Dân Chúa Âu Châu

Ga 14 23 29Bình an của Thầy.

CHÚA NHẬT 6 PHỤC SINH Năm C.

"Thánh Thần sẽ nhắc nhở cho các con tất cả những gì Thầy đã nói với các con".

Lời Chúa: Ga 14, 23-29

Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo Thánh Gioan.

Khi ấy, Chúa Giêsu phán cùng các môn đệ rằng: "Ai yêu mến Thầy, sẽ giữ lời Thầy, và Cha Thầy sẽ yêu mến người ấy, và Chúng Ta sẽ đến và ở trong người ấy. Kẻ không yêu mến Thầy, thì không giữ lời Thầy.

Lời các con nghe, không phải là của Thầy, nhưng là của Cha, Ðấng đã sai Thầy. Thầy đã nói với các con những điều này khi còn ở với các con. Nhưng Ðấng Phù Trợ là Thánh Thần, mà Cha sẽ sai đến nhân danh Thầy, chính Người sẽ dạy các con mọi điều, và sẽ nhắc nhở cho các con tất cả những gì Thầy đã nói với các con.

Thầy để lại bình an cho các con, Thầy ban bình an của Thầy cho các con. Thầy ban cho các con không như thế gian ban tặng. Lòng các con đừng xao xuyến và đừng sợ hãi. Các con đã nghe Thầy nói với các con rằng: Thầy đi, rồi Thầy trở lại với các con. Nếu các con yêu mến Thầy, thì các con hãy vui mừng vì Thầy về với Cha, bởi lẽ Cha trọng hơn Thầy. Giờ đây Thầy nói với các con trước khi việc xảy ra, để khi việc xảy ra, thì các con tin".

* Đọc GIỜ KINH PHỤNG VỤ link CGKPV

* Các BÀI ĐỌC TRONG THÁNH LỄ

Suy niệm CHÚA NHẬT 6 PHỤC SINH - Năm C

Lời Chúa: Cv 15,1-2.22-29; Kh 21,10-14.22-23; Ga 14,23-29

MỤC LỤC

1. Đến và ở lại--‘Manna’

2. Làm chỗ ở nơi người ấy--Lm. Antôn Nguyễn Cao Siêu, SJ.

3. Trong và ngoài tình yêu--TGM. Giuse Ngô Quang Kiệt

4. Di ngôn của Thày--TGM. Giuse Vũ Văn Thiên

5. Xa mặt, không cách lòng--ViKiNi--‘Xây Nhà Trên Đá’--Lm. Giuse Vũ Khắc Nghiêm

6. Chúa Nhật 6 Phục Sinh--Lm. Carôlô Hồ Bặc Xái

7. Đức Giêsu vẫn hiện diện-- Lm Giuse Đinh Lập Liễm

8. Ánh sáng soi đường--Lm. Giuse Phạm Thanh Liêm, SJ.

9. Thánh Thần- Đấng Trợ Giúp--Lm. Giuse Phạm Thanh Liêm, SJ

10. Thánh Thần, nguyên lý của bình an--Lm. GB. Trần Văn Hào

11. Tại sao lại tỏ mình ra cho con?--Lm. Gioan Nguyễn Văn Ty

12. Trung thành sống Lời Chúa--Lm. Giuse Phạm Thanh Minh

13. Trung thành sống Lời Chúa--Lm. Giuse Maria Lê Quốc Thăng

14. "Bình an cho các con"--Lm. Giuse Nguyễn Hữu An

15. Phúc cho ai lắng nghe và giữ lời Chúa--Lm Giuse Nguyễn Hữu An

16. Hòa bình là hồng ân của Thiên Chúa--Lm. Phanxicô Xaviê Lê Văn Nhạc

17. Thầy ban cho anh em bình an của Thầy--Lm. Alfonso

18. Bình an Chúa ban--Lm Phêrô Bùi Quang Tuấn

19. Quà tặng của Chúa--AM. Trần Bình An

20. Bình an--Lm. Giuse Trần Việt Hùng

21. Chúa Nhật 6 Phục Sinh--Lm. Trầm Phúc

22. Thánh Thần sẽ dạy anh em mọi điều--Lm. Trầm Phúc

23. Môn đệ của Tình Yêu--Dã Quỳ

24. Ân sủng Chúa--Lm. Vũ Đình Tường

25. Muốn được bình an, hãy yêu mến và tuân giữ lời Chúa--Lm. Antôn Nguyễn Văn Độ

26. Hãy giữ lời Thầy--Lm. Nguyễn Đức Trung

27. Hiện diện của kẻ vắng mặt--‘Như Thầy Đã Yêu’--Thiên Phúc

28. Hoà bình, hồng ân của Thiên Chúa--‘Niềm Vui Chia Sẻ’

29. Dung mạo người Kitô--‘Mỗi Ngày Một Tin Vui’--R. Veritas

30. Giáo Hội Nhà Tạm Chúa Ngự--Lm. Hồng Phúc

31. Chúa Nhật 6 Phục Sinh--Lm. GB. Nguyễn Văn Hiếu

32. Yêu Lời và giữ Lời--Lm. Anmai, CSsR

33. Yêu mến ai? Giữ lời ai?--PM. Cao Huy Hoàng

34. Bình an của Chúa Giêsu--Lm. Giuse Đỗ Văn Thụy

35. Đền thờ cao quý nhất--Lm. Inhaxiô Trần Ngà

36. Đền thờ cao quý nhất--‘Cùng Đọc Tin Mừng’--Lm Ignatio Trần Ngà

37. Phúc cho ai biết xây dựng hoà bình--‘Cùng Nhau Suy Niệm’--Lm Giuse Tạ Duy Tuyền

38. Cuộc sống mới--Lm. Nguyễn Hữu Thy

39. Bình an của Chúa--Lm. JB Nguyễn Minh Hùng

40. Chúa Nhật 6 Phục Sinh--Lm. Antôn Hà Văn Minh

41. Chúa Nhật 6 Phục Sinh--Lm. GB. Phạm Hồng Thái

42. Yêu mến và giữ Luật chỉ là một--Lm. Anphong Nguyễn Công Minh, OFM

43. Chúa Nhật 6 Phục Sinh--Lm. Ga. Phan Tiến Dũng

44. Cứ yêu, đừng sợ--Trầm Thiên Thu

45. Chúa Thánh Thần tiếp nối con đường thương xót--Jos. Vinc. Ngọc Biển

46. Bình an đích thực của Chúa--Jos. Vinc. Ngọc Biển

47. Chìa khóa đổi đời--Lm. Ân Sử

48. Hồng ân bình an--Lm. Minh Vận, CRM

49. Chúa Nhật 6 Phục Sinh--Lm. Augustine

50. Chúa Nhật 6 Phục Sinh--Lm. Giuse Phạm Ngọc Khuê

51. Kitô hữu tự bên trong--Lm. Nguyễn Trung Điểm

52. Vượt qua khủng hoảng đức tin--Lm. Đan Vinh

53. Công việc của Chúa Thánh Thần--Lm. Micae Võ Thành Nhân

54. Nhớ lại mọi điều--Emmanuel Nguyễn Thanh Hiền, OSB

55. Chúa Nhật 6 Phục Sinh--Lm. Anthony Trung Thành

56. Bình an của Chúa--Lm. Joshepus Quang Nguyễn

57. Yêu thương

58. Sống Lời Chúa

59. Chúa ở bên tôi

60. Ở lại trong tình yêu Chúa

61. Chúa Nhật 6 Phục Sinh

62. Sợ hãi

63. Bình an

64. Chúa Nhật 6 Phục Sinh

65. Nguồn bình an

66. Chơi trò hoà bình

67. Bình an Phục Sinh

68. Thánh Linh dạy dỗ

69. Ngôn hành hợp nhất

70. Yêu mến thì giữ lời

71. Bình an

72. Sống trong sự hướng dẫn của Chúa

73. Sống lời Chúa - tuân giữ lời Chúa

74. Yêu và giữ Lời--Huệ Minh

75. Bình an của Chúa--Huệ Minh

1.Đến và ở lại--‘Manna’
Khi được hỏi Đức Kitô hiện diện ở đâu,

chúng ta thường nghĩ ngay tới nhà thờ, nhà Tạm.

Tiếc thay lắm khi chúng ta dừng lại ở đó.

Chúng ta ít nghĩ đến một lối hiện diện khác của Ngài.

Không phải chỉ là ở với, ở bên, ở trước mặt,

mà còn là ở trong con người yếu đuối của ta.

Chúng ta ít nghĩ,

vì chúng ta không dám tin vào hồng ân quá đỗi lớn lao đó.

Chính vào lúc sắp chia tay các môn đệ để về với Cha,

Đức Giêsu đã long trọng loan báo chuyện Ngài ở lại:

“Ai yêu mến Thầy thì sẽ giữ lời Thầy,

Cha của Thầy sẽ yêu mến người ấy.

Chúng ta sẽ đến với người ấy

và sẽ làm nhà nơi người ấy” (Ga 14,23).

Đại từ Chúng Ta ở đây

để chỉ Chúa Cha và Chúa Con,

mà ở đâu có Chúa Cha, Chúa Con thì cũng có Thánh Thần.

Vì yêu Đức Kitô, tôi được đón nhận thế giới Ba Ngôi.

Vì yêu tôi, Ba Ngôi muốn đến thăm tôi và cư ngụ tại đó.

Trong tình yêu hai chiều này, thiên đàng chớm nở.

Thiên đàng thật gần, ngay trong lòng tôi.

Thiên đàng ấm áp ở nơi nghèo hèn, bé nhỏ,

nơi tâm hồn biết yêu Đức Kitô và tuân giữ lời Ngài.

Đôi khi tôi cần tự hỏi Thiên Chúa có ở trong tôi không.

Tôi có cảm nghiệm được chút nào sự hiện diện đó chăng?

Có bao giờ tôi thờ lạy sự hiện diện đó của Ngài không?

Kitô hữu không chỉ là bạn hữu của Đức Kitô,

mà còn là người có Đức Kitô nơi chính mình.

Họ là những cung thánh, những nhà thờ lưu động.

Họ không chỉ chứa đựng Đức Kitô như một Nhà Tạm,

họ còn nên một với Ngài trong tình yêu.

Các bí tích chúng ta lãnh nhận đều nhằm mục đích

làm cho tình yêu giữa ta với Đức Kitô được lớn lên.

Trước khi tôi rước lễ, Đức Kitô đã ở trong tôi rồi.

Sau khi tôi rước lễ, Ngài cũng chẳng bỏ tôi.

Nhưng mỗi lần rước lễ, sự hiện diện Ngài lại tăng trưởng.

Ngay cả khi không thể đến nhà thờ,

tôi vẫn có thể gặp Đức Kitô nơi cung lòng mình.

Chỉ cần để lòng mình lắng xuống,

là tôi có thể gặp Ngài và bước vào cuộc đối thoại.

“Ai yêu mến Thầy thì sẽ giữ lời Thầy”

Yêu mến Đức Kitô không phải chuyện dễ.

Yêu một người ta chưa gặp mặt và sống xa ta 20 thế kỷ.

Giữ lời Đức Kitô chẳng phải chuyện dễ.

Lời đòi chúng ta ra khỏi mình và bay lên cao.

Chính Thánh Thần sẽ giúp ta thấy

Đức Kitô thật gần để có thể say mê Ngài,

thấy Lời Tin Mừng trở nên sống động và bừng sáng

để giải quyết những vấn đề mới nảy sinh.

Hội Thánh của chúng ta sẽ là một Hội Thánh vô hồn,

nếu chẳng có sự hiện diện của Chúa nơi lòng các tín hữu.

Gợi Ý Chia Sẻ

Trong thánh lễ, linh mục chúc bình an cho giáo dân và mời họ chúc bình an cho nhau. Bạn thấy mình có bình an hơn nhờ tham dự thánh lễ không? Theo bạn, thế nào là người có tâm hồn bình an?

Bạn có quen ai mà bạn tin là có Chúa ở trong người ấy không? Dựa vào đâu mà bạn tin như vậy?

Cầu Nguyện

Ngài đã xuống tận đáy lòng con,

xin cho con chỉ tập trung vào tận đáy lòng con.

Ngài là thượng khách của lòng con,

xin cho con bước vào nhà là chính đáy lòng con.

Ngài chọn cư ngụ trong lòng con,

xin cho con biết ngồi yên ngay tại đáy lòng con.

Duy Ngài ở lại trong con,

xin cho con biết chìm sâu xuống tận đáy lòng con.

Duy Ngài hiện diện trong lòng con,

xin cho con biết xóa mình khi Ngài ở bên con.

Khi con đã gặp Ngài, không còn con và Ngài nữa.

Con chẳng là gì cả, và Ngài là tất cả.

2.Làm chỗ ở nơi người ấy--Lm. Antôn Nguyễn Cao Siêu, SJ.
Người Do-thái tin Thiên Chúa ngự trên trời,

và tin Đền Thờ dưới đất là nơi Ngài ngự.

Chúa Giêsu quý Đền Thờ và gọi đó là Nhà Cha (Ga 2,16).

Như thế có Nhà Cha ở trên trời và Nhà Cha dưới đất.

Nhưng khi đuổi những người buôn bán ra khỏi Đền Thờ,

Ngài lại khẳng định một điều hết sức mới mẻ.

Đền Thờ đích thực không phải là Đền Thờ Giêrusalem,

mà là “chính thân thể của Ngài” (Ga 2,21).

Đền Thờ này sẽ bị người ta phá hủy,

nhưng “nội trong ba ngày, tôi sẽ dựng lại” (Ga 2,19).

Khi Con Một Thiên Chúa, làm người có thịt xương,

chính thân thể của Ngài trở nên nên Đền Thờ,

nơi có sự hiện diện của Thiên Chúa,

và là nơi con người có thể gặp gỡ Thiên Chúa.

Khi Chúa Giêsu trở về Nhà Cha,

khi Ngài không hiện diện bằng thân xác thể lý nữa,

Ngài vẫn muốn ở lại với các môn đệ của Ngài.

Trong bài Tin Mừng hôm nay,

Chúa Giêsu biết trước nỗi xao xuyến và sợ hãi của họ,

vì sự ra đi của Ngài sẽ tạo ra một khoảng trống lớn lao.

“Lòng anh em đừng xao xuyến, và đừng sợ hãi” (Ga 14,27).

Thân mình Thầy sẽ bị người ta hành hạ và giết đi,

Đền Thờ là thân mình Thầy sẽ bị sụp đổ,

nhưng muôn ơn sẽ đến qua cái chết của Thầy.

Các môn đệ mất đi sự hiện diện thể lý của Thầy,

nhưng họ lại được dư tràn bao sự hiện diện khác.

Trước hết là sự hiện diện của Chúa Thánh Thần.

Ngôi vị thần linh này do Chúa Cha sai đến

để ở với, ở giữa và ở trong anh em (Ga 14,16-17).

Đây là Đấng Bảo trợ khác, cũng là vị Thầy khác.

Đấng ấy sẽ làm họ nhớ lại những gì Thầy Giêsu đã dạy

và đem áp dụng trong hoàn cảnh hiện tại (Ga 14,26).

Hơn nữa, Thầy Giêsu còn bất ngờ hứa cho các môn đệ

một thiên đàng rất gần, nhỏ bé, đơn sơ và thân thương.

Nó ở nơi lòng người yêu mến Thầy và giữ lời Thầy dạy:

“Cha Thầy và Thầy sẽ đến với người ấy

và sẽ làm chỗ ở của mình nơi người ấy” (Ga 14,23).

Như thế tâm hồn của người tín hữu đạo đức

trở thành chỗ ở của Thiên Chúa, thành thiên đàng.

Thân thể Chúa Giêsu phục sinh là Đền Thờ mới

được xây dựng lại sau khi bị phá hủy.

Và tâm hồn mỗi tín hữu cũng là một đền thờ,

nơi có Chúa Ba Ngôi ngự trị, thường trú.

Khi cầu nguyện với Thiên Chúa,

chúng ta vẫn ngước mắt lên trời.

Nhưng cũng có khi ta nên quay vào trong lòng mình

để ý thức về sự hiện diện và hoạt động của từng Ngôi.

Kitô hữu là người mang thiên đàng nơi mình,

và muốn chia sẻ thiên đàng đó cho người khác.

