lai. ( Những) Ba yếu tố này tạo nên một liên kết chung, nếu thiếu một yếu tố, mối liên kết sẽ không thành.
Cũng như những biểu tượng trên đây, một Thiên Chúa mà có ba ngôi, không phải là một người có ba đầu hay ba thân mình, cũng không phải ba Chúa, nhưng là ba Ngôi Vị: Thiên Chúa, Chúa Con và Chúa Thánh Thần tạo nên một Thiên Chúa.
Thiên Chúa Cha, ngôi thứ nhất, Đấng tạo dựng trời đất, con người cùng vạn vật trong hoàn vũ.
Chúa Con, ngôi hai, chính là Chúa Giêsu, Đấng xuống thế làm người mang ơn cứu chuộc, sứ điệp tin mừng tình yêu từ trời cao xuống cho con người.
Chúa Thánh Thần, ngôi thứ ba, là hơi thở sự sống cho công trình sáng tạo của Thiên Chúa.
Các Thánh Giáo Phụ, những bậc học giả lỗi lạc có đời sống đạo đức thánh thiện cao sâu, khi suy niệm về mầu nhiệm Một Chúa mà có ba ngôi, đã dùng hình ảnh mặt trời, tia sáng chiếu toả từ đó và hơi ấm của mặt trời để cắt nghĩa như sau:
Đức Chúa Cha, ngôi thứ nhất, được ví như mặt trời. Mặt trời ai cũng biết to lớn vô cùng tận và rất xa diệu vợi ngoài tầm nhìn của con mắt loài người.
Từ mặt trời phát toả ra luồng tia sáng chiếu dọi xuống trần gian. Ánh quang từ mặt trời chiếu ra là hình ảnh Chúa Giêsu, ngôi thứ hai, xuống thế làm người.
Khi ánh quang chiếu dọi xuống trần gian mọi sinh vật được sưởi ấm và có sự sống. Hơi ấm sự sống là hình ảnh Chúa Thánh Thần, ngôi thứ ba Thiên Chúa.
Chúa Giê su khi truyền cho các Tông đồ đi giảng đạo và làm phép thanh tẩy cho mọi người tin theo Chúa, ngài trao cho các ông một công thức: Làm phép Rửa cho họ nhân danh Cha và Con và Thánh Thần. Phép Rửa niềm tin trong Thiên Chúa Ba Ngôi.
Bà mẹ cầm tay con mình làm dấu thánh giá cho em và mỗi khi chúng ta làm dấu thánh giá bắt đầu từ trên trán và đọc: Nhân danh Cha: Vâng, Thiên Chúa Cha ở trên cao, người hằng giơ tay che chở phù hộ con.
Đoạn đưa tay xuống ngực và đọc: Và Con: Vâng, Chúa Giê su xuống trần gian làm người sống ở giữa trần gian.
Sau đó đưa tay sang hai bên trái và phải nơi hai vai và đọc: Và Thánh Thần: vâng, Chúa Thánh Thần, đấng bao bọc cuộc đời con, mang đến cho con sự sống.
Và sau cùng hai tay chắp lại trước ngực và đọc:Amen: Con xin tin như vậy!
Một công thức ngắn gọn với cử chỉ của đôi bàn tay trên thân mình mỗi người, nhưng hàm chứa điều căn bản sâu thẳm của đức tin vào Một Thiên Chúa Ba Ngôi.
Những hình ảnh biểu tượng này giúp cắt nghĩa suy niệm phần nào về một mầu nhiệm niềm tin vượt quá tầm hiễu biết của con người chúng ta. Và lẽ tất nhiên mỗi người, tuỳ theo ân đức của Chúa Thánh Thần ban cho, có những suy tư khác nhau về mầu nhiệm niềm tin này. Cắt nghĩa hay hình ảnh không phải là niềm tin, nhưng giúp soi dẫn hướng về điều tin và giúp cách thực hành niềm tin cho sống động trong đời sống thôi.
Niềm Tin đó không phải là một công thức đọc ngoài miệng, nhưng sống động nơi thân xác con người. Thiên Chúa Ba Ngôi ở trong tâm hồn và hằng đồng hành trong cuộc đời con người.
Tập tục cúng hay tiễn Ông Táo về chầu trời ngày cuối cuối năm âm lịch là cung cách nấp sống văn hóa truyền thống trong dân gian từ xa xưa.