CẦU NGUYỆN

Lạy Chúa,

Nếu con cứ mãi bực bội

vì một lời nói thiếu tế nhị,

nếu con cứ nuôi cơn giận

vì một hành vi khiếm nhã,

thì tim con chẳng được bình an.

Nếu con cứ dằn vặt mình

vì một điều mình va vấp,

nếu con không sao chịu nổi

những sai sót của bản thân,

thì tim con chẳng được bình an.

Nếu con ưu tư phiền muộn

vì những yếu đuối của mình,

nếu con cay đắng ghen tỵ

vì những thành công của người khác,

thì tim con mãi mãi chẳng được bình an.

Lạy Chúa,

bình an là một ơn rất lớn,

vậy mà con thường dễ dàng đánh mất

chỉ vì những chuyện không đâu.

Xin giải thoát con khỏi cái tôi nặng nề,

để lòng con nhẹ nhàng thanh thản.

Xin cho tim con vui trở lại

Và chữa con khỏi mọi tổn thương.

3.Trong và ngoài tình yêu--TGM. Giuse Ngô Quang Kiệt
Trong những năm qua, nước ta phải trải qua hai thiên tai khốc liệt. Thiên tai gây nên những thiệt hại trầm trọng về vật chất và tinh thần. Nhưng cũng chính trong thiên tai đã xuất hiện những nét đẹp của tình người.

Qua báo đài, tôi đã thấy nhiều Đức Giám mục, Linh mục mặc quần soọc áo may-ô chèo thuyền đi thăm viếng, khích lệ các nạn nhân. Nhiều cao tăng hoà thượng vận động tín đồ Phật tử tham gia công tác cứu trợ. Nhiều nữ tu đứng ra tổ chức công việc cứu trợ có khoa học và hiệu quả. Nhiều nhà thờ, nhà chùa, tu viện trở thành nơi tiếp đón các gia đình lâm nạn. Biết bao bộ đội, công an xả thân, liều lĩnh vượt qua sóng to gió lớn để cứu hộ các nạn nhân. Cả nước hướng về những nơi hoạn nạn đã đành. Cả những anh chị em ở nước ngoài cũng đau đớn khi khúc ruột trong nước đau đớn. Nên Việt kiều ở nước ngoài cũng đã vận động quyên góp, tổ chức những đoàn cứu trợ về thăm viếng và uỷ lạo các nạn nhân bão lụt. Nhiều cơ quan thiện nguyện nước ngoài cũng nhập cuộc. Tất cả mọi người, không phân biệt tôn giáo, màu da, ngôn ngữ, khuynh hướng chính trị, giai cấp đang quy tụ lại để khắc phục thảm hoạ. Toàn cầu hoá với sự bùng nổ thông tin đang làm cho các nước xích lại gần nhau. Gần gũi không chỉ về không gian, nhưng nhất là về tấm lòng. Mọi người liên đới với nhau trong việc chống lại cái ác và cùng nhau đề cao sự thiện, lòng nhân ái. Đó là dấu chỉ cho thấy Lời Chúa đang được thực hiện.

Tuần trước khi Chúa Giêsu nói: “Người ta cứ dấu này mà nhận biết các con là môn đệ Thầy, là các con thương yêu nhau”, Người đã cấp thẻ quốc tịch cho những kẻ thuộc về Người. Căn tính của những kẻ thuộc về Người không phải là mầu da, ngôn ngữ hay phong tục tập quán, nhưng là trái tim. Người ta nhận ra thần dân của Người không phải bằng chiều cao, sức nặng, nhưng bằng tình yêu.

Hôm nay, khi nói: “Ai yêu mến Thầy thì giữ Lời Thầy. Và Cha Thầy sẽ yêu mến người ấy. Và chúng ta sẽ đến và ở trong người ấy”, Chúa Giêsu đang vẽ nên biên cương Nước Chúa. Biên cương này không xác định bằng rừng núi, sông biển, nhưng bằng tấm lòng. Chúa Giêsu không giới hạn Nước Chúa trong 4 bức tường nhà thờ vì Nước Chúa là Tình Yêu. Vì thế, điều quan trọng không phải là ở trong hay ngoài nhà thờ, nhưng là ở trong hay ở ngoài tình yêu. Ai ở ngoài nhà thờ mà ở trong Tình Yêu thì người ấy đã ở trong Nước Chúa. Trái lại, những ai ở trong nhà thờ mà không có Tình Yêu, thì người ấy vẫn còn ở ngoài Nước Chúa.

Rồi xã hội sẽ chẳng còn phân biệt hữu thần với vô thần. Nhưng sẽ chỉ có một phân biệt duy nhất: hữu tâm và vô tâm. Người hữu tâm là người có trái tim rộng mở, biết chạnh lòng thương xót, biết chia sẻ, phục vụ. Người vô tâm là người lòng chai dạ đá, trái tim khép chặt, chỉ biết trau chuốt bản thân. Người vô thần mà có trái tim nhân ái thì đã thuộc về Chúa. Hữu thần mà tâm hồn tàn nhẫn độc ác thì đã bị loại trừ ra khỏi Nước Chúa rồi.

Nhìn như thế, Nước Chúa thực là rộng lắm. Những người thuộc về Nước Chúa thực là đông đảo. Những người có trái tim yêu thương tạo nên thành Giêrusalem mới như ta nghe trong bài đọc thứ I hôm nay. Thành Giêrusalem mới có cửa mở ra 4 phương tám hướng để đón nhận mọi người từ khắp nơi tuốn về. Thành không có Đền Thờ vì thành được xây bằng yêu thương. Mà ở đâu có yêu thương thì ở đó có Thiên Chúa ngự trị. Thành không cần đèn đuốc vì Thiên Chúa tình yêu là ánh sáng cho thành. Gạch xây thành là những trái tim chan chứa yêu thương nên thành trở nên một khối pha lê trong suốt, như một viên ngọc quý toả ánh sáng tới khắp muôn dân.

Trong số những người có trái tim, xây dựng nên thành Giêrusalem mới ấy, tôi thấy có nhiều người trong anh chị em. Trong những năm qua số người tham gia công tác từ thiện bác ái ngày càng đông. Người âm thầm, kẻ công khai. Người góp của, kẻ dâng công. Tôi thấy rõ là anh chị em đang phấn đấu để ở trong tình yêu. Tôi thấy rõ là anh chị em đang rèn luyện để trở nên người hữu tâm.

Xin tình yêu Chúa thanh luyện trái tim ta không ngừng, để mỗi trái tim chúng ta trở thành một viên gạch trong suốt như pha lê, góp phần xây dựng thành Giêrusalem mới cho tình yêu Thiên Chúa ngự trị. Amen.

KIỂM ĐIỂM ĐỜI SỐNG

1. Chỉ đi lễ, đi đọc kinh thôi, đã đủ làm công dân trong Nước Trời chưa? Bạn có quan tâm giúp đỡ những người kém may mắn chung quanh bạn không?

2. Bạn có phấn đấu để hãm dẹp tính ích kỷ, chia rẽ và phát triển tình yêu thương tha thứ trong tâm hồn bạn không?

3. Bạn nghĩ gì về những người ngoại đạo tốt? Họ có phải là con Chúa không?

4. Trong và ngoài Giáo Hội. Trong và ngoài tinh thần. Bạn quan tâm tới điều nào hơn?

4.Di ngôn của Thày--TGM. Giuse Vũ Văn Thiên
Di ngôn của Chúa không phức tạp dài dòng, chỉ vỏn vẹn mấy câu cốt lõi: Hãy giữ lời Thày. Hãy yêu mến nhau. Hãy an tâm, đừng xao xuyến. Những lời này đã đem lại sức mạnh và nghị lực thiêng liêng cho các môn đệ vào thời Giáo Hội sơ khai, cho các tín hữu suốt bề dày hai mươi thế kỷ và cho chúng ta hôm nay.

Chuẩn bị mừng lễ Thăng Thiên, Phụng vụ cho chúng ta nghe những lời tâm sự của Chúa Giêsu với các môn đệ vào cuối bữa tiệc ly. Đây là những di ngôn của một người Thày đối với các môn sinh, là những người từng bao năm gắn bó và chia sẻ ngọt bùi. Những lời này đã làm nên tôn chỉ cốt lõi của cộng đoàn tín hữu sau này. Di ngôn của Chúa không phức tạp dài dòng, chỉ vỏn vẹn mấy câu cốt lõi: Hãy giữ lời Thày. Hãy yêu mến nhau. Hãy an tâm, đừng xao xuyến. Những lời này đã đem lại sức mạnh và nghị lực thiêng liêng cho các môn đệ vào thời Giáo Hội sơ khai, cho các tín hữu suốt bề dày hai mươi thế kỷ và cho chúng ta hôm nay.

“Hãy giữ lời Thày!”. Đây không phải là lần đầu tiên Chúa nói câu này. Lắng nghe và thực hành Lời Chúa là lời mời gọi thường xuyên trong giáo huấn của Chúa Giêsu. Chúa đã so sánh ai nghe và tuân giữ Lời Chúa giống như xây nhà trên đá, luôn vững bền trước mọi phong ba bão táp của cuộc đời. Nhờ xây dựng đời mình trên Lời Chúa, mà các thánh đạt tới mức hoàn thiện ngay khi còn sống ở đời này. Lời Chúa vừa ngọt ngào ban niềm vui, nhưng Lời Chúa cũng như “thuốc đắng dã tật”, sửa phạt khi chúng ta lầm lỗi. Lời Chúa không để cho chúng ta ngủ yên trong vỏ bọc ích kỷ của cái tôi tầm thường nhỏ mọn, nhưng mở rộng tâm hồn để đến với tha nhân. Đức Maria là một mẫu gương cho chúng ta về việc tuân giữ Lời Chúa. Thánh Luca ghi lại, khi Mẹ chứng kiến vui buồn xảy đến với Đức Giêsu, Mẹ ghi nhớ và suy niệm trong lòng (x. Lc 2051). Giữ lời Thày là bằng chứng hùng hồn của tình yêu dành cho Thày.

“Hãy yêu mến nhau!”. Yêu mến là cốt lõi giáo huấn Kitô giáo. Đây cũng là lời mời gọi thường xuyên của Chúa Giêsu. Có thể nói lời mời gọi yêu thương trải dài trên từng trang của Tin Mừng. Chúa Giêsu không chỉ kêu gọi suông, mà chính Người làm gương cho các môn đệ. Người đã rửa chân cho các ông vào cuối bữa tiệc ly. Đây vừa là cử chỉ yêu thương đối với các ông, vừa là một gương mẫu sống động để qua đó, Người khẳng định với các ông: yêu thương và phục vụ đi đôi với nhau. Ngay từ khi Tin Mừng được loan báo trên quê hương Việt Nam chúng ta, những người lương dân chưa biết danh xưng của tôn giáo mới có nhiều người theo. Họ căn cứ vào những gì người Công giáo làm hằng ngày mà gọi Đạo Công giáo là “Đạo Yêu Thương”. Tiếc rằng trong cuộc sống hôm nay, hai từ yêu thương có nguy cơ trở thành câu khẩu hiệu và lý thuyết vô hồn. Đây đó tại một số nơi, trong các bài phát biểu, các bài viết, người ta nói đến yêu thương như một công thức, còn trong thực tế thì ngược lại. Tình trạng xung đột, chia rẽ và khép kín của một số cộng đoàn đã làm biến dạng hình ảnh của Giáo Hội Chúa Kitô.

“Hãy an tâm, đừng xao xuyến!”. Giữa bối cảnh xã hội đầy bất an hôm nay, lời khuyên hãy an tâm dễ bị hiểu như một sự trấn an giả tạo nhằm ru ngủ người nghe. Tuy vậy, nếu chúng ta có niềm xác tín nơi tình yêu của Chúa, tin Ngài là Đấng dẫn dắt cuộc đời chúng ta, thì làm sao chúng ta còn lo lắng buồn phiền. Bởi lẽ, lo lắng cũng không làm cho cuộc sống của chúng ta kéo dài thêm, dù chỉ một gang tay (x. Mt 6, 27). Nếu chúng ta có thể an tâm, là vì chúng ta có ơn Chúa Thánh Thần. Ngài luôn hoạt động trong Giáo Hội để hướng dẫn Giáo Hội trong cuộc lữ hành trần gian. Bài đọc I kể lại một biến cố quan trọng trong lịch sử, đó là Công đồng đầu tiên của Kitô giáo, được tổ chức tại Giêrusalem vào khoảng năm 46 sau Công nguyên. Các tông đồ đã ý thức trách nhiệm của mình trước những ý kiến dư luận trái ngược nhau về những thực hành trong Đạo Do Thái như cắt bì, ăn thịt cúng, tuân giữ Luật ông Môisen… “Văn kiện” đúc kết của Công đồng rất đơn sơ, nhưng nêu rõ “Thánh Thần và chúng tôi đã quyết định…”. Giáo Hội luôn có Chúa Thánh Thần hướng dẫn suốt bề dày của lịch sử, giữa những thăng trầm thử thách. Cũng trong những di ngôn, Chúa Giêsu đã hứa: “Đấng Bảo Trợ là Thánh Thần Chúa Cha sẽ sai đến nhân danh Thầy, Đấng đó sẽ dạy anh em mọi điều và sẽ làm cho anh em nhớ lại mọi điều Thầy đã nói với anh em”. Chúa Thánh Thần vừa bảo trợ Giáo Hội, vừa soi sáng cho Giáo Hội nhớ lại giáo huấn của Chúa Giêsu, để luôn thực hành những gì Chúa đã chỉ dạy.

“Hãy giữ lời Thày. Hãy yêu mến nhau. Hãy an tâm, đừng xao xuyến”. Khi thực hiện những lời khuyên này, chúng ta cảm nhận sâu xa sự hiện diện của Chúa Giêsu, mặc dù Người đã về trời. Xác tín vào sự hiện diện và tình yêu thương của Chúa, tuy còn sống ở trần gian, chúng ta đã được hưởng hạnh phúc tương lai. Trong một thị kiến, Thánh Gioan tông đồ đã thấy những hình ảnh về Giêrusalem (Bài đọc II). Đây là một cách diễn tả hạnh phúc thiên đàng, ở đó, tình yêu, an bình và chân lý sẽ ngự trị. Không còn gian dối và mưu mô. Không còn những toan tính vụ lợi trần tục, nhưng tất cả đều được vinh quang Thiên Chúa bao trùm trong một nghi lễ phụng vụ thiên quốc, tràn đầy hạnh phúc và niềm vui.

“Ai yêu mến Thầy, thì sẽ giữ lời Thầy. Cha Thầy sẽ yêu mến người ấy. Cha Thầy và Thầy sẽ đến và ở lại với người ấy.” Hãy nghe những lời tâm huyết của Chúa. Đó là di ngôn của người sắp đi xa. Yêu mến Thày là cội nguồn của bình an và là bảo đảm của hạnh phúc hôm nay cũng như suốt đời.

5.Xa mặt, không cách lòng--ViKiNi--‘Xây Nhà Trên Đá’--Lm. Giuse Vũ Khắc Nghiêm
Câu nói: “Xa mặt cách lòng” tiết lộ một sự thật chua chát của lòng con người. Khi xa nhau thì người ta dễ quên nhau. Bao nhiêu đôi vợ chồng đỗ vỡ vì sống xa nhau. Bao nhiêu con cái xa cha mẹ, thì dễ thành bất hiếu, bất nhân, bụi đời, hư hỏng. Bao nhiêu đầy tớ khi chủ vắng nhà thì như gà mọc đuôi tôm. Đúng như dụ ngôn đầy tớ bất trung (Mt. 24, 48-51)

Đức Giêsu muốn đề phòng cho các môn đệ khỏi lâm vào cảnh đau lòng xa mặt cách lòng, nên trước khi về trời, về cùng Chúa Cha, Người đã đảm bảo với môn đệ rằng về phía Thiên Chúa không có chuyện xa mặt cách lòng, và về phía con người cần phải giữ lời Thầy để xa mặt, nhưng không cách lòng.