Tập tập nếp sống văn hóa này tuy mang mầu sắc của một Lễ Hội, nhưng cũng gói ghém chất chứa một nội dung có khía cạnh lòng tin trong dân gian.
Với người Công giáo, tập tục lễ hội này nhắc nhớ chúng ta đến khía cạnh thiêng liêng Thiên Chúa ba ngôi vị.
Đây là căn bản của đức tin chúng ta.
Ngày tiễn Ông Táo về trời, 23. Tháng Chạp âm lịch năm Giáp Ngọ.
Lm. Daminh Nguyễn ngọc Long
Ba trụ đầu rau nấu bếp
Theo phong tục tập quán văn hóa Á Đông Việt Nam, vào ngày 23. Tháng Chạp âm lịch có tập tục cúng tiễn đưa Ông Táo về trời.
Tập tục văn hóa dân gian này tuy vậy cũng ẩn hiện phần nào tâm linh đời sống con người.
Nói đến Ông Táo là nói về nhà bếp nấu ăn. Ngày xưa, và ngày nay ít nhiều nơi vẫn còn, ở vùng thôn quê bên quê nhà Việt Nam, nhà bếp đun thổi bằng rơm rạ, bằng trấu vỏ lúa, bằng củi than. Nên bếp nấu theo cổ truyền có ba trụ hình khối vuông chữ nhật, trên đầu đẽo nghiêng sâu độ ba phân đắp nặn nung bằng đất, hay đẽo gọt bằng đá, quen gọi là „ đầu rau“. Ba trụ đầu rau này cao chừng từ hai tới ba mươi phân. Ba trụ đặt ba góc cách nhau theo hình tam giác rộng to nhỏ tủy theo vòng chu vi cái nồi đặt bên trên ba trụ đầu rau. Mặt trước ba đầu rau là cửa để cho rơm rạ, than củi vào đốt lửa lên đun nấu.
Bếp có ba trụ đầu rau kê lên như thế vững chắc, nồi cơm, canh, nồi nước bên trên không bị lung lay nghiêng đổ.
Vậy hình ảnh ba trụ đầu rau táo quân ở nhà bếp có thể nói gì với chúng ta về đức tin đạo giáo?
Trong dân gian bên tây phương cũng có ngạn ngữ câu: „Con số ba là con số tốt đẹp.“
Ba trụ đầu rau kê chụm gần lại nhau thành một cái bếp cho việc nấu nướng làm liên tưởng đến thuyết tam vị nhất thể. Và với người Công giáo làm nhớ đến mầu nhiệm căn bản của đức tin: Một Chúa Ba Ngôi.
Ngay từ lúc con em mình còn thơ ấu, các người mẹ thường cầm bàn tay nhỏ bé của chúng vẽ hình thánh giá trên trán, trên ngực em và đọc lời kinh:‘‘ Nhân danh Cha và Con và Thánh Thần .Amen‘‘ trước bữa ăn, mỗi khi uống thuốc và trước khi đi ngủ. Người mẹ làm chuyện này vì thói quen đạo đức tốt lành của mình, và muốn gieo vào tâm hồn con mình thói quen cùng tâm tình đạo đức này.
Đây là việc đạo đức đơn sơ nhưng căn bản biểu lộ tâm tình biết ơn sâu thẳm vào Thiên Chúa, Đấng là chủ vạn vật trời đất và là nguồn sự sống. Và tập quán này cũng còn muốn nói lên: Xin Thiên Chúa chúc lành cho của ăn, cho giấc ngủ và cho cuộc đời của con!
Câu kinh và dấu thánh giá nói lên ý nghĩa gì ?
Câu kinh ngắn gọn này hàm chứa điều căn bản sâu thẳm và rất khó cắt nghĩa của niềm tin: Mầu nhiệm Thiên Chúa ba ngôi: Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần – Một Chúa nhưng có ba ngôi vị.
Trong đời sống có nhiều điều ta không thể nhìn thấy, nhưng chỉ có thể cảm thấy như tình yêu, hạnh phúc, không khí, sự sống và Thiên Chúa.
Không nhìn thấy, nhưng cảm thấy điều đó nhất là khi nhìn thấy một biểu tượng. Như khi nhìn thấy hình trái tim, ta liên tưởng ngay đến tình yêu, đến sự sống. Khi nhìn thấy chim bồ câu, ta nghĩ ngay đến hoà bình. Khi nhìn thấy hai chiếc nhẫn cưới, đó là biểu tượng của tình yêu hôn nhân giữa hai người nam nữ. Khi nhìn thấy cây nến cháy, ta cảm thấy không khí ấm cúng thi vị hay tấm lòng chân thành đang cầu xin khấn nguyện...
Trong thiên nhiên có những yếu tố, thường là ba, nối liền với nhau để tạo nên một liên đới chung và mang lại sự hài hoà hỗ tương cần thiết cho vạn vật như đất, nước và không khí; chiều sâu, chiều cao và chiều rộng – không gian ba chiều ; quá khứ, hiện tại và tương lai. ( Những) Ba yếu tố này tạo nên một liên kết chung, nếu thiếu một yếu tố, mối liên kết sẽ không thành.
Cũng như những biểu tượng trên đây, một Thiên Chúa mà có ba ngôi, không phải là một người có ba đầu hay ba thân mình, cũng không phải ba Chúa, nhưng là ba Ngôi Vị: Thiên Chúa, Chúa Con và Chúa Thánh Thần tạo nên một Thiên Chúa.
Thiên Chúa Cha, ngôi thứ nhất, Đấng tạo dựng trời đất, con người cùng vạn vật trong hoàn vũ.
Chúa Con, ngôi hai, chính là Chúa Giêsu, Đấng xuống thế làm người mang ơn cứu chuộc, sứ điệp tin mừng tình yêu từ trời cao xuống cho con người.
Chúa Thánh Thần, ngôi thứ ba, là hơi thở sự sống cho công trình sáng tạo của Thiên Chúa.
Các Thánh Giáo Phụ, những bậc học giả lỗi lạc có đời sống đạo đức thánh thiện cao sâu, khi suy niệm về mầu nhiệm Một Chúa mà có ba ngôi, đã dùng hình ảnh mặt trời, tia sáng chiếu toả từ đó và hơi ấm của mặt trời để cắt nghĩa như sau:
Đức Chúa Cha, ngôi thứ nhất, được ví như mặt trời. Mặt trời ai cũng biết to lớn vô cùng tận và rất xa diệu vợi ngoài tầm nhìn của con mắt loài người.
Từ mặt trời phát toả ra luồng tia sáng chiếu dọi xuống trần gian. Ánh quang từ mặt trời chiếu ra là hình ảnh Chúa Giêsu, ngôi thứ hai, xuống thế làm người.
Khi ánh quang chiếu dọi xuống trần gian mọi sinh vật được sưởi ấm và có sự sống. Hơi ấm sự sống là hình ảnh Chúa Thánh Thần, ngôi thứ ba Thiên Chúa.
Chúa Giê su khi truyền cho các Tông đồ đi giảng đạo và làm phép thanh tẩy cho mọi người tin theo Chúa, ngài trao cho các ông một công thức: Làm phép Rửa cho họ nhân danh Cha và Con và Thánh Thần. Phép Rửa niềm tin trong Thiên Chúa Ba Ngôi.
Bà mẹ cầm tay con mình làm dấu thánh giá cho em và mỗi khi chúng ta làm dấu thánh giá bắt đầu từ trên trán và đọc: Nhân danh Cha: Vâng, Thiên Chúa Cha ở trên cao, người hằng giơ tay che chở phù hộ con.
Đoạn đưa tay xuống ngực và đọc: Và Con: Vâng, Chúa Giê su xuống trần gian làm người sống ở giữa trần gian.
Sau đó đưa tay sang hai bên trái và phải nơi hai vai và đọc: Và Thánh Thần: vâng, Chúa Thánh Thần, đấng bao bọc cuộc đời con, mang đến cho con sự sống.
Và sau cùng hai tay chắp lại trước ngực và đọc:Amen: Con xin tin như vậy!
Một công thức ngắn gọn với cử chỉ của đôi bàn tay trên thân mình mỗi người, nhưng hàm chứa điều căn bản sâu thẳm của đức tin vào Một Thiên Chúa Ba Ngôi.
Những hình ảnh biểu tượng này giúp cắt nghĩa suy niệm phần nào về một mầu nhiệm niềm tin vượt quá tầm hiễu biết của con người chúng ta. Và lẽ tất nhiên mỗi người, tuỳ theo ân đức của Chúa Thánh Thần ban cho, có những suy tư khác nhau về mầu nhiệm niềm tin này. Cắt nghĩa hay hình ảnh không phải là niềm tin, nhưng giúp soi dẫn hướng về điều tin và giúp cách thực hành niềm tin cho sống động trong đời sống thôi.