1- Về phía Thiên Chúa: Xa mặt, không cách lòng. Để đảm bảo chắc chắn dù Đức Giêsu về trời, về cùng Chúa Cha, thì “Cha Thầy và Thầy sẽ đến và ở với anh em”, “Cha Thầy còn phái đến nhân danh Thầy, Đấng bào chữa là Thánh Thần sẽ dậy anh em mọi điều và sẽ làm cho anh em nhớ lại mọi điều Thầy đã nói với anh em”. Đức Giêsu còn đoan hứa rõ ràng: “Thầy ở cùng anh em mọi ngày cho đến tận thế. Chứ không để anh em mồ côi đâu”. “Vì Thiên Chúa đã thương thế gian đến nỗi đã ban Con Một của Ngài cho thế gian được sống và sống dồi dào”. Như vậy, cả Ba ngôi Thiên Chúa đều đến ở trong anh em, anh em được yêu mến, dậy dỗ, được bào chữa, nâng đỡ và được ban phúc bình an, không còn phải xao xuyến, sợ hãi, mà còn được vui mừng vì Thầy về cùng Chúa Cha cao trọng hơn Thầy. Vậy, về phía Đức Giêsu, càng xa mặt về phần xác bao nhiêu, thì về phần thiêng liêng càng gắn bó kết hợp với anh em ở khắp mọi nơi, và khắp mọi lúc.

2- Về phía con người: Xa mặt, phải làm sao để không cách lòng?

Để đề phòng khi xa mặt Chúa, mà lòng mình không xa Chúa; khi chủ vắng nhà, đầy tớ không bất trung mọc đuôi tôm, thì Đức Giêsu đã bảo: “Ai yêu mến Thầy thì sẽ giữ lời Thầy” giữ lời Thầy, thực thi lời Thầy, sống lời Thầy, truyền bá lời Thầy, mới chứng tỏ lòng yêu mến Thầy. Như thế, xa mặt, nhưng không cách lòng. Giữ lời Thầy là một trắc nghiệm rõ nhất, chính xác nhất về lòng mến Chúa. “Lửa thử vàng, gian nan thử đức” thì giữ lời Thầy là lửa thử lòng mến Thầy. Trong khoa học, để biết chắc một giả thuyết đúng, người ta phải thử bằng thí nghiệm, bao lâu chưa chứng nghiệm chắc chắn, thì chỉ là giả thuyết, chưa có giá trị khoa học. Nhà bác học Pasteur đã bác bỏ giả thuyết tự vật chất sinh ra sinh vật. Ông đã làm thí nghiệm nhiều lần đem dấm lên núi cao, nơi không khí trong sạch không có vi khuẩn, dấm không bao giờ lên men. Dấm chỉ lên men khi có vi khuẩn. Nhờ thí nghiệm đó, Pasteur đã phát minh ra khoa vi trùng học để chữa bao nhiêu chứng bệnh của con người.

Đức Giêsu đã dậy chúng ta khám phá ra lòng mến Chúa bằng phương pháp “giữ lời Chúa”. Hãy làm thí nghiệm xem chúng ta có lòng mến Chúa thật hay giả: “Ai yêu mến Thầy thì sẽ giữ lời Thầy”.

Các môn đệ sống với Thầy bằng xương bằng thịt, ai cũng tỏ ra yêu mến Thầy. Nhưng khi xa mặt Thầy, khi Thầy về cùng Chúa Cha, các ông muốn biết mình còn yêu mến Thầy nữa không, thì phải xem mình có thực thi lời Thầy không? Nếu các ông giữ lời Thầy, sống theo lời Thầy, chứng tỏ chắc chắn các ông còn yêu mến Thầy. Quả thực, trừ Giuda, hết thảy các môn đệ chẳng những giữ lời Thầy, sống lời Thầy, mà còn rao giảng lời Thầy, viết sách truyền bá lời Thầy cho muôn dân, muôn thế hệ. Các ông còn hy sinh chịu chết để chứng tỏ lời Thầy thật là lời hằng sống, lời của Chúa Cha ban ơn cứu độ, ban sự sống hạnh phúc muôn đời cho những ai tin và giữ lời Thầy: “Lời Thầy nói với anh em là Thần khí và sự sống” (Ga. 6, 63) “Ai nghe lời Thầy và tin vào Đấng đã sai Thầy thì có sự sống đời đời” (Ga. 5, 24). “Ai tuân giữ lời Tôi, sẽ không bao giờ phải chết” (Ga 8, 51). Các môn đệ đã giữ lời Thầy để chứng tỏ lòng mến Chúa và nhờ đó các ông được phần thưởng vinh quang muôn đời.

Phần chúng ta thì sao? Có bao giờ chúng ta dùng phương pháp “giữ lời Thầy” để thử mình có lòng mến Chúa không?

Thường thì chúng ta tưởng mình có lòng mến Chúa bằng đi lễ, đọc kinh, dâng hoa, rước kiệu, tổ chức Giáng sinh, Phục sinh long trọng vui vẻ… Như thế là yên tâm mình đã giữ đạo, là có lòng mến Chúa. Sợ rằng chúng ta chỉ kính bằng môi miệng mà lòng xa Thiên Chúa!

Có người tưởng mình giữ trọn mười điều răn như chàng thanh niên giầu có trong Tin Mừng “đã giữ tất cả các điều đó từ thuở nhỏ” (Mt. 19, 16-22; Lc. 18, 18-23). Anh tưởng như thế là được sống đời đời! Thật lầm to! Lời Chúa không phải chỉ có mười điều răn theo lối sống tiêu cực của anh, anh chưa có lòng mến Chúa và yêu người tích cực.

Chúng ta phải tích cực giữ lời Chúa, sống lời Chúa, thực thi lời Chúa và loan truyền lời Chúa như các môn đệ đã thi hành và ghi chép lại trong Tin Mừng.

Ca dao có câu: “Cá không ăn muối, cá ươn. Con cãi cha mẹ trăm đường con hư”. Nếu chúng ta không sống lời Chúa, mặc nhiên là cãi lời Chúa, chắc chúng ta sẽ chẳng được sống đời đời. Người xưa còn khuyên: “Con ơi muốn nên thân người. Lắng tai nghe lấy những lời mẹ cha”. Lời mẹ cha là phàm nhân còn có sức huấn luyện con cái nên người tốt: Huống chi lời Chúa, làm sao chúng ta không lắng nghe?

Lạy Chúa Giêsu, thân phận con là loài hình hài thể xác, luôn bị hấp dẫn bởi hình danh sắc tướng mầu mè cụ thể trước mắt. Khi xa mặt, dễ cách lòng, xin nâng đỡ phận hèn mệnh bạc của con, để con tận tình giữ lời Chúa. Xin Lời Chúa sẽ soi sáng con yêu mến Chúa và gắn bó với Chúa luôn mãi.

6.Chúa Nhật 6 Phục Sinh--Lm. Carôlô Hồ Bặc Xái
Chủ Ðề: Ơn ban của Chúa Giêsu phục sinh: Đấng Phù Trợ, Bình an. tình yêu.

I. Dẫn vào Thánh lễ

Anh chị em thân mến

Trong Thánh lễ hôm nay, chúng ta sẽ nghe những lời Chúa Giêsu nói trước khi Ngài ra đi chịu chết. Ngài bảo chúng ta hãy tuân giữ những huấn lệnh của Ngài. Ngài hứa ban Thánh Thần cho chúng ta và ban bình an cho chúng ta.

Đó chính là những lời trăn trối của Chúa, những điều Ngài tha thiết nhất. Chúng ta hãy chăm chỉ lắng nghe và cố gắng thực hiện.

II. Gợi ý sám hối

Chúa đã nói "Ai yêu mến Thầy thì sẽ giữ lời Thầy". Chúng ta chưa yêu mến Chúa thật vì chúng ta không tuân giữ Lời Chúa.

Chúa đã ban Chúa Thánh Thần cho chúng ta. Nhưng chúng ta nhiều khi không sống theo sự hướng dẫn của Chúa Thánh Thần.

Chúa đã ban bình an cho chúng ta. Nhưng chúng ta nhiều khi không sống bình an hòa thuận với nhau.

III. Lời Chúa

1. Bài đọc I (Cv 15,1-29)

Đang khi Phaolô và Barnaba truyền giáo cho dân ngoại, thì những người Do Thái từ Giêrusalem đến buộc dân ngoại tòng giáo phải cắt bì và tuân giữ lề luật của Môsê. Hai vị truyền giáo không đồng ý nên trình vấn đề lên Hội Thánh.

Hội Thánh đã họp hội nghị ở Giêrusalem và ra quyết định: "Thánh Thần và chúng tôi đã quyết định không đặt lên vai anh em một gánh nặng nào khác ngoài những điều cần thiết này: là kiêng ăn đồ đã cúng cho ngẫu tượng, kiêng ăn tiết, ăn thịt loài vật không cắt tiết và tránh gian dâm".

2. Tin Mừng (Ga 14,23-29)

Có thể coi đoạn Tin Mừng này là một bài giáo lý về Chúa Ba Ngôi: Trong đoạn Tin Mừng này, Chúa Giêsu nhắc tới cả 3 ngôi Thiên Chúa: "Ai nghe các giới răn Thầy truyền và tuân giữ.... Ai yêu mến Thầy, sẽ được Cha Thầy yêu mến... Đấng Phù Trợ, là Thánh Thần mà Cha sẽ sai đến nhân danh Thầy, chính Ngài sẽ dạy các con mọi điều và sẽ nhắc nhở các con tất cả những gì Thầy đã nói với các con".

Như thế, giáo lý cơ bản về Ba Ngôi là:

Chúa Cha là Đấng sai Chúa Con đến với loài người

Chúa Con vâng lời Chúa Cha đến với loài người để dạy loài người những lệnh truyền

Chúa Thánh Thần lại được Chúa Cha sai đến nhân danh Chúa Con, để dạy loài người hiểu sâu hơn những lệnh truyền của Chúa Con.

Thái độ con người phải có đối với Ba Ngôi:

Yêu mến Chúa Con nên tuân giữ những điều Ngài dạy.

Chúa Thánh Thần sẽ giúp đỡ họ làm điều đó

Kết quả: Ba Ngôi sẽ "yêu mến", "tỏ mình ra" và "ở trong" người ấy.

3. Bài đọc II (Kh 21,10-23)

Một thị kiến khác về Thành Giêrusalem mới:

Thành từ trên trời ngự xuống

Rất xinh đẹp và tươi sáng

Thành không có đền thờ vì chính Thiên Chúa là đền thờ của thành; thành cũng không có mặt trời và mặt trăng vì chính Thiên Chúa là ánh sáng của thành.

IV. Gợi ý giảng

1. Bình an

Trong triều của một vua nọ có hai họa sĩ rất tài ba nhưng luôn ganh ghét đố kỵ nhau. Một hôm nhà vua phán: "Ta muốn phán quyết một lần dứt khoát ai trong hai người là người giỏi nhất. Vậy hai ngươi hãy vẽ mỗi người một bức tranh theo cùng một đề tài, đó là bình an".

Hai họa sĩ đồng ý. Một tuần sau họ trở lại, mỗi người mang theo bức vẽ của mình. Bức họa của người thứ nhất vẽ một khung cảnh thơ mộng: những ngọn đồi nhấp nhô bao quanh một cái hồ rộng với mặt nước phẳng lì không một gợn sóng. Toàn cảnh gợi lên một cảm giác thanh thản, thoải mái. Sau khi xem xong. nhà vua nói: "Bức họa này rất đẹp, nhưng nó làm ta buồn ngủ quá". Bức họa của người thứ hai vẽ một thác nước. Hình ảnh rất sinh động đến nỗi nhìn nó người ta như nghe được tiếng nước đổ ầm ầm xuống vực thẳm. Nhà vua nói: "Đây đâu phải là một cảnh bình an". Họa sĩ thứ hai bình tĩnh đáp: "Xin bệ hạ nhìn kỹ hơn một chút nữa xem". Nhà vua nhìn kỹ và khám phá một chi tiết mà nảy giờ ông chưa chú ý: Trong một nhành cây nép mình sau dòng thác lũ, có một tổ chim. Trong tổ, chim mẹ đang ấp trứng, đôi mắt nửa nhắm nửa mở. Chim mẹ đang bình thản chờ các con mình nở ra. Nhà vua nói: "Ta rất thích bức tranh này. Nó đã chuyển tải được một ý tưởng độc đáo về bình an, đó là vẫn có thể sống bình an ngay giữa những xáo trộn của cuộc đời". Và nhà vua đã đặt tác giả của nó là người họa sĩ hạng nhất của triều đình.

Chúa Giêsu đã nói: "Thầy để lại bình an cho các con. Thầy ban bình an cho các con không theo kiểu thế gian. Lòng các con đừng xao xuyến, các con đừng sợ hãi." Những lời này Ngài nói giữa bữa Tiệc ly. Phải chăng đây là một thời điểm không thích hợp để nói về bình an, vì khi ấy hoàn cảnh bên ngoài rất là xáo trộn? Không, trái lại rất thích hợp. Bởi vì bình an là thông hiệp với Thiên Chúa. Chúa Giêsu đang hiệp thông mật thiết với Thiên Chúa nên Ngài vẫn có thể nói về bình an ngay cả khi kẻ thù của Ngài đã đến gần và sắp giết chết Ngài.

Bình an không phải giống như yên ổn, vì yên ổn là ở bên ngoài còn bình an thì ở bên trong. Bình an là tình trạng của một tâm hồn đang có tương quan tốt với Thiên Chúa và với tha nhân. Thành tố quan trọng của bình an là sự công chính. Bởi thế, không có bình an cho kẻ dữ.

Bình an là kết quả của lòng trông cậy vào Chúa và khi ước muốn làm đẹp lòng Chúa là điều quan trọng bậc nhất trong đời. Đây là điều mà ta có thể có ngay giữa những xáo trộn, xung đột và những vấn đề rắc rối chưa giải quyết được.

Đó chính là thứ bình an mà thế gian không thể ban tặng được. (FM)

2. Hiện diện của kẻ vắng mặt (Ga 14,23-29)

Có một nhà chuyên môn sưu tầm các loài bướm. Ngày nọ, khi bước vào một công viên, ông đã gặp tổ kén lạ. Ông liền bứt cành cây đem kén bướm về nhà. Ít ngày sau, ông thấy nhúc nhích bên trong kén, nhưng con bướm vẫn chưa phá kén bay ra.

Hôm sau, kén lại nhúc nhích, nhưng chẳng có gì khác lạ. Lần thứ ba, vẫn thấy như trước, ông liền lấy dao rạch kén, thế là con bướm bò ra ngoài. Tuy nhiên, bướm không tăng trưởng và chẳng bao lâu thì chết.

Sau này, ông được người bạn là nhà sinh vật học cắt nghĩa như sau: Thiên nhiên đã xếp đặt cho con bướm phải đấu tranh mới thoát ra khỏi cái kén, vì nhờ đấu tranh gian khổ mà nó có thể phát triển mạnh mẽ để sinh tồn.

***

Muốn làm cánh bướm bay trên ngàn hoa rực rỡ, bướm phải làm kiếp sâu lặng lẽ, cô tịch trong vỏ kén lặng lờ, khuất nẻo. Muốn làm con bướm bay trong bầu trời xanh ngắt, bướm phải là con sâu đen đủi xấu xa, vặn vẹo đau đớn trong tổ kén đợi chờ.

Để trở nên những tín hữu Kitô vững mạnh, tăng triển về đường thiêng liêng, chúng ta phải trải qua một thời kỳ gian khổ để tiến triển về mặt tâm linh, chúng ta cũng phải vượt qua đấu tranh thử thách. Nhưng trong những thời điểm ấy, Thiên Chúa luôn bên cạnh chúng ta, cho dù chúng ta không nhìn thấy Người.

Lúc sắp sửa ra đi, để trấn an các tông đồ, Chúa Giêsu đã hứa rằng, dù vắng mặt, nhưng Người vẫn luôn hiện diện giữa các ông và ban bình an cho các Ông. Sự hiện diện của kẻ vắng mặt! Đó là cảm nghiệm mà chỉ có những kẻ yêu nhau mới nhận ra mà thôi. Từ sau biến cố Phục Sinh, Chúa Giêsu đã trở nên con người của mọi thời đại.

Người hiện diện trong những kẻ yêu mến Người: "Ai yêu mến thầy, Cha của Thầy và Thầy sẽ đến ở lại với người ấy" (Ga 14,23).

Người hiện diện trong những kẻ thực hành và giữ lời Người: "Ai yêu mến Thầy, thì sẽ giữ lời Thầy... Và lời anh em nghe đây không phải là của Thầy, nhưng là của Chúa Cha, Đấng đã sai Thầy" (Ga 23,24).

Người hiện diện không chỉ đơn độc, nhưng là hiện diện cùng với Chúa Cha và Chúa Thánh Thần. Cả Ba Ngôi cùng đến thăm và ở lại trong những ai yêu mến Chúa Giêsu và tuân giữ lời Người.

Nếu Chúa Cha chính là Thiên Chúa trong tình trạng vô hình, thì Chúa Giêsu cũng là Thiên Chúa đã hiện diện, nói năng, hành động để cứu chuộc con người; và Thánh Thần cũng là Thiên Chúa, Đấng kéo dài cách thiêng liêng sự hiện diện, lời nói và hành động của Chúa Giêsu và Chúa Cha.

Vì thế, Thánh Thần sẽ thông truyền trọn vẹn sự sống của Thiên Chúa cho con người, khi soi sáng dạy dỗ con người dần dần hiểu Lời Thiên Chúa, Lời đó chính là Chúa Giêsu, Ngôi Lời của Chúa Cha: "Thánh Thần sẽ dạy cho anh em mọi điều và sẽ làm cho anh em nhớ lại mọi điều Thầy đã nói với anh em" (Ga 14,26).

Với lời hứa này, kể từ ngày lễ Hiện Xuống đầu tiên, Thánh Thần đã soi sáng và hướng dẫn Giáo hội hiểu thấu triệt Lời Chúa trong Kinh Thánh, để trình bày một cách sáng tỏ hơn, và để giải quyết những vấn đề mới mẻ cho từng thời đại. Vì thế mà các Công đồng liên tiếp được triệu tập dưới sự bảo trợ của Thánh Thần.

***

Lạy Chúa Ba Ngôi, xin cho chúng con nhận ra sự hiện diện của Người trong lòng chúng con, trong lòng Giáo hội, và trong lòng thế giới:

Để chúng con luôn yêu mến và tuân giữ Lời Người.

Để chúng con được soi sáng và hướng dẫn bởi Thánh Thần.

Và để chúng con được canh tân và tái tạo mỗi ngày trong Thiên Chúa Tình Yêu. Amen. (Thiên Phúc)

3. "Nếu ai yêu mến Thầy thì hãy giữ lời Thầy"

Sau khi tha thiết nói với các môn đệ những lời thân tình nhất xuất phát từ đáy lòng trong một bài nói chuyện dài mà thánh Gioan đã chép lại suốt trong hai chương 13 và 14, Chúa Giêsu đúc kết lại trong một lời khuyên ân cần: "Nếu ai yêu mến Thầy thì hãy giữ lời Thầy". Giữ lời Chúa là giữ lời nào? Thưa là giữ chính cái điều mà Chúa Giêsu đã nhấn mạnh lặp đi lặp lại nhiều lần trong suốt hai chương 13 và 14 này "Chúng con hãy yêu thương nhau.

Thế nhưng, yêu thương thì có gì là khó đâu mà Chúa phải dạy, phải nhắc và phải nhấn mạnh như là một giới răn mới của Chúa, một lời trối trăn cuối cùng trước khi Ngài ra đi chịu chết? Bởi vì tự trong bản tính, con người có sẵn nhu cầu tình cảm muốn yêu thương: mới sinh ra tự nhiên đức bé thèm khát tình thương của cha mẹ, lớn lên người thanh niên nam nữ tự nhiên muốn yêu thương một người nào đó, và suốt đời ai cũng muốn sống trong tình yêu thương cho đến chết. Yêu thương là việc tự nhiên, là quá dễ dàng, cần gì Chúa Giêsu phải dạy dỗ?

Chúng ta đừng coi thường Lời Chúa, mà phải phân biệt rõ những mức độ yêu thương, và tìm hiểu xem Chúa muốn ta yêu thương như thế nào.

- Yêu thương có khi là một điều quá dễ: Người ta sung sướng khi yêu thương, người ta ham thích yêu thương, người ta thèm khát yêu thương và người ta làm đủ cách để được yêu thương. Thí dụ như một đức bé mồ côi thèm khát tình yêu thương của cha mẹ; hay một người tuổi trẻ thèm khát tình yêu thương của một người tình. Sở dĩ yêu thương mà thích, mà sung sướng là vì yêu thương ở mức độ này có nghĩa là đón nhận: nhận được những sự chăm sóc, chiều chuộng, vuốt ve, âu yếm.

- Yêu thương có khi là một điều hơi khó, người ta phải hơi cố gắng mới yêu thương được. thí dụ tôi thương một người bạn. Người bạn đó mượn tôi một số tiền hay nhờ tôi làm giúp một công việc khó khăn. Tôi hơi tiếc, hơi ngại nhưng vì yêu thương bạn mà tôi cố gắng đưa tiền, cố gắng chịu cực để giúp bạn. Yêu thương ở mức độ này có nghĩa là chi đi, cho đi một phần của những gì mà tôi quý chuộng.

- Và sau cùng, yêu thương có khi là một điều hết sức khó, vì yêu thương mà người ta phải đau khổ, phải hy sinh thật nhiều. Thí dụ nàng Kiều vì thương cha già sắp lâm vòng tù tội mà phải bán mình để chuộc cha. Yêu thương ở mức độ này có nghĩa là phải cho đi hoàn toàn, cho đi tất cả.

Tóm lại có ba mức độ yêu thương:

Yêu thương rất dễ khi được đón nhận.

Yêu thương hơi khó khi phải cho đi một phần những gì mình quý giá.

Và yêu thương hết sức khó khi phải cho đi hoàn toàn, hy sinh tất cả.

Khi trối "chúng con hãy yêu thương nhau", Chúa Giêsu muốn chúng ta yêu thương ở mức độ thứ ba này.

Chúa nói "nếu ai yêu mến Thầy thì hãy giữ lời Thầy". Mà Lời của Thầy là "chúng con hãy yêu thương nhau", yêu thương ở múc độ cao nhất là dám cho đi tất cả, hy sinh hoàn toàn. Chúng ta có vâng giữ Lời Chúa để tỏ ra chúng ta yêu mến Chúa hay không?

Trước hết trong gia đình, giữa vợ chồng với nhau. Ôn lại cuộc sống gia đình, hẵn nhiều vợ chồng người thấy rằng đã có một thời vợ chồng đã yêu thương nhau say đắm, hầu như lúc nào cũng quấn quít bên nhau. Đó là thời kỳ đầu tiên, yêu thương là quá dễ vì khi đó yêu thương là đón nhận, nhận những nét duyên dáng, nhận những cảm xúc bồng bột mà tuổi trẻ đang thèm khát. Sau đó tới một thời vợ chồng không còn quá say đắm nhau nữa mà phải đối diện với thực tế của cuộc sống gia đình: phải làm lụng cực nhọc, phải chịu đựng những tính ý khác biệt của nhau... Khi đó thì đã thấy hơi cực, hơi khó rồi. Nhưng vì thương vợ thương chồng mà họ cố gắng chịu cực, chịu khó. Tình yêu như thế là đã lên đến mức độ hai: yêu thương là cho đi. Thế nhưng có một số vợ chồng càng về già càng chán ngán nhau: vợ thì bệnh hoạn quanh năm suốt tháng, chồng thì lẩm cẩm khó tính hay chửi bới cộc cằn. Sống chung với một người như thế chẳng còn thấy một chút thú vị mà chỉ toàn bổn phận, cực nhọc, khổ sầu. Cuộc sống lúc này đang mời gọi những vợ chồng ấy đưa tình yêu thương của mình lên mức độ thứ ba, mức độ cao nhất, là mức độ cho đi hoàn toàn, hy sinh tất cả. Hãy cố gắng hy sinh cho nhau thì mới là yêu thương thật, mới là làm theo lời Chúa dạy "chúng con hãy yêu thương nhau".

Bây giờ chúng ta hãy nhìn đến liên hệ của mình với những người khác. Thì cũng thế: có những người mình yêu thương thật dễ, đó là những người có lợi cho mình, hay giúp đỡ mình, hay an ủi mình. yêu thương những người này dễ vì yêu thương là đón nhận. Có những người khác yêu thương họ mình thấy có khi dễ có khi khó vì họ có khi làm mình vui có khi khiến mình buồn, nhưng mình vẫn cố gắng thương họ được, vì yêu thương họ mình vừa được đón nhận mà vừa phải cho đi. Nhưng có những người chẳng mang lại cho mình lợi lộc gì cả mà chỉ toàn làm cho mình cực lòng, mất mát, khổ đau, thí dụ như những người nghèo, những người bệnh, những người tội lỗi, những kẻ thù... Nhưng xin được lưu ý rằng chính đây là những người Chúa muốn ta yêu thương, Chúa muốn ta hy sinh, Chúa muốn ta cho đi hoàn toàn. Chúa đã nói " nếu chúng con chỉ yêu thương những kẻ mến chuộng mình thì nào có công gì? Những người thu thuế há không làm như thế sao?

Yêu thương mới xem ra thì quá dễ. Hay nói đúng hơn yêu thương theo khuynh hướng tự nhiên thì quá dễ, vì theo tự nhiên người ta chỉ yêu thương khi được đón nhận, chỉ yêu thương những ai có lợi cho mình.

Nhưng yêu thương cho đúng nghĩa, yêu thương đúng như ý Chúa muốn thì lại hết sức khó, vì đòi hỏi ta phải cho đi, phải hy sinh, đòi ta phải yêu thương cả những người không có lợi cho ta mà còn làm khổ ta.

Nhưng đó là mức độ yêu thương cao nhất, có yêu thương được như vậy thì mới là làm theo Lời Chúa. có làm theo Lời Chúa thì mới là yêu mến Chúa thật.

Xin Chúa giúp chúng ta biết cho đi, biết hy sinh để thực sự yêu thương như Chúa muốn trong tương quan giữa vợ chồng con cái trong gia đình, cũng như trong tương quan giữa chúng ta với mọi người khác.

4. Để cho đi

Trong bữa Tiệc ly, Chúa Giêsu nói cho các môn đệ hai Ngài sắp ra đi. Chẳng lạ gì khi các ông buồn. Họ không muốn Ngài ra đi. Họ muốn giữ Ngài lại mãi bên họ. Thật không dễ chịu chút nào khi một người thân yêu ra đi. Cũng không dễ chịu gì khi để mất đi một món đồ hay một con vật mà mình yêu thích.

Một cậu bé nhìn thấy một chú chim non rơi từ chiếc tổ trên cành xuống nằm trên mặt đất. Cậu lượm nó lên, sưởi ấm nó. Một lát sau chú chim tỉnh dậy. Nhưng thay vì đặt chú chim trở về tổ, cậu đem nó để trong một chiếc lồng. Hằng ngày cậu mang cho nó rất nhiều thức ăn và nước. Chú chim ngày càng khoẻ mạnh. Nó bắt đầu bay và hót. Cậu bé rất thích. Nhưng một hôm chú chim cứ đập cánh xành xạch vào thành chiếc lồng. Cậu bé không hiểu nên hỏi cha mình. Người cha giải thích:

- Tại vì nó không hạnh phúc đó.

Cậu bé cãi lại:

- Con đã đặt vào lồng cho nó tất cả những gì nó cần rồi kia mà.

- Nhưng vẫn còn thiếu cái điều mà chim yêu quý nhất.

- Điều gì?

- Đó là tự do.

- Bộ cha muốn con thả cho nó đi sao?

- Đúng thế.

- Nhưng con không thể cho nó đi. Nó đâu có biết là bên ngoài chiếc lồng này có rất nhiều hiểm nguy đang rình rập nó.

- Nhưng con phải chấp nhận như thế.

Cậu bé nài nỉ:

- Cha ơi, con thương nó lắm.

- Nếu con thương nó thì con phải để cho nó đi.

Cậu bé đành mở cửa lồng cho chú chim bay đi. Lòng cậu rất buồn. Nhưng chú chim vừa ra khỏi lồng đã cất tiếng hót líu lo, tỏ vẻ như trước đây chưa bao giờ vui vẻ và hạnh phúc như thế. Khi đó cậu bé không buồn nữa mà cảm thấy vui lây.

Các tông đồ không muốn Chúa Giêsu ra đi. Nhưng như thế là các ông không biết nghĩ cho Chúa mà chỉ nghĩ cho mình. Chúa Giêsu biết thế nên mới nói: "Nếu các con yêu mến Thầy thì các con hẳn vui mừng vì Thầy về cùng Cha Thầy". Về cùng Cha, đó là mục tiêu cả đời của Chúa Giêsu.

Tình yêu chiếm hữu thì rất thông thường. Nhiều cha mẹ cũng thương con kiểu đó. Họ đã ban sự sống cho chúng, nhưng họ không để cho chúng phát triển sự sống của chúng theo cách của chúng. Nhiều cặp vợ chồng cũng vậy. Họ cứ muốn người vợ hay người chồng của mình sống theo cách sống của mình.

Tình yêu chiếm hữu gây ra rất nhiều đau khổ. Còn tình yêu không chiếm hữu thì phát sinh nhiều điều kỳ diệu cho cả hai phía, chẳng hạn: đổi mới, lớn lên, phát triển v.v.

Phải biết để cho những người hoặc những gì mình yêu thích ra đi. Làm như thế quả là mất mát đấy. Nhưng mất cái hiện tại để được cái tương lai, mất điều mình yêu quý mà sẽ được điều đáng quý hơn. Bởi vậy, trước khi ra đi, Chúa Giêsu đã nói: "Thầy ra đi thì có lợi cho các con. Thật vậy nếu Thầy không ra đi thì Đấng Phù Trợ sẽ không đến với các con; nhưng nếu Thầy ra đi, Thầy sẽ sai Đấng ấy đến với các con" (Ga 16,17) (FM)

5. Bình an nội tâm

Có người cứ nuôi mãi thù hận nên trong lòng không có bình an. Ngược lại, người có bình an trong lòng thì cuộc sống vui vẻ hạnh phúc.

James và John là hai người láng giềng của nhau. Ruộng của họ nằm sát bên nhau. Năm đó thời tiết khô hạn nên việc cày bừa rất vất vả. James rất khó chịu. Anh cứ lấy roi quất lia quất lịa lên con ngựa đang kéo cày. Nhưng càng bị quất thì con ngựa càng tỏ ra bướng bỉnh. James biết rằng lúa mì trong mảnh ruộng người hàng xóm cao hơn lúa của anh. Mỗi khi nhìn sang mảnh ruộng ấy, anh có cảm tưởng là anh chàng hàng xóm đang nhạo cười mình.

John thì trái lại. Dù cũng vất vả nhọc nhằn, nhưng anh luôn bình thản và cứ kiên trì trong công việc. Thỉnh thoảng anh ngừng lại cho con ngựa được nghỉ ngơi. Anh nhìn sang ruộng của James và thấy rất tệ. Anh muốn sang giúp lắm nhưng biết rằng anh kia sẽ không bao giờ chịu. Thôi thì đành để James làm một mình vậy.

Điều khác biệt giữa hai người láng giềng này không phải ở tình hình bên ngoài mà ở tình trạng nội tâm. Chúng ta nhìn thế giới và tha nhân không phải như cái họ là, mà như cái ta là. Vì tâm hồn của John vui vẻ nên anh nhìn đời một cách lạc quan. James thì trái lại, bởi nội tâm bất an nên nhìn cái gì bên ngoài cũng khó chịu. (FM)

6. Chuyện minh họa

Ngày 8.10.1952, một vụ án xảy ra tại Bavière, một thiếu nữ 18 tuổi tên là Emma bị thảm sát cách tất tưởi. Chuyến xe lửa vừa tới nhà ga, các chị em đồng hành ngạc nhiên vì không thấy Emma đâu, nên báo cho "Ông Xếp" nhà ga hay tin. Thế là lập tức các nhân viên hỏa xa chia nhau đi tìm kiếm doc theo đường xe lửa suốt hai tiếng đồng hồ mới phác giác ra xác Emma đang nằm xõng xượt trong vũng máu, chân tay bị chặt cụt.. Xếp ga mở cuộc điều tra. Tất cả mọi người hành khách bị thẩm vấn đều trả lời là không biết gì cả. Trong số đó có một chàng thanh niên 24 tuổi. Khi được hỏi thì anh trả lời ấp úng là không biết gì cả. Nhưng vì có vẻ ngây ngô thành thật nên người ta cũng bỏ qua.