Niềm Tin đó không phải là một công thức đọc ngoài miệng, nhưng sống động nơi thân xác con người. Thiên Chúa Ba Ngôi ở trong tâm hồn và hằng đồng hành trong cuộc đời con người.
Tập tục cúng hay tiễn Ông Táo về chầu trời ngày cuối cuối năm âm lịch là cung cách nấp sống văn hóa truyền thống trong dân gian từ xa xưa.
Tập tập nếp sống văn hóa này tuy mang mầu sắc của một Lễ Hội, nhưng cũng gói ghém chất chứa một nội dung có khía cạnh lòng tin trong dân gian.
Với người Công giáo, tập tục lễ hội này nhắc nhớ chúng ta đến khía cạnh thiêng liêng Thiên Chúa ba ngôi vị.
Đây là căn bản của đức tin chúng ta.
Ngày tiễn Ông Táo về trời, 23. Tháng Chạp âm lịch năm Giáp Ngọ.
Lm. Daminh Nguyễn ngọc Long
- Viết bởi Lm. Daminh Nguyễn ngọc Long
Ngày 11.02.1858 Cô bé Bernadette và người em Toinette cùng với bạn gái Jeanne Abadie đi kiếm củi ở ven bờ dòng sông Gave, gần hang động núi đá cây cối mọc um tùm. Thình lình Bernadette nghe tiếng động như tiếng gío thổi, nhưng cây cối không chuyển động. Bernadette ngước mắt nhìn sâu vào khe núi đá thấy một ánh sáng bao phủ một người phụ nữ đang nhìn và mỉm cười với mình. Đây là lần thứ nhất đức mẹ Maria hiện ra với Bernadette.
Tất cả đức mẹ đã hiện ra với Benadette 18 lần tại hang núi đá Massabielle.
Lần I. ngày 11.02.1858 , Lần 2. ngày 14.02., lần 3. ngày 18.02, lần 4. ngày 19.02., lần 5. ngày 20.02., lần 6. ngày 21.02., lần 7. ngày 23.02., lần 8. ngày 24.02., lần 9. ngày 25.02. , lần 10. ngày 27.02., lần 11. ngày 28.02.
Lần 12. ngày 1.3., lần 13. ngày 2.3., lần 14. ngày 3.3, lần 15. ngày 04.03., lần 16. 25.03. Lần 17. ngày 7.4, và lần 18. ngày 16.07.1858
Lần hiện ra thứ 16., ngày 25.03.1858, đức mẹ đã nói với Benadette bằng tiếng địa phương „Que soy era Immaculada Counceptiou - Mẹ là đấng vô nhiễm nguyên tội.“
1. Hiện ra trong hang đá
Đức mẹ hiện ra với Bernadette ở hang động vách núi đá Massabielle. Hang động này thời Bernadette sinh sống dơ bẩn, tối tăm, ẩm ướt và lạnh. Người ta gọi hang động này là một loại chuồng heo. Vì dân ở đây thường dẫn heo ra ăn cỏ tắm nơi đây.
Nhưng Đức mẹ Maria, đấng tinh tuyền vẹn sạch không vướng mắc tội tổ tông truyền đã chọn nơi hang động dơ bẩn này hiện ra với Bernadette. Tại sao?
Hai hình ảnh, hai sự kiện trái ngược nhau, có thể nói như ánh sáng với bóng tối, như trắng với đen, trong sạch với dơ bẩn...
Điều này nói lên Thiên Chúa qua Đức Mẹ Maria với trái tim lòng yêu mến muốn đến gặp gỡ con người chúng ta trong tình trạng bơ vơ khốn quẫn, vì tội lỗi khiếm khuyết trong đời sống.
Hang đá Lộ Đức, nơi Đức Mẹ hiện ra, không phải chỉ là nơi chốn hình thể địa lý. Nhưng còn là nơi theo ý nghĩa tâm linh, Thiên Chúa tỏ cho con người dấu chỉ Ngài hằng yêu thương con người, dù thế nào đi chăng nữa.
Hang đá Lộ Đức cũng là nơi Thiên Chúa gửi cho con người sứ điệp, Ngài đến với con người, Ngài yêu mến đời sống con người với thành công và cả với những vết thương đau khổ, những đổ vỡ, những dơ bẩn trong đời sống, những hạn chế giới hạn của con người.