Hai tuần sau, chàng trai này đến gõ cửa Tu viện các Cha dòng Bênêđitô xin nhập Dòng. Anh được nhận. Sau hai năm thử luyện thấy không có gì ngăn trở, Bề Trên nhận anh vào Tập viện. Khoảng tháng 10, trước ngày vào Tập viện, anh đến chỗ đường sắt nơi đã tìm thấy xác Emma nằm trong vũng máu. Anh quỳ chắp tay cầu nguyện. Ngày hôm sau, lúc sáng sớm tinh sương, anh tới mồ Emma, người mà chính anh đã giết chết. Anh đã la lên trong tiếng khóc nức nở: "Tôi không chịu được nữa". Rồi anh đi tự nộp mình cho cảnh sát và thú tất cả tội lỗi của anh. Cái tội mà người ta đã quên đi vì không điều tra manh mối gì. Anh thú nhận là anh đã xô Emma xuống và đâm chết vì nghe cô ta nói là cô ta không biết đến anh nữa. Vì thế nên anh đã nổi cơn điên nên đã hành động độc ác như thế.

Câu truyện trên cho chúng ta thấy, dù bốn bức tường kín nơi Tu Viện cũng không trấn an được tiếng lương tâm ray rứt, không làm cho người thanh niên phạm tội ác được bình an tâm hồn, cho dầu không một ai hay biết tội lỗi của anh ta.

Vậy muốn được bình an hạnh phúc thật, con người cần phải có tâm hồn trong sạch, sống trong ơn nghĩa Chúa. Tâm hồn biết hối cải, biết sống nhân từ, biết yêu thương và tha thứ, như chính Chúa đã làm gương và dạy chúng ta noi theo bắt chước. (Lm Minh Vận, CMC. Trích Vietcatholic ngày 2.5.2003)

V. Lời nguyện cho mọi người

Chủ tế: Anh chị em thân mến, Thánh thần là Đấng soi sáng, hướng dẫn và nâng đỡ đời sống đức tin của người Kitô hữu. Vì thế, chúng ta cùng khẩn cầu Thiên Chúa ban Thánh thần cho chúng ta:

1. Con thuyền Hội thánh không bao giờ chìm dù gặp phong ba bão táp liên miên / là nhờ sự trợ giúp của Chúa Thánh thần / Chúng ta hiệp lời cầu xin Chúa Thánh thần luôn gìn giữ các vị mục tử / để các ngài lèo lái con thuyền Hội thánh đến bình an.

2. Phúc thay ai xây dựng hòa bình / vì họ sẽ được gọi là con Thiên Chúa / Chúng ta hiệp lời cầu xin cho các Kitô hữu / biết chân thành cộng tác với mọi người thành tâm thiện chí / để mưu tìm hòa bình cho thế giới hôm nay.

3. Chúa Giêsu nói: / Thầy để lại bình an cho anh em / Thầy ban cho anh em phúc bình an của chính Thầy / Chúng ta hiệp lời cầu xin cho những ai đang gặp khủng hoảng trong cuộc sống / tìm được sự bình an thanh thản nơi tâm hồn / nhờ tín thác vào Chúa.

4. Chúa Giêsu nói: / Ai yêu mến Thầy / thì sẽ giữ lời Thầy / Chúng ta hiệp lời cầu xin cho cộng đoàn giáo xứ chúng ta / luôn hết lòng tuân giữ mọi Lề Luật của Chúa / để tỏ lòng yêu mến Người.

Chủ tế: Lạy Chúa, xin ban Thánh thần là nguồn mạch tình yêu xuống cho chúng con, để Người giúp chúng con luôn sống bác ái yêu thương như Chúa đã dạy. Chúng con cầu xin

VI. Trong Thánh Lễ

- Sau kinh Lạy Cha: Đọc chậm rãi và tâm tình lời nguyện "Lạy Chúa Giêsu, Chúa đã nói với các tông đồ rằng Thầy để lại bình an cho các con. Thầy ban bình an cho các con..."

VII. Giải tán

Chúa Giêsu đã nói: "Thầy để lại bình an cho các con. Thầy ban bình an cho các con "Chúc anh chị em ra về bình an.

7.Đức Giêsu vẫn hiện diện-- Lm Giuse Đinh Lập Liễm
A. DẪN NHẬP

Bài Tin mừng hôm nay là một đoạn trích trong bài diễn từ giã biệt của Đức Giêsu (Ga 13,31; 14,31). Việc Đức Giêsu ra đi đã làm cho các môn đệ buồn sầu lo lắng, không biết tương lai sẽ ra sao. Thấy vậy, Đức Giêsu đã trấn an các ông, Người khuyên các ông “đừng xao xuyến và buồn sầu” (Ga 14,27), vì Người ra đi rồi sẽ trở lại với các ông bằng một cách thế khác.

Đức Giêsu khuyên các ông hãy giữ mối tinh thắm thiết với Người, đừng “cách mặt xa lòng”, và cách thế để tỏ lòng yêu mến đối với Người là hãy thực hiện những điều Người truyền dạy: “Nếu các con yêu mến Thầy, thì hãy tuân giữ các giới răn của Thầy”(Ga 14,5). Và tuân giữ lời Người là thước đo cụ thể và chính xác nhất lòng yêu mến của các ông đối với Người.

Đức Giêsu còn cho các ông biết việc Người ra đi thì có lợi cho các ông hơn vì Người có ra đi thì Thánh Thần mới được sai đến để dạy dỗ và nhắc nhở các ông, giúp các ông hiểu thấu đáo hơn những lời nói và việc làm của Người khi còn tại thế: “Thầy ra đi thì có lợi cho các con. Thật vậy, nếu Thầy không ra đi, Đấng Bảo Trợ sẽ không đến với các con; nhưng nếu Thầy đi, Thầy sẽ sai Đấng ấy đến với các con”(Ga 16,7).

Sau cùng, Đức Giêsu còn hứa ban cho các môn đệ sự bình an riêng của Người. Đây là sự bình an đặc biệt, bình an nội tâm, một sự bình an tuyệt hảo mà chỉ Thiên Chúa mới có thể ban tặng cho chúng ta: “Thầy để lại bình an cho các con. Thầy ban cho các con bình an của Thầy, Thầy ban cho các con không như thế gian ban tặng”(Ga 14,27).

B. TÌM HIỂU LỜI CHÚA

+ Bài đọc 1: Cv 15,1-2.22-29

Ngay từ ban đầu, Hội thánh cũng gặp một ít trục trặc, nhưng đã được Chúa Thánh Thần hướng dẫn. Số là đang khi Phaolô và Barnabê truyền giáo cho dân ngoại thì có những người Do thái từ Giêrusalem đến buộc dân ngoại tân tòng phải cắt bì và phải tuân giữ luật của Maisen. Hai vị truyền giáo không đồng ý nên trình vấn đề này lên Hội thánh.

Các Tông đồ đã họp hội nghị tại Giêrusalem và ra quyết nghị: những người ngoại tân tòng chỉ phải giữ những cái tối thiểu. Hội nghị đã cử Phaolô, Barnabê và mấy vị khác đến Antiochia với sứ mạng báo tin cho họ: chỉ cần giữ những điều cần thiết, đó là kiêng ăn đồ đã cúng cho ngẫu tượng, kiêng ăn tiết, ăn thịt loài vật không cắt tiết và tránh gian dâm.

+ Bài đọc 2: Kh 21,10-23.

Trong một thị kiến khác, thánh Gioan được trông thấy “kinh thành muôn thưởûû” lý tưởng trong tương lai. Đó là hình ảnh uy nghi của Giêrusalem mới được trình bầy cho chúng ta:

- Thành từ trên trời ngự xuống.

- Rất xinh đẹp và tươi sáng.

- Thành không có đền thờ vì chính Thiên Chúa là đền thờ của thành; thành cũng không có mặt trời mặt trăng vì chính Thiên Chúa là ánh sáng của thành.

- Đó là Hội thánh tương lai trên trời khi vương quốc của Thiên Chúa sẽ đến trong vinh quang trọn vẹn.

+ Bài Tin mừng: Ga 14, 23-29

Bài Tin mừng lấy từ bài diễn từ của Đức Giêsu trong bữa Tiệc Ly, và ý chính là sự ra đi sắp xẩy ra của Người. Người bảo đảm cho các môn đệ rằng Người sẽ không để cho họ mô côi. Dù Người ra đi, Người và họ sẽ không rời nhau. Nếu họ giữ lời Người, họ sẽ được đưa vào trong tình yêu của Chúa Cha và Chúa Con. Chính Thánh Thần sẽ nhắc họ lời Người.

Trong dịp này, Người trấn an các môn đệ trong cuộc ra đi của Người. Vì thế, Người hứa ban cho các ông sự bình an, một thứ bình an đặc biệt mà thế gian không thể ban cho.

C. THỰC HÀNH LỜI CHÚA

Những lời hưa của Đức Giêsu

I. SỰ HIỆN DIỆN MỚI CỦA ĐỨC GIÊSU

1. Sự ra đi của Đức Giêsu.

Trong suốt thời gian rao giảng Tin mừng của Đức Giêsu, các môn đệ đã được Người rao giảng về Nước Trời, được nghe những lời Người giảng, chứng kiến những việc Người làm, nhưng các ông chưa hiểu được ý Chúa. Các ông cứ tưởng Chúa mời gọi mình để được hưởng đặc quyền đặc lợi, được ăn trên ngồi trốc, được quyền lãnh đạo và được mọi người tôn trọng trong Nước Người sắp thành lập.

Nhưng không, trong bữa Tiệc Ly, Đức Giêsu nói về sự ra đi của Người: Người sẽ bị bắt, bị đánh dòn, bị giết chết, nhưng sau ba ngày sẽ sống lại. Thật là một tin sét đánh làm cho các ông chao đảo. Các ông chìm vào sự đau buồn trước viễn cảnh mất Người. Họ không muốn Người đi, họ muốn giữ Người lại vì “Ra đi là chết trong lòng một ít”.

Các ông cảm thấy lo sợ vì như sống trong cảnh rắn mất đầu, các ông sẽ phải cô đơn, phải gặp nhiều trắc trở và gian nan thửû thách. Tương lai còn mù mịt, không biết số phận mình sẽ rao sao. Đức Giêsu hiểu rõ tâm trạng của các ông.

2. Những lời khích lệ của Đức Giêsu

Đức Giêsu nói với họ rằng Người không để cho họ mồ côi đâu. Người ra đi rồi sẽ trở lại với họ, để bắt đầu giữa họ và trong họ một cách hiện diện khác, mầu nhiệm, chỉ dành cho những ai trung tín với lời Người. Người không có ý đề cập đến sự trở lại với hình dạng thể lý, cũng không phải sự trở lại huy hoàng trong ngày thế mạt, nhưng, ngay từ bây giờ, là sự hiệp thông nghĩa thiết với Thiên Chúa trong mầu nhiệm Ba Ngôi: “Ai yêu mến Thầy, thì sẽ giữ lời Thầy, Cha Thầy sẽ yêu mến người ấy, chúng ta sẽ đến và ở lại với người ấy”(Ga 14,23).

Đức Giêsu còn cho biết việc ra đi của Người sẽ có lợi cho các ông hơn, vì như Người nói: “Các con sẽ buồn vì nghe nói Thầy phải rời xa các con. Lòng các con sẽ buồn sầu và sợ hãi, nhưng này Thầy bảo cho chúng con biết Thầy ra đi sẽ tốt cho các con hơn, vì khi ấy, Cha Thầy sẽ sai Thánh Thần đến giúp các con tăng trưởng theo một cách thức mới”.

Hay nói cách khác, Đức Giêsu nói cho các môn đệ biết đã đến giờ Người phải rời xa các ông ít lâu, đã đến giờ họ phải bắt đầu một giai đoạn mới trong việc phát triển tâm linh, đã đến giờ họ cần được phát triển theo một phương cách mới.

Đức Giêsu nhấn mạnh cho các ông tư tưởng này là hãy bình tĩnh: “Các con đừng xao xuyến và sợ hãi”(Ga 14, 27). Người không bỏ rơi các ông nhưng luôn hiện diện với các ông bằng một cách thức khác mà các ông không ngờ.

Truyện: Thầy đã vác con trên vai

Chúa Giêsu và một thanh niên cùng đồng hành trên một bãi cát dài trên biển. Bốn vết bàn chân hằn lên rõ trên mặt cát. Nhưng khi chàng thanh niên chẳng may gặp phải khó khăn thử thách, anh ta liền nhìn xuống mặt cát thì chỉ thấy còn lại hai dấu bàn chân. Anh kinh ngạc thất vọng kêu lên: “

- Thưa Thầy, lúc nãy Thầy trốn đi đâu để con bước đi một mình?

Chúa Giêsu nhỏ nhẹ bảo anh ta:

- Con thử nhìn kỹ xem, coi đó là những vết chân của ai?

Nghe lời Chúa, anh thanh niên nhìn kỹ lại thì mới tỉnh ngộ ra, đó là những dấu chân của Chúa. Anh ta vội thắc mắc la lên:

- Vậy thưa thầy, lúc đó con ở đâu?

Chúa âu yếm trả lời:

- Con ạ, những lúc con gặp khó khăn gian nan, chính khi đó Thầy biết con không đủ sức chịu đựng nên Thầy đã vác con trên vai Thầy để cứu giúp con khỏi hoạn nạn đấy.

Dĩ nhiên đây là câu chuyện tưởng tượng, nhưng lại là một câu chuyện đầy ý nghĩa vì nó nói lên được một sự thật mà có lẽ ngày xưa các Tông đồ cũng như ngày nay chúng ta đều không nhận ra hoặc chưa tìm hiểu cặn kẽ: đó là Chúa luôn luôn hiện diện bên ta để bênh vực giúp đỡ ta.

Một chân lý thật đơn giản và rõ ràng. Vì suốt trong thời gian truyền đạo, riêng tư cũng như công khai, Chúa Giêsu luôn nhắc đi nhắc lại câu nói: “Thầy ở với các con mọi ngày cho đến tận thế”. Thế thì tại sao trong cuộc sống hằng ngày, nhất là những lúc gặp gian nan khốn khó chúng ta hầu như quên sự hiện diện của Chúa, thậm chí đôi lúc có những người đối xử, ăn nói kiểu như không có Chúa nữa.

3. Những lời căn dặn của Đức Giêsu.

Người ta thường nói: “Cách mặt xa lòng” (Tục ngữ) nghĩa là xa nhau thì dễ quên nhau. Đây là một kinh nghiệm rất phổ biến vì nó thường xẩy ra hằng ngày một cách rất tự nhiên. Đức Giêsu muốn đề phòng cho các môn đệ khỏi lâm vào cảnh đau lòng “cách mặt xa lòng”, nên trước khi về trời, về cùng Chúa Cha, Người đã đảm bảo với môn đệ rằng về phía Thiên Chúa không có chuyện xa mặt cách lòng, và về phía con người cần phải giữ lời Thầy để “cách mặt, nhưng gần lòng”.

a) Về phía Thiên Chúa.

Đức Giêsu đảm bảo với các môn đệ rằng về phía Thiên Chúa không có cách mặt xa lòng đâu. Chúng ta có thể trưng ra những câu Đức Giêsu nói với các ông trong bữa Tiệc Ly:

- “Cha Thầy và Thầy sẽ đến và ở với các con (Ga 14,23)

- “Cha Thầy phái đến nhân danh Thầy, Đấng Bào chữa là Thánh Thần sẽ dạy các con mọi điều và sẽ làm cho các con nhớ lại mọi điều Thầy đã nói với các con”(Ga 14,26).

-Thầy ở cùng các con mọi ngày cho đến tận thế, chứ không để các con mồ côi đâu.

Như vậy, cả Ba Ngôi Thiên Chúa đều đến ở trong các con, các con được yêu mến, dạy dỗ, được bào chữa nâng đỡ và được ban phúc bình an, không còn phải xao xuyến, sợ hãi, mà còn được vui mừng về cùng Chúa Cha cao trọng hơn Thầy. Vậy, về phía Đức Giêsu, Người càng xa mặt về phần xác bao nhiêu, thì về phía thiêng liêng càng gắn bó kết hợp với các con ở khắp mọi nơi mọi lúc.

b) Về phía loài người.