Hang núi đá Massabiele nằm ở Lourdes. Thành phố Lourdes là một thành phố nhỏ ở miền quê miền Nam nước Pháp, dưới chân rặng núi Pyrenee với 16.000 dân cư.
Lourdes trở thành trung tâm hành hương kính viếng Đức Mẹ không chỉ cho nước Pháp mà cho toàn thế giới từ ngày Đức mẹ hiện ra năm 1858, và đã được Hội Thánh công nhận 1862.
Hằng năm có trên dưới 6 triệu khách hành hương đến kính viếng hang đá Đức Mẹ Lộ Đức. Họ đến nơi đây để cầu khấn xin ơn phù hộ, nhất là xin được chữa lảnh bệnh tật đau khổ nơi thân xác cũng như trong tâm hồn. Vì thế hằng năm có tới hơn 60.000 bệnh nhân khắp nơi trên thế giới được đưa đến nơi này hành hương cầu khấn xin ơn chữa lành.
Cho tới nay có nhiều người được ơn chữa lành nhờ lời cầu bầu của Đức Mẹ Lộ Đức. Nhưng Giáo Hội cho tới bây giờ mới chỉ công nhận là phép lạ chữa lành do Đức Mẹ Lộ Đức có 68 trường hợp thôi.
Khi đến đây hành hương hầu như ai cũng sống trải qua những nghi thức đã thành nếp sống từ hơn trăm năm nay.
2. Đụng chạm sờ vào tảng đá Lộ đức
Khi đến hành hương Đức Mẹ Lộ Đức ai cũng mong muốn đi vào hang đá, nơi ngày xưa cách đây 155 năm Đức mẹ đã hiện ra với Thánh nữ Bernadette. Đi vào đây, nơi thánh địa, ai cũng lâm râm đọc kinh cầu khấn, tay chạm sờ vào tảng đá trên đỉnh đầu ngay dưới chân Đức Mẹ ngày xưa đã hiện ta đứng trên đó.
Đụng chạm sờ vào „ tảng đá thánh thiêng“ này không phải là để cho sức mạnh chữa lành chuyền sang mình. Nhưng với tâm tình lòng mong muốn được đụng chạm gần với tảng đá, như trong Kinh Thánh diễn tả, là dấu chỉ của Thiên Chúa.
Hang động trong núi đá tựa như căn phòng che chắn cho được an toàn trong thiên nhiên. Như ở hang đá Bethlehem và mộ đá vườn Gethsemani, tảng đá nơi hang động này cũng có ý nghĩa chiều kích siêu nhiên thiêng liêng. Ngày xưa khi được Đức Mẹ hiện ra trong hang đá Massabielle, chị Bernadette đã theo trực gíac lòng tin nói lên „đây là bầu trời của tôi“.
Vì thế, tất cả mọi người hành hương đến nơi đây được mời gọi mở tâm hồn mình hướng về siêu nhiên thiêng liêng. Đụng chạm vào tảng đá và cầu khấn cùng Thiên Chúa, xin Ngài là bến bờ vững chắc an toàn cho đời mình. Cùng hướng tầm nhìn lên nguồn nước không hề bị khô cạn trong hang đá này.
„Lạy Chúa là núi đá, là thành lũy, là Đấng giải thoát con,
Lạy Thiên Chúa con thờ, là núi đá cho con trú ẩn,
là khiên mộc, là Đấng cứu độ quyền năng, là thành trì bảo vệ.“ ( Tv 18, 3)
3. Những hàng nến cháy sáng
Nơi cửa hang đá và chỗ gần hang đá Đức Mẹ hiện ra từ ngày 19.02.1858 không ngừng nghỉ gián đoạn ngày đêm những hàng nến to nhỏ được đốt thắp cháy sáng xuyên suốt của khách hành hương mang đến, hay của những người gửi mang đến. Vào ngày này năm xưa Chị Bernadette tay cầm cây nến đã được làm phép đốt cháy sáng đi vào hang đá gặp Đức Mẹ Maria hiện ra. Và sau khi diện kiến Đức Mẹ hiện ra, Bernadette đã để cây nến cháy sáng của mình lại trong hang đá. Cũng trong ngày đó, một vài cây nến của những người khác cùng đi với Bernadette cũng được đốt sáng lên cắm tại hang đá này.