Để đề phòng khi xa mặt Chúa, mà lòng mình không xa Chúa, thì Đức Giêsu đã bảo: “Ai yêu mến Thầy thì sẽ giữ lời Thầy”(Ga 14,23). Giữ lời Thầây là một trắc nghiệm rõ nhất, chính xác nhất về lòng mến Chúa.

Đức Giêsu đã nói: “Ai yêu mến Thầy thì sẽ giữ lời Thầy… Ai không yêu mếân Thầy, thì không giữ lời Thầy”. Câu nói này đủ xác định thế nào là yêu mến Chúa, nghĩa là dấu hiệu, bằng chứng để chúng ta biết được hay người khác biết được chúng ta yêu mến Chúa là chúng ta tuân giữ lời Chúa. Vì đây cũng là thước đo lòng yêu mến của chúng ta đối với Chúa nhiều hay ít, đó là chúng ta giữ lời Chúa nhiều hay ít.

Chúa bảo chúng ta hãy tuân giữ lời Chúa, nhưng lời Chúa ở đâu? Nếu trả lời một cách ngắn gọn, chúng ta có thể nói: lời Chúa chứa đựng trong Sách Thánh, tức là trong Kinh Thánh. Nhưng nếu hiểu rộng ra, chúng ta có thể nói: lời Chúa còn chứa đựng trong Thánh truyền, tức là một phần mạc khải được lưu lại dưới hình thức truyền khẩu và trong giáo huấn của các giáo phụ. Lời Chúa còn chứa đựng trong Phụng vụ, tức là những gì Giáo hội sống và thể hiện trong sinh hoạt phụng tự. Và lời Chúa còn chứa đựng trong đời sống của Giáo hội, tức là giáo huấn của các công đồng, các Đức Giáo hoàng, các Giám mục.

Tóm lại, Kinh thánh, Thánh truyền, phụng vụ và giáo huấn của Giáo hội, đó là những kho tàng chứa đựng lời Chúa. Nhưng thông thường và cụ thể, mỗi khi nói đến lời Chúa, chúng ta thường hiểu là Thánh Kinh, nhất là sách Tin mừng.

Ngoài ra, Đức Giêsu muốn cho các môn đệ và chúng ta khi xa mặt Chúa, phải có đức tin vững vàng trong cơn gian nan thử thách. Thiên Chúa xếp đặt cho chúng ta phải trải qua một thời kỳ gian khổ, để ta trưởng thành về tâm linh. Nhưng trong suốt thời gian chịu đựng thử thách đó, Thiên Chúa không bỏ rơi ta. Người luôn ở trong ta để động viên và giúp đỡ ta vượt qua gian khổ, để đức tin của ta ngày càng mạnh mẽ và trưởng thành.

Truyện: Con kén và con bướm.

Ngày nọ, một chuyên gia sưu tầm các loài bướm vào một công viên, thấy một cái kén lạ treo lơ lửng trên cành cây, ông ta liền bứt lấy cành cây ấy và đem kén bướm về nhà nghiên cứu. Ít ngày sau, ông thấy có cái gì động đậy bên trong kén. Ông biết là sắp tới lúc con bướm nở. Hôm sau, cái kén lại nhúc nhích, nhưng cũng chẳng có gì khác xẩy ra. Ngày thứ ba vẫn thấy kén nhúc nhích mà con bướm bên trong cũng không ra được. Nghĩ rằng tại cái kén mà bướm không ra được, ông lấy con dao sắc ra rạch vỏ kén giúp nó ra ngoài. Có điều sau một ngày mà con bướm vẫn không bay ra được, và cuối cùng chết.

Về sau, ông được một người bạn thân là nhà côn trùng học cho biết lý do con bướm không bay ra được, là do thiên nhiên đã xếp đặt cho nó phải tự phấn đấu để thoát ra khỏi cái kén. Ngày nào nó phát triển đến độ tự mình đạp bể cái kén chui ra ngoài thì mới chứng tỏ nó phát triển đầy đủ và mới có khả năng sinh tồn được trong thiên nhiên. Muốn làm con bướm bay trên ngàn hoa rực rỡ, thì bướm phải trải qua thời kỳ làm con sâu lặng lẽ, rồi phải ẩn mình trong cái kén một thời gian, đợi ngày phát triển đầy đủ. Còn nếu ông rạch cái kén giúp nó ra ngoài trước thời hạn, là ông vô tình tiêu hủy khả năng phát triển và sinh tồn của nó.

Chúng ta chẳng khác gì con bướm nọ: Thiên Chúa đã hoạch định cho chúng ta phải đấu tranh gian khổ để nhờ đó chúng ta được tiến triển về mặt tâm linh. Chúa đã an bài mọi sự để vào một số thời điểm trong cuộc sống chiêm niệm của chúng ta, vào một số thời điểm trong cuộc sống tín trung của chúng ta, vào một số thời điểm trong cuộc sống thiêng liêng của chúng ta, chúng ta phải nỗ lực gian khổ. Vào những thời điểm ấy, Thiên Chúa ở rất gần chúng ta. Chúa biết rõ chúng ta cần phải chịu gian khổ một thời gian vì lợi ích riêng của chúng ta, vì nhờ những gian khổ này chúng ta mới được tăng triển về mặt thiêng liêng để trở thành những Kitô hữu vững mạnh (M. Link, Giảng lễ Chúa nhật năm C, tr 133).

II. ĐỨC GIÊSU BAN THÁNH THẦN CHO CÁC MÔN ĐỆ

Nay Đức Giêsu ra đi, sự lưu truyền của Thiên Chúa trong Giáo hội không phải là một sự tồn kho bất động, bởi vì chính Chúa Thánh Thần, Đấng mà Chúa Cha sai đến nhân danh Đức Giêsu, làm nên sự lưu truyền này bằng cách dạy dỗ và nhắc nhở cho Giáo hội tất cả những gì Đức Giêsu đã ban bố khi còn ở trần gian.

Đúng vậy, Lời của Đức Giêsu không phải là một “sự vật”, nhưng là một “con người nào đó”. Dù Đức Giêsu đã ra đi, nhưng vẫn có một “Đấng khác” đến để tiếp tục Lời của Chúa Cha, một thầy phụ đạo thần linh, một thầy nội tâm, được Chúa Cha sai đến nhân danh Đức Giêsu.

Một thời kỳ đã kết thúc, thời kỳ người ta thấy được bằng mắt, nghe được bằng tai. Với biến cố Phục sinh, một thời kỳ mới bắt đầu, một cách thể khác cho liên hệ giữa Người và các môn đệ. Thời kỳ Chúa Thánh Thần mà “Cha sai đến nhân danh Thầy”. Người sẽ dẫn các ông tới chỗ hiểu thấu đáo lời nói và cử chỉ của Đức Giêsu.

X. Léon Dufour giải thích rằng: “Tiếp theo thời kỳ mạc khải của Đức Giêsu Nazareth, là thời kỳ của Đấng Bầu Chữa. Người tỏ lộ cùng một mạc khải, nhưng đầy đủ, trọn vẹn. Sứ vụ của Đức Giêsu ở trần gian kết thúc, nhưng đối với các môn đệ, Chúa Thánh Thần còn rọi sáng những lời Đức Giêsu dạy rõ hơn khi các ông nghe lúc trước”(Lecture de l’Eùvangile selon Jean, Seuil, tr 120).

Nhiệm vụ của Chúa Thánh Thần là dạy dỗ và nhắc lại những điều Đức Giêsu đã dạy lúc tại thế. Khi nói nhắc lại thì không phải chỉ là ôn lại, nhưng theo cách nói của Thánh Kinh, là khám phá ra ý nghĩa lời nói và cử chỉ của Đức Giêsu dưới ánh sáng của biến cố Phục sinh.

Về vấn đề này, X. Léon-Dufour chú giải: “Khi nhắc các môn đệ nhớ lời của Đức Giêsu, Chúa Thánh Thần không chỉ lặp lại giọng điệu của Thầy cho những trí nhớ quá tệ, nhưng Người còn giải nghĩa dưới ánh sáng Phục sinh cho các ông nắm bắt được ý nghĩa mà, cho đến lúc này, còn rất tối tăm đối với các ông… Nhiệm vụ giải thích của Chúa Thánh Thần liên quan tới sứ điệp của Ngôi Con, nhằm làm cho cộng đoàn nơi mạc khải luôn được tiếp tục và hiện thực một cách sáng tạo trong đời sống các tín hữu. Như thế, lời Đức Giêsu luôn sống động qua thời gian”(Sđd, tr 132).

III. ĐỨC GIÊSU BAN BÌNH AN CHO CÁC ÔNG.

Đức Giêsu nói với các môn đệ: “Thầy để lại bình an cho các con, Thầy ban bình an của Thầy cho các con, Thầy ban cho các con không như thế gian ban tặng”(Ga 14, 27).

Theo phong tục Do thái, khi từ giã nhau, người ta thường chào nhau bằng “bình an” (shalom), nhưng ở đây sự bình an của Đức Giêsu để lại, không có ý nghĩa như lời chào từ biệt thông thường, vì thế gian chỉ có thể cầu chúc bình an chứ không thể tự mình ban bình an được, còn Đức Giêsu chính Người ban bình an riêng của Người.

Trong tiếng Hip-ri, bình an là Shalom, một chữ được dùng rộng rãi trong Thánh Kinh. Nội dung từ ấy rất phong phú đến nỗi từ “bình an hay hòa bình” chỉ chuyểân tải một phần ý nghĩa. Một cách tổng quát, nó có ý nghĩa một sự viên mãn phổ quát, một điều kiện trong đó không một vật gì được thiếu sót. Từ ấy diễn tả hạnh phúc hoàn hảo chỉ thuộc về Thiên Chúa. Khi người ta có bình an, người ta sống trong sự hiệp thông hoàn hảo với Thiên Chúa.

Vì vậy, Bình an, đối với người quen thuộc Thánh Kinh, không phải chỉ là vắng bóng bạo hành, tĩnh lặng tâm hồn, không có chiến tranh, mà chính là sức khỏe, sự thịnh vượng, hạnh phúc sung mãn, ơn cứu độ. Và chỉ một mình Thiên Chúa mới có thể ban bình an này.

Theo cha Cantalamessa, Đức Giêsu không nói tới một sự bình an bên ngoài, chủ yếu là không có chiến tranh, xung đột giữa các dân tộc và quốc gia khác nhau. Người nói đến bình an đó trong những dịp khác, chẳng hạn khi nói: “Phúc thay ai xây dựng hòa bình vì họ sẽ được gọi là con Thiên Chúa”.

Trong đoạn Tin mừng hôm nay, Người nói đến một sự bình an khác, bình an nội tâm của con tim, của con người với chính mình và với Thiên Chúa. Điều này thật rõ ràng nơi lời nói mà Đức Giêsu thêm vào liền theo đó trong đoạn văn này của thánh Gioan: “Các con đừng xao xuyến, cũng đừng sợ hãi”. Đây là sự bình an nền tảng nhất. Không có sự bình an này, thì không bình an nào khác có thể tồn tại. Từ Đức Giêsu sử dụng là “shalom”. Người Do thái chào chúc lẫn nhau với lời này và vẫn còn làm thế; chính Đức Giêsu đã chào các môn đệ với lời này vào buổi chiều Phục sinh và truyền cho các môn đệ chào hỏi dân chúng cùng cách thức như thế: “Vào nhà nào, trước tiên các con hãy nói: “Bình an cho nhà này”(Lc 10,5-6).

Đức Giêsu có thể ban bình an cho các Môn đệ bởi vì chính Người sở hữu sự bình an: “Thầy ban cho các con sự bình an của Thầy”. Bình an là sự hiệp thông với Thiên Chúa. Khi Đức Giêsu hiệp thông hoàn toàn với Thiên Chúa, Người có thể ban cho ta ơn bình an. Chúng ta có thể ban sự bìn an nào nếu không phải là sự bình an của chúng ta? Người Kitô hữu có ơn gọi đem lại bình an. Nhưng khổ nỗi, thay vì chúng ta đem lại bình an cho người khác, chúng ta bắt họ chịu đựng sự bất an và bất hạnh của chúng ta.

Sự bình an thực sự chỉ có khi chúng ta tuân giữ lệnh truyền của Đức Giêsu là: “Các con hãy yêu thương nhau”(Ga 13,34). Về vấn đề này, Đức Giáo hoang Gioan Phaolô II nói: “Con đường của bình an chung cục phải đi qua trong tình thương và hướng tới việc tạo nên một nền văn minh tình thương. Giáo hội chăm chú nhìn về Đấng là Tình yêu của Chúa Cha và Chúa Con và bất chấp mọi đe dọa không ngớt gia tăng, Giáo hội không ngừng hy vọng, Giáo hội không ngừng kêu cầu và phục vụ hòa bình của nhân loại trên trái đất” (Dominum et Vivificantem đoạn 67)

Không thể có bình an nếu không có sự tha thứ. Hãy tuân giữ luật yêu thương, và tha thứ cho nhau, ngay cả kẻ thù của mình (Mt 5,44), thay vì luật báo thù – luật rừng. Bạo lực sẽ dẫn đến bạo lực. Báo thù không dẫn đến hòa bình.. Chỉ có tình thương mới đem lại bình an thực sự mà thôi. Vì Thiên Chúa là Tình yêu cũng là nguồn bình an (Ga 4,8,16; Rm 16,20).

8.Ánh sáng soi đường--Lm. Giuse Phạm Thanh Liêm, SJ.
Chúng ta đang ở Chúa Nhật thứ sáu phục sinh, thứ năm tới là lễ Chúa Thăng Thiên nếu nơi đó không dời vào Chúa Nhật tới, và Chúa Nhật tới nữa là lễ Chúa Thánh Thần Hiện Xuống.

Ai yêu Ta thì giữ Lời Ta

Theo Tin Mừng, Đức Yêsu nói với các tông đồ rằng: “Ai yêu mến Ta thì giữ lời Ta, Cha Ta sẽ yêu mến người đó, và chúng ta sẽ đến và ở với người đó”.

Yêu mến ai, thì vâng lời người đó, làm theo điều người đó muốn. Không vâng lời ai, là không yêu người đó, ít nhất là không yêu đến độ bỏ ý riêng mà vâng lời. Thánh Y-nhã nói: “tình yêu hệ tại ở việc làm hơn tại lời nói”. Chúa Yêsu đã nói: “không phải những người nói ‘Lạy Chúa, lạy Chúa’ là được vào Nước Trời, nhưng là những kẻ làm theo ý Thiên Chúa” (Mt.7, 21).

Ai vâng nghe Lời Chúa, được Thiên Chúa ở cùng, và người đó trở thành dấu chỉ Thiên Chúa hiện diện cho người khác nữa.

Thánh Thần sẽ dạy các con mọi sự

Đấng Bầu Chữa, Thánh Thần được Thiên Chúa Cha gởi tới nhân danh Chúa Yêsu, sẽ dạy các tông đồ mọi sự, và sẽ nhắc nhớ các tông đồ những gì Đức Yêsu đã nói với các ngài.

Chính trong Thánh Thần và nhờ Thánh Thần, Đức Yêsu ban bình an của Ngài cho chúng ta. Bình an Chúa Yêsu ban cho chúng ta, không ai có thể cướp được, ngay cả những người quyền thế có thể giết người, cũng không thể cướp được bình an ấy. Bình an Chúa ban, là hậu quả của xác tín được Chúa thương yêu vô cùng. Người có ơn bình an Chúa ban, cảm nhận Chúa là tất cả đối với mình. Ngài là Đấng không gì có thể đánh đổi được, Ngài là “mối lợi tuyệt vời” mà người được ơn nhận ra.

Chúa Thánh Thần luôn ở với chúng ta. Ngài dạy chúng ta mọi sự, Ngài giúp chúng ta làm những gì làm đẹp lòng Thiên Chúa. Thánh Thần giúp chúng ta tự do với tất cả. Trong bài đọc thứ nhất, một số Kitô hữu gốc Do Thái đòi các Kitô hữu gốc dân ngoại phải cắt bì, vì họ cho rằng có như vậy, các tín hữu dân ngoại mới được cứu độ. Để bảo vệ và làm sáng tỏ Tin Mừng, Phao-lô vàBarnabas đã quyết làm sáng tỏ vấn đề: Kitô hữu được cứu độ không do cắt bì nhưng do tin vào Đức Yêsu. Và “quyết định dưới tác động Thánh Thần” của các tông đồ đồ, là các Kitô hữu không phải cắt bì. Thánh Thần giúp chúng ta sống trong bình an và tình yêu, chứ không sống trong sợ hãi hay nô lệ. Thánh Thần Thiên Chúa, làm chúng ta tự do đích thực.

Ánh sáng soi thành là Con Chiên

Để có thể nhìn thấy vật gì đó, vật đó cần ánh sáng chiếu rọi và hình ảnh được phản chiếu vào mắt, nhờ vậy người ta có thể nhìn được. Con Chiên là đèn soi thành, Đức Yêsu là ánh sáng, là tiêu chuẩn giúp người ta nhận định được đâu là điều hay để làm và điều xấu để tránh.

Thế gian có tiêu chuẩn riêng của nó, và những người theo thế gian sống theo tiêu chuẩn thế gian: tiền bạc, danh vọng, địa vị. Hậu quả của việc đi tìm tiền bạc, danh vọng, không là hạnh phúc đích thực. Tiền bạc, danh vọng, khoái lạc, có “xiềng xích” riêng của nó, nó có thể trói buộc con người và biến con người thành nô lệ.

Ước gì mỗi người nhận ra Đức Yêsu là “đường, sự thật và sự sống”, và để Chúa trở thành tiêu chuẩn và ánh sáng cho từng người, để chúng ta được tự do đích thực.

Câu hỏi gợi ý chia sẻ:

1. Theo Chúa, bạn được giải phóng khỏi nô lệ điều gì?

2. Bạn có kinh nghiệm Thiên Chúa gần gũi với bạn không? Xin bạn chia sẻ.

3. Ai yêu mến Ta thì giữ lời Ta! Điều nào Chúa dạy khó nhất đối với bạn? Tại sao?

9.Thánh Thần- Đấng Trợ Giúp--Lm. Giuse Phạm Thanh Liêm, SJ.
Sống lời Đức Yêsu dạy, là điều rất quan trọng, vì điều đó giúp con người hạnh phúc. Thiên Chúa là tình yêu, là Đấng làm tất cả vì yêu. Đức Yêsu đã yêu thương những kẻ thuộc về Ngài còn trong thế gian, thì Ngài yêu thương họ đến cùng. Ngài đã rửa chân cho các tông đồ để dạy họ bài học phục vụ và yêu thương. Ngài yêu thương các môn đệ đến độ ban Mình Máu Thánh Ngài làm của ăn của uống nuôi những kẻ Ngài thương yêu. Ngài cũng dạy các môn đệ phải yêu thương nhau như chính Ngài yêu thương họ: các con hãy yêu thương nhau như thầy đã yêu thương các con.

Tình yêu được thể hiện không chỉ bằng những lời nói dịu êm, nhưng chủ yếu bằng việc làm. Nếu chỉ nói yêu mà không có hành vi cụ thể đi với, e rằng đó không phải là tình yêu chân thực. Chính Đức Yêsu cũng nói: “Ai yêu mến thầy thì phải giữ lời thầy… Ai không yêu mến thầy thì không giữ lời thầy” (Ga.14, 23-24). Tình yêu là tương quan giữa ngôi vị và là điều rất quan trọng để con người sống tự do và hạnh phúc. Thiên Chúa là Đấng yêu thương, và con người được mời gọi để sống yêu thương như Thiên Chúa. Yêu thương là sống ơn gọi làm người, là nên thánh như Thiên Chúa muốn.

Yêu thương, là sống những gì Đức Yêsu đã dạy. Đức Yêsu đã dạy Thiên Chúa là Đấng quan phòng, Ngài yêu thương con người vô cùng, Ngài tha thứ cho con người như người cha trong dụ ngôn người cha nhân hậu, Ngài kiên nhẫn với người tội lỗi để chờ họ ăn năn sám hối, Ngài ban lương thực và cho mặt trời mọc lên cho cả người công chính cũng như người tội lỗi. Thiên Chúa muốn con người sống bình an hạnh phúc với Ngài. Tất cả những điều này, khi Đức Yêsu còn tại thế Ngài đã giảng dạy nhưng các tông đồ đã không nhớ trọn vẹn, phải nhờ Thánh Thần trợ giúp. Sau khi Đức Yêsu phục sinh, Ngài đã ban Thánh Thần cho các tông đồ.

Chính Thánh Thần đã giúp các tông đồ nhớ lại những gì Đức Yêsu đã nói với các tông đồ vì vào lúc đó các ông đã không hiểu và không nhớ nổi: “Đấng Bảo Trợ là Thánh Thần Chúa Cha sẽ sai đến nhân danh Thầy, Đấng đó sẽ dạy anh em mọi điều và sẽ làm cho anh em nhớ lại mọi điều Thầy đã nói với anh em” (Ga.14, 26). Chính vì nhớ lại những gì Đức Yêsu đã nói, mà các tông đồ nhận ra chân tướng của Đức Yêsu: Ngài là Đấng ngự bên hữu Thiên Chúa, và là Đấng ngang hàng với Thiên Chúa: “Cha Thầy và Thầy sẽ đến và ở lại với người ấy” (Ga.14, 23).

Thánh Thần là Đấng dạy các tông đồ mọi sự, là Đấng được Thiên Chúa Cha sai đến nhân danh Đức Yêsu. Thánh Thần cũng là Đấng được chính Đức Yêsu sai gởi tới khi Ngài ở bên Thiên Chúa Cha (Ga.15, 26). Nhờ Đức Yêsu Phục Sinh, chân tướng của Thánh Thần cũng được thấy rõ vì Ngài có cùng nguồn gốc với Chúa Yêsu Phục Sinh. Thánh Thần tùy thuộc vào Đức Yêsu Phục Sinh, cũng như Đức Yêsu luôn tùy thuộc Chúa Cha: “Thầy còn nhiều điều phải nói với anh em. Nhưng bây giờ anh em không có sức chịu đựng nổi. Khi nào Thần Khí Sự Thật đến, Người sẽ dẫn anh em tới sự thật trọn vẹn. Người sẽ không tự mình nói điều gì, nhưng tất cả những gì Người nghe, Người sẽ nói lại, và loan báo cho anh em biết những điều sẽ xảy đến… Mọi sự Chúa Cha có đều là của Thầy. Vì thế Thầy đã nói: Người lấy những gì là của Thầy mà loan báo cho anh em” (Ga.16, 12-13.15).

Thánh Thần xuất phát từ Chúa Cha (Ga.15, 26) nhưng được Chúa Yêsu sai đến, sẽ làm chứng về Đức Yêsu. Không ai có thể tuyên xưng Đức Yêsu là Chúa mà không nhờ Thánh Thần (1Cor.12, 3). Con người cảm thấy mình bất lực không làm điều mình thấy là tốt: “điều tốt tôi biết mà tôi lại không làm, tôi lại làm điều tôi biết đó là xấu” (Rm.7, 15). Nhờ Thánh Thần con người có thể làm điều mình cảm thấy bất lực. Thánh Thần là Đấng luôn ở với con người: “Thầy sẽ xin Chúa Cha và Người sẽ ban cho anh em một Đấng Bảo Trợ khác, đến ở với anh em luôn mãi” (Ga.14, 16). Thánh Thần không bao giờ rời xa chúng ta nữa.

Nhờ ơn Thánh Thần mà các tông đồ nhớ lại những gì Chúa Yêsu đã nói, mà các tông đồ nhận ra Chúa Cha, Chúa Yêsu và Thánh Thần liên hệ mật thiết với nhau. Ba Đấng luôn luôn quan tâm đến con người cách rất đặc biệt để giúp con người được sống hạnh phúc. Tác giả tin mừng theo thánh Yoan cho rằng, Ba Đấng này là một, vì “Cha và Ta là một” (Ga.10, 30), “mọi sự Chúa Cha có đều là của Thầy, vì thế Thầy đã nói: Người lấy những gì là của Thầy mà loan báo cho anh em” (Ga.16, 15), “Người sẽ không tự mình nói điều gì, nhưng tất cả những gì Người nghe, Người sẽ nói lại…” (Ga.16, 13).

“Thầy để lại bình an cho anh em, Thầy ban cho anh em bình an của Thầy. Thầy ban cho anh em không theo kiểu thế gian” (Ga.14, 27). Bình an của Đức Yêsu, không phải là không có chuyện gì xảy ra, nhưng là, cho dù có chuyện gì xảy ra đi nữa, người môn đệ của Đức Yêsu vẫn cảm thấy an tâm vì biết rằng Thiên Chúa yêu thương mình, vì biết rằng mọi sự sẽ sinh lợi ích cho mình vì Thiên Chúa yêu thương mình. Biết Thiên Chúa yêu thương mình và sẽ làm tất cả thành tốt cho mình, sẽ làm những người tin vào Đức Yêsu Kitô được sống an bình trong mọi hoàn cảnh, ngay cả trong những tình huống mà người khác thấy là bi đát.

Đức Yêsu không phải là không cảm thấy những khó khăn trong cuộc sống. Chính Ngài đã bị tra tấn hành hạ, bị đóng đinh thập giá, cảm nhận nỗi tủi nhục của một người bị coi là người tội lỗi. Đức Yêsu cũng còn cảm thấy mình bị cô đơn. Các tông đồ bỏ Ngài, và thậm chí như thể Thiên Chúa cũng bỏ Ngài: “Lạy Cha, sao cha nỡ bỏ con” (Mc.15, 34). Tuy nhiên, Đức Yêsu sau cùng vẫn cảm thấy bình an vì Ngài phó thác tất cả cho Thiên Chúa Cha: “Lạy Cha, con xin phó thác hồn con trong tay Cha”

Bình an và niềm vui của người Kitô hữu, là hồng ân mà Đức Yêsu ban qua Thánh Thần của Ngài. Chính Thánh Thần tha thứ tội lỗi cho con người, làm con người cảm nghiệm bình an và niềm vui, cùng giúp con người sống yêu thương nhau. Thánh Thần là hồng ân tuyệt vời mà Thiên Chúa ban cho con người. Một khi sống theo Thánh Thần, người ta sẽ bình an, vui, và yêu thương nhau như Đức Yêsu đã truyền dạy.

Câu hỏi gợi ý chia sẻ

1. Tại sao con người cảm thấy bất an?

2. Bình an mà Đức Yêsu ban tặng, là loại bình an gì, phải được hiểu như thế nào?

3. Đức Yêsu có được bình an không khi Ngài chết trên thập giá?

10.Thánh Thần, nguyên lý của bình an--Lm. GB. Trần Văn Hào
Phụng vụ hôm nay hướng tâm hồn chúng ta mừng lễ Chúa lên trời vào tuần tới, bởi vì việc Chúa về trời là tột đỉnh của mầu nhiệm Sống lại và đi vào vinh quang với Chúa Cha. Các bài đọc trong phụng vụ phản ánh thực trạng xảy ra nơi các tông đồ cách đây 2000 năm. Trong giây phút ly biệt đầy xốn xang, Chúa đã trấn an các học trò mình không phải bằng liệu pháp tâm lý, nhưng Ngài hứa ban Thánh Thần, là nguyên lý của bình an đích thực. Ngài khuyến mời các ông hãy tuân theo những chỉ dạy của Thần khí để có được bình an thực sự trong tâm hồn.

Thầy để lại bình an cho anh em.

Chắc chắn đây không phải là một lời chúc mang tính khách sáo, nhưng là một động thái Đức Giêsu đã thể hiện giữa các môn sinh của mình. Trong mỗi Thánh lễ, Giáo hội vẫn cầu nguyện xin Chúa Giêsu ban bình an xuống trên toàn thể Hội thánh giống như ngày xưa Ngài đã phú trao bình an cho các tông đồ trước khi đi thụ nạn. Nhưng sự bình an Chúa nói ở đây là bình an như thế nào?

Người ta vẫn thường nói: “Muốn có hòa bình phải chuẩn bị chiến tranh”. Cũng vậy, bình an mà Chúa Giêsu ban tặng đòi hỏi các học trò phải quyết liệt đi vào cuộc chiến đầy gian nan, đó chính là cuộc chiến đấu thiêng liêng. Trong cuộc chiến gian khổ ấy, chúng ta phải chấp nhận chết để được sống, phải đi vào mầu nhiệm tự hủy để được tái sinh trong đời sống mới. Vì thế, Chúa đã nói: “Thầy ban cho anh em bình an của Thầy không theo kiểu thế gian (c.27). Hòa bình theo cách thế gian chỉ dựa vào sức mạnh của vũ khí và tiềm lực quân sự, còn bình an mà Chúa Giêsu đem đến phát nguồn từ chính Thánh Thần. Trong thư gửi giáo đoàn Rôma, Thánh Phaolô cũng viết: “Hướng đi của Thần khí là sự sống và bình an” (Rm 8,6).

Trong lần tiếp ông Gorbachop và bà Raissa vào năm 1989, Đức Thánh Giáo hoàng Gioan Phaolô 2 đã trao tặng ông Tổng Bí thư Đảng cộng sản Liên Xô lúc bấy giờ một cuốn Kinh thánh, bên ngoài đề hàng chữ ‘Tôi là Đường, là Sự Thật và là Sự Sống’. Đồng thời, Đức Thánh Cha cũng trao tặng bà Raissa một cỗ tràng hạt với câu cắt nghĩa ‘Nữ Vương ban sự bình an’. Ngài muốn ngụ ý nói rằng, chỉ qua Đức Giêsu chúng ta mới tìm ra con đường của sự thật dẫn đến sự sống, đồng thời bình an thật sự đến với loài người không phải dựa trên vũ khí, tiền bạc hay sức mạnh quân sự. Chúa Giêsu ban bình an cho các học trò của Ngài không theo kiểu cách thế gian. Ngài mời gọi họ hãy rộng mở tâm hồn để Thần khí tác động và luôn sẵn sàng đi vào cuộc chiến nội tâm, đặc biệt khi đứng trước viễn ảnh đen tối của Thập giá.

Anh em đừng xao xuyến cũng đừng sợ hãi.

“Đừng sợ”. Đây là điệp khúc được Chúa Giêsu nhắc đi nhắc lại rất nhiều lần. “Đừng sợ những kẻ giết được thân xác nhưng không làm gì được linh hồn anh em”. “Đừng sợ, ta đã thắng thế gian”... Đây không phải là một lời trấn an mang dạng thức tâm lý, vì Chúa Giêsu không bao giờ đóng vai một nhà tâm lý học đối với các môn sinh của mình. Ngài mời gọi các môn đệ can đảm đối diện trước viễn ảnh Thập giá và cái chết. Những lời Chúa nói trong Tin mừng hôm nay nằm trong bối cảnh bữa tiệc ly trước khi đi thụ nạn. Trong bài diễn từ rất dài ấy, Chúa nhắc đi nhắc lại về nguyên lý của tình yêu, là yếu tố giúp ta thắng vượt mọi sợ hãi. Thánh Phaolô cũng đã viết: “Tình yêu mạnh hơn sự chết”. Tình yêu sẽ giúp chúng ta thực sự lưu lại trong Chúa, Đấng hằng sống, và chính Chúa Giêsu đã mời gọi: “Anh em hãy ở lại trong tình yêu Thầy” (Ga 15,9) bằng cách tuân giữ những điều Thầy truyền dạy” (c.10). Cũng thế, ngày hôm nay, Chúa cũng khẳng định rằng yêu mến Chúa chính là tuân giữ lời của Ngài (Ga 14,23).

Sợ hãi là kinh nghiệm mà chúng ta vẫn thường hay có. Người trẻ sợ tuổi già mau đến. Thanh niên khỏe mạnh sợ lúc bệnh tật hay ốm đau. Đôi trai gái yêu nhau say đắm sợ những giây phút ân ái mặn nồng vụt tan biến. Người giàu sợ sẽ đến ngày khách kiệt... Nói chung, có muôn vàn lý do để phải sợ hãi. Khi đối diện trước cái chết, chính Chúa Giêsu cũng sợ. Sự sợ hãi dâng lên tột độ đến mức mồ hôi và máu toát ra. Ngài đã lớn tiếng và rơi lệ cầu xin với Đấng có thể cứu mình khỏi chết (Dt 5,7), vì Ngài lo sợ, nỗi sợ theo bản tính tự nhiên của con người. Ngài sợ, vì tội lỗi của cả trần gian đang đè nặng trên đôi vai Ngài và cuối cùng dẫn đến cái chết nghiệt ngã. Nhưng khi từ cõi chết sống lại, Chúa Giêsu đã trở thành nguyên lý cho chúng ta về sự bình an để thoát vượt sợ hãi. Khi hiện ra với các môn đệ vào ngày thứ nhất trong tuần, Chúa đến giữa lúc các ông đang ngồi co rúm lại vì sợ sệt. Chúa thổi hơi vào các ông, ban Thánh Thần và trao chúc bình an. Thánh Gioan nêu ra tất cả những chi tiết này để liên kết sự bình an với ân điển của Thần khí, hầu giúp chúng ta thoát vượt sợ hãi. Ngài còn cho các môn đệ thấy những dấu chứng về cuộc khổ nạn nơi thân xác Ngài, và đó cũng là vết tích gây nên sự sợ hãi nơi các tông đồ trước đây.