Từ ngày đó khách hành hương không ngừng nghỉ ngày và đêm thắp sáng những cây nến nơi hang đá này. Điều này đã trở thánh tập tục nếp sống đạo đức ở nơi đây. Một ngọn nến của người hành hương thắp nơi hang đá không thay thế cho lời cầu nguyện. Nhưng đó là dấu chỉ rõ nét hữu hình của lời cầu xin hay lời tạ ơn.
Hằng năm hàng triệu người đến thắp nến cầu nguyện nơi hang đá Lộ Đức. Theo ước tính tất cả hơn kém 700 tấn nến được dùng đốt thắp ngày đêm trong suốt cả năm tại nơi đây.
Ánh sáng cây nến nhắc nhớ tới Ông Bà nguyên tổ Adong Eva đã lỗi phạm luật Thiên Chúa, nên bị xua đuổi đi vào sống trong bóng tối tội lỗi. Trái lại Chúa Giêsu Kitô đã đến trong trần gian mang ơn cứu độ cùng sự soi sáng cho con người khỏi bóng tối tội lỗi.
Cây nến cháy sáng nhắc nhớ đến cây nến Chúa Phục sinh, và cây nến rửa tội của mỗi người ngày lãnh nhận bí tích rửa tội.
Hằng ngày vào buổi chiều tối ở Lộ Đức đều có rước kiệu Đức Mẹ, hàng chục ngàn người tay cầm nến cháy sáng lung linh trong đêm tối, vừa đi vừa đọc kinh ca hát biểu lộ rõ nét dấu chỉ niềm vui mừng hy vọng cậy trông.
Chúa Giêsu đã nói với mọi người:“ Thầy là ánh sáng trần gian. Ai theo Thầy sẽ không phải đi trong bóng tối, nhưng sẽ nhận được ánh sáng đem lại sự sống.“ (Ga 8,12)
4. Suối nước Đức Mẹ Lộ Đức
Lần hiện ra ngày 25.03.1858 Đức Mẹ Maria đã nói với Bernadette : „Con hãy uống nước này và lấy nước đó mà rửa mặt“. Lời này cũng là lời mời gọi cho mỗi người khi đến hành hương nơi dòng nước Đức Mẹ Lộ Đức. Vì thế, xưa nay ai đến đây cũng đều lấy nước suối Đức Mẹ Lộ Đức rửa mặt, uống, cùng lấy mang về, hay vào hồ dành riêng để tắm.
Đây là cung cách sống lòng đạo tốt lành. Nhưng đừng lẫn lộn nước suối Đức Mẹ Lộ Đức với nước Phép trong nhà thờ. Nước suối Lộ Đức không là nước từ dòng sông Gave de Pau chảy vào. Nhưng là nước thiên nhiên chảy vọt lên từ nguồn dòng nước sâu trong lòng đất.
Nước suối Lộ đức trở nên thời danh qua nhờ những phép lạ chữa bệnh, mà người bệnh tắm dìm mình trong nước đó, hay rửa tay, rửa mặt và uống nữa.
Nước suối Đức Mẹ Lộ đức là dấu chỉ của lòng tin, như chị Thánh Bernadette đã nói cho mọi người:“ Chúng ta dùng nước này như phương dược chữa lành, nhưng phải có lòng tin, và phải cầu nguyện. Nước này không mang lại hiệu qủa nếu không có đức tin“.
Đức Giê-su nói: "Ai uống nước này, sẽ lại khát.14 Còn ai uống nước tôi cho, sẽ không bao giờ khát nữa. Và nước tôi cho sẽ trở thành nơi người ấy một mạch nước vọt lên, đem lại sự sống đời đời." Ga 4,14
5. Khách hành hương
Từ hơn 150 năm nay và vẫn còn tiếp tục nữa trong tương lai, hằng năm hằng triệu người thuộc mọi giới, nam nữ, gìa trẻ, người khỏe mạnh, người gìa yếu bệnh tật, đủ mọi mầu da chủng tộc, ngôn ngữ khác nhau từ khắp mọi châu lục trên thế giới kéo về hành hương nơi hang đá dòng suối nước Đức Mẹ Lộ Đức.
Càng ngày con người càng cảm nhận thấy cần ơn trợ giúp thiêng liêng từ trời cao cho đời sống, sự cần thiết lòng ăn năn thống hối cùng sự tha thứ hòa giải với Thiên Chúa, và nhất là sự chữa lành những vết thương bệnh tật đau khổ phần thân xác cũng như tinh thần.
Vì thế, thánh địa Lộ Đức, tuy là một địa điểm nhỏ miền quê nằm dưới chân rặng núi Pyrene, đã trở thành trung tâm thu hút mọi người tuốn về hành hương cầu khấn đi tìm đến nguồn ơn cho những nhu cầu đang mong chờ khao khát.
Hang đá, dòng suối nước Đức Mẹ Lộ Đức là nơi chốn, nhịp cầu nối liền đời sống đức tin vào Thiên Chúa của anh chị em con người với nhau trong lòng Hội Thánh hoàn cầu.
„Tôi thấy: kìa một đoàn người thật đông không tài nào đếm nổi, thuộc mọi dân, mọi chi tộc, mọi nước và mọi ngôn ngữ.“ ( Kh 7,9)
6. Những bệnh nhân
Nơi thánh địa Lộ Đức những bệnh nhân, những người tân tật được mang đưa đến hành hương. Từng đoàn người như một dòng nước chảy trên những chiếc xe đẩy khắp vùng trung tâm thánh địa. Hình ảnh một thánh địa Lộ Đức sẽ như thế nào, nếu không có những bệnh nhân, người tàn tật ?
Hằng năm hơn 60.000 người bệnh, người tàn tật từ khắp mọi nơi trên thế giới đến đây hành hương Lộ Đức. Nơi thánh địa Đức Mẹ Lộ Đức, họ cảm nhận thấy đây là bến bờ sự an ủi, sự an bình và tình yêu thương chiếu tỏa từ trời cao, cùng từ những con ngươi săn sóc họ, cho tâm hồn họ. Và có nhiều người được ơn chữa lành bệnh thể xác. Lộ Đức là nơi chốn của phép lạ siêu nhiên, nơi chốn sự chữa lành những vết thương đau khổ.
Càng ngày có nhìều người bệnh, người tàn tật đến hành hương, nên ở Lộ Đức có đội ngũ những người thiện nguyện làm công việc đưa đón săn sóc những bệnh nhân, như đẩy xe di chuyển đưa họn đến hang đá cầu nguyện, đưa dẫn họ đến hồ suối nước tắm.
Thánh địa Lộ Đức trở thành nơi chốn của dấu chỉ tình bác ái yêu thương và tha thứ làm hòa cho trái tim tâm hồn.
Chúa Giêsu nói : „Thầy bảo thật anh em, điều gì anh em làm cho một người bé mọn nhất trong anh em, là anh em làm cho chính Thầy.“ ( Ga 25, 40)
***************
Năm 1858 Đức Mẹ Maria hiện ra với Thánh nữ Benadette ở Lourdes. Đức Mẹ đã nói cho Benadette biết chính Đức mẹ là người không vướng mắc tội tổ tông truyền lại, và chỉ cho Bernadette cùng mọi người hãy đến dòng suối nước nơi chân núi mà tắm gội cùng lấy về uống dùng.
Từ ngày đó, các tín hữu khắp mọi nơi trên thế giới kéo đổ về Lourdes hành hương kính viếng Đức Mẹ cùng tắm trong dòng suối nước trong lành ơn thánh, kín múc đưa về uống với lòng thành kính tin tưởng được Thiên Chúa nhờ lời bầu cử của Đức mẹ, ban ơn cứu giúp. Và lòng thành kính của rất nhiều người luôn được Thiên Chúa nhậm lời.
Từ năm 1993 đức Giáo hoàng Gioan Phaolo II. đã lấy ngày 11.02 là ngày lễ kính Đức mẹ Lộ Đức là ngày cầu nguyện cho các bệnh nhân trên thế giới.
Lời nói về chính mình là người không vường mắc tội tổ tông và dòng suối nước Đức Mẹ ở Lourdes là hình ảnh chỉ dẫn giới thiệu cho con người về làn nước bí tích Rửa tội khỏi tội tổ tông truyền lại.
Đến với Đức Mẹ Lourdes là đến với nguồn ơn suối nước bí tích thanh tẩy cho được khỏi bóng tối tội lỗi đè nặng tâm hồn cũng như thân xác con người.
Lễ Đức Mẹ Lộ Đức, 11.02.2015
Lm. Daminh Nguyễn ngọc Long