Đức Thánh Cha Gioan Phaolô đệ nhị đã khởi đầu triều đại Giáo hoàng của Ngài với thông điệp ‘Đừng sợ’. Bước vào năm thánh 2000, Ngài nhắc lại lời hiệu triệu ấy và mời gọi chúng ta, đặc biệt các bạn trẻ: “Đừng sợ. Các con hãy mở tâm hồn để cho Chúa Giêsu chiếm ngự” (Open door to Christ).

Vì thế, thoát khỏi sợ hãi không phải là một liệu pháp mang tính tâm lý, nhưng là một thái độ của đức tin, cắm sâu niềm tin vào mầu nhiệm Đức Giêsu đấng đã chết và đã sống lại.

Thành thánh Giêrusalem, quê hương của bình an đích thực.

Không phải vô tình mà Giáo hội chọn bài đọc 2 của phụng vụ hôm nay trích trong sách khải huyền, đan kết với sứ điệp Chúa nói trong Tin mừng Gioan. Chúng ta được mời gọi hướng về quê hương vĩnh cửu, là thành thánh Giêrusalem trên trời, nơi chốn của bình an viên mãn. ‘Thành thánh chói lọi vinh quang Thiên Chúa và Con Chiên chính là ngọn đuốc chiếu soi thành’. Có lẽ chúng ta nghĩ rằng quê hương mai sau của chúng ta là một thực tại rất xa vời so với cuộc sống hiện sinh của ngày hôm nay. Không phải thế. Có một bài hát với ca từ rất ý nghĩa: ‘ngày mai bắt đầu từ ngày hôm nay’. Thành Thánh Giêrusalem mai sau đã được bắt đầu ngay từ ngày hôm nay, nếu chúng ta biết sống sung mãn trong tình yêu, kết hợp mật thiết với Chúa Giêsu.

Đây không phải là nguyên tắc của lý thuyết xa vời vợi, nhưng đời sống đức tin của chúng ta phải được thể hiện cụ thể, bằng cách đi sâu vào sự kết hợp thân tình với Chúa Giêsu qua việc cầu nguyện mỗi ngày. Mẹ Thánh Têrêsa Calcutta, người sẽ được tôn phong Hiển thánh vào ngày 4 tháng 9 năm nay, là một chuyên gia trong việc thực hành bác ái, đặc biệt đối với những người cùng khổ và bị bỏ rơi. Nhưng chúng ta đừng quên rằng Mẹ luôn nhấn mạnh và khuyên mời các con cái mình chuyên chăm cầu nguyện mỗi ngày. Trong cầu nguyện kết hiệp với Chúa, Mẹ đã nghe được tiếng Chúa Giêsu thét gào trên Thập giá: “Ta khát”. Khởi từ đời sống cầu nguyện, Mẹ đã hăng say lao vào những công việc bề bộn để phục vụ. Điều chính yếu không phải là chúng ta đã làm được những gì, nhưng quan trọng nhất, chúng ta đang là ai, chúng ta có thực sự là môn đệ của Chúa Giêsu và có thường xuyên cầu nguyện để lưu lại trong tình yêu với Chúa hay không.

Kết luận

Chúa nói hôm nay: “Ai yêu mến Thầy, sẽ giữ lời Thầy. Cha Thầy sẽ yêu mến người ấy. Cha Thầy và Thầy sẽ đến và ở lại trong người ấy”. Đó là nguyên tắc bất di bất dịch để có được bình an. Chân lý này cũng được Thánh Phanxicô Salê quảng diễn khi Ngài nói với chúng ta: “Ama et fac quod vis”, bạn hãy yêu mến đi, rồi bạn muốn làm gì thì làm.

11.Tại sao lại tỏ mình ra cho con?--Lm. Gioan Nguyễn Văn Ty
Trong bài diễn từ tiễn biệt rất dài (từ cuối chương 13 cho tới hết chương 17 của Phúc âm Gioan) Đức Giêsu đã mất nhiều công sức để chấn an các môn đệ Người; chắc hẳn lúc đó các ông đang trong rơi vào tình trạng rất bồn chồn lo lắng, tương tự như một nhóm học sinh gần tới ngày ra trường phải ôn thi: các ông mong ghi nhớ hết mọi lời Thầy dạy, nhớ tới từng chi tiết, nhưng lại có nguy cơ quên mất điểu hệ trọng chính yếu nhất; và điều chính yếu đó không phải là những bài học từ chương về các điều Thầy dạy dỗ, nhưng là bộc lộ bản chất đích thực của Thầy Giêsu – Lời tối hậu của Thiên Chúa. Việc bộc lộ này rõ ràng chỉ dành cho các môn đệ là những người thâm tín đã theo Thầy suốt bằng ấy năm: “Thưa Thầy, tại sao Thầy phải tỏ mình ra cho chúng con, mà không tỏ mình ra cho thế gian?” Nếu nắm bắt được nội dung lời trăn trối này, chúng ta sẽ có cơ may thấu hiểu được cái cỗi lõi của niềm tin Ki-tô hữu chăng?

Nắm giữ Lời là điều tối quan trọng trong việc duy trì tương quan với Thầy Giêsu, kể cả khi Người đã ra đi: “Ai yêu mến Thầy, thì sẽ giữ Lời Thầy…Cha Thầy sẽ yêu mến người ấy”. Lời đó chắc chắn không chỉ đơn thuần là các bài thuyết giảng mà Người đã từng tuyên giáo trên khắp các nẻo đường xứ Ga-li-lê và Giu-đê trong ròng rã ba năm trời; trong số đó có những bài thật ý nhị và độc đáo, chẳng hạn bài bàn về các mối phúc hay các câu chuyện dụ ngôn…; thế nhưng, cho dầu có tuân giữ được mọi lời Ráp-bi Giêsu giảng dạy đi nữa, thì điều đó cũng đâu có thể làm cho “Cha Thầy và Thầy sẽ đến và ở lại với người ấy”. Lời đây hẳn là một điều gì rất đặc biệt mà Người đã từng khảng định: “không phải là của Thầy, nhưng là của Chúa Cha, Đấng đã sai Thầy”. Lời mà Người nhân danh Chúa Cha đến trần gian để nói lên cho bằng được, và chỉ có thể nói cho các môn đệ thâm tín nhất là những kẻ đã tin theo Người mà thôi.

Tuy nhiên Lời này sẽ không hề dễ hiểu, ngay cả đối với các môn đệ! Hồi đó, cho tới lúc Thầy Giêsu sắp ra đi, các môn đệ vẫn luôn cảm thấy khó chấp nhận bài học này: mỗi lần Thầy Giêsu đề cập tới sự tự hiến Thập Giá và đau khổ mà Người sẽ phải chịu tại Giê-ru-sa-lem, không một ai trong số họ không lớn tiếng phản đối, can ngăn. Nhất là khi Người khảng định: ai nhìn thấy Thầy tự hiến là nhìn thấy Chúa Cha, nhìn thấy vinh quang đích thực của Cha… thì không một môn đệ nào có thể hiểu nổi (xem Ga 14:8-11). Đức Giêsu biết rất rõ điều đó; cần phải có một can thiệp đặc biệt, can thiệp của Thần Khí; các môn đệ cần tới một đấng Bảo Trợ, Đấng “sẽ được sai đến nhân danh Thầy, Đấng đó sẽ dạy anh em mọi điều và sẽ làm cho anh em nhớ lại mọi điều Thầy đã nói với anh em”. Phải, để hiểu được Lời của Giêsu Thập Giá, hiểu được Tình Yêu tự hiến và cứu đô của Thiên Chúa, dứt khoát cần tới sự can thiệp của Thánh Thần. Người thường thì chỉ có thể hiểu được các lời khuyên dạy, các câu chuyện dụ ngôn, các lời dạy dỗ đầy khôn ngoan từ miệng Ráp-bi Giêsu phán ra, nhưng để hiểu chính con người và hành động của Giêsu Ki-tô là Lời của Thiên Chúa, nhất là khi Lời đó được vang lên, không phải trên bục giảng mà là trên Thập Giá, thì trí khôn con người, cho dầu có xuất chúng tới mấy đi nữa (kể cả bộ óc kỳ tài như Albert Einstein chẳng hạn), cũng không thể nào nắm bắt được.

Ồ, thật vậy sao? Ngay cả một Linh mục lớn tuổi như tôi mà vẫn cứ đinh ninh rằng: để hiểu và giữ lời Chúa thì chỉ cần một chút thông minh, một chút thiện chí; và thông minh - thiện chí cũng là điều tôi vẫn thường lớn tiếng đòi kêu gọi anh chị em tín hữu phải có. Có lẽ chính vì thế mà, cho tới giờ này, tôi có thấu hiểu gì về Lời Tình Yêu - Thập Giá đâu… và các giáo hữu nghe tôi giảng có lẽ cũng chẳng hiểu được gì hơn! Tôi chăm chú suy tư, lo đọn bài giảng hơn là dành thời giờ cầu nguyện, lo trình bày cho khôn khéo hơn là tin tưởng vào tác động của Đấng Bảo Trợ đang ngự trong tâm hồn các tín hữu; trên tòa giảng, tôi lo tạo ấn tượng trên các thính giả của mình, hơn là tìm cách đóng trên họ dấu ấn của Thần Khí.

Và dấu ấn của Lời đó trong Thần Khí thì thật rõ ràng: “Anh em đừng xao xuyến cũng đừng sợ hãi… Thầy để lại bình an cho anh em… Thầy ban cho anh em bình an của Thầy”. Lời Thầy Giêsu – Lời Thiên Chúa xót thương không bao giờ là lời đe dọa; Lời đó không tạo áp lực ép buộc, cũng chẳng tạo căng thẳng lo âu! Lời Thầy Giêsu sẽ luôn lan tỏa an bình, thư thái cho cả những tâm hồn đã phạm phải những tội tầy trời nhất; “Ta không kết án, hãy về và từ nay đừng phạm tội nữa!” Nếu vậy, tôi - một linh mục của Đức Ki-tô có thật sự mang Lời bình an này tới tâm hồn mọi tín hữu, nhất là những tâm hồn chìm đắm trong tội lỗi đang rất cần tới Lời an ủi hơn bất cứ điều gì khác? Và để làm được điều đó: không một ai khác có thể giúp tôi, hơn là Thánh Thần, Đấng ủi an.

Lạy Chúa Giêsu là Lời đích thực của Thiên Chúa Cha giầu lòng xót thương, xin đổ Thần Khí xuống trên con, để con hiểu được Lời Tình Yêu, nhất là mỗi khi con cử hành Thánh Lễ. Nếu chính con chưa một lần hiểu và giữ được Lời Tình Yêu đích thực, nhất là qua biểu lộ của Thánh Thể - Thập Giá, thì làm sao con có thể mở miệng loan truyền Lời Chúa cho anh chị em tín hữu? Có thể con đã giảng lời Giêsu quá nhiều, nhưng đã giảng Lời-Chúa quá ít. Xin chỉnh đốn tình trạng thiếu xót trầm trọng này nơi con! Xin đổ tràn ngập tâm hồn con thứ bình an độc đáo của Chúa, phát xuất từ cảm nghiệm bản thân về lòng Chúa Xót Thương, để con - linh mục của Chúa cũng có thể loan báo và thông truyền Tin Mừng đầy an ủi này cho mọi người, nhất là cho các tội nhân bất hạnh và bị đọa đầy. Amen.

12.Trung thành sống Lời Chúa--Lm. Giuse Phạm Thanh Minh
“Thầy để lại bình an cho các con,

Thầy ban bình an của Thầy cho các con”

Giáo Hội qua Phụng vụ Lời Chúa hôm nay mời gọi chúng ta suy gẫm lời tâm sự của Chúa Giêsu trong diễn từ biệt ly với các tông đồ trước khi Người trở về cùng Chúa Cha. Người dạy các ông về sự quan trọng của việc sống và thực hành những lời dạy của Người. Lời của Người là Lời của Chúa Cha. Sống Lời Chúa là thước đo lòng yêu mến. Chính Chúa Thánh Thần sẽ giúp các ông hiểu và sống lời Người.

I. Sống lời Chúa là thước đo lòng yêu mến

Giữa lúc các môn đệ mất niềm hy vọng, cô đơn không biết nương tựa vào ai, thì khi nghe lời cáo biệt của Thầy, Chúa Giêsu đã thắp lên ánh lửa hy vọng bằng việc khích lệ các ông: Đã sống theo Thầy hãy vững niềm tin. Đặt hy vọng vào Ngài và đã yêu Ngài với một con tim của một môn sinh thì hãy sống lời Thầy truyền, đặc biệt là giới răn yêu thương. (x.Ga 13,34)

Sống lệnh truyền yêu thương của Thầy, các Tông đồ không còn đơn côi nữa, vì Thầy luôn hiện diện bên họ khi các ông sống di ngôn tình yêu, mà sau này Thánh Gioan đã cảm nghiệm: “Thiên Chúa là tình yêu” (1Ga 4,16). Tình yêu hiện diện trong điều răn yêu thương.

Thầy ra đi, nhưng khi di ngôn Thầy được sống trọn vẹn, đó là sự hiện diện của chính Thầy. Và niềm hy vọng sẽ được sáng lên hơn nữa khi Ngài hứa gởi Thần Chân Lý-Đấng Bảo Trợ sẽ đến đồng hành với các ông trong mọi biến cố của cuộc đời. Đấng Bào Chữa sẽ dạy dỗ và làm cho các môn đệ nhớ lại mọi lời Chúa Giêsu đã dạy để làm cho giáo lý của Đức Giêsu được duy trì nguyên vẹn. Đồng thời, Chúa Giêsu cũng ban bình an của Người cho các Tông đồ. Bình an của Chúa Giêsu để lại không như thứ bình an của thế gian. Thật vậy, bình an ở đây không phải là hòa bình, tình trạng không có chiến tranh, cũng không phải là tâm trạng của con người không còn bị căng thẳng về mặt tâm lý, hoặc tâm trạng khoan khoái, thoải mái, sung sướng. Đó là thứ bình an thuộc lĩnh vực tự nhiên. Còn theo ngôn ngữ của Gioan: bình an, sự thật, ánh sáng, sự sống, niềm vui… là những từ diễn tả nhiều khía cạnh khác nhau của ân huệ lớn lao mà Đức Giêsu từ Chúa Cha mang đến cho loài người. Ân huệ này là chính ơn giải thoát, ơn cứu độ…

Theo tâm lý tự nhiên của con người, khi người ta yêu quý nhau thì người ta sẽ dễ tin nhau, dễ nghe nhau để thực hiện những gì người mình yêu quý nói. Đối với Chúa Giêsu cũng vậy, Người cũng khẳng định: “Ai yêu mến Thầy, sẽ giữ lời Thầy; Ai không yêu Thầy sẽ không giữ lời Thầy”. Lời Chúa đã minh nhiên cho thấy sự tương quan giữa tình yêu đối với Thiên Chúa và việc sống Lời Chúa. Cả hai không thể tách rời nhau, yêu mến Chúa thì phải thực hành lời Chúa. Càng thực thi lời Chúa càng chứng tỏ tình yêu càng lớn lao. Tình yêu đối với Thiên Chúa không hệ tại ở những cảm xúc tự nhiên mà hệ tại ở chính việc sống lời Chúa. Sống lời Chúa là thước đo lòng yêu mến Chúa. Nếu nói mến Chúa mà không thực hành lời Chúa thì đó là kẻ nói dối. Có nhiều cách thế biểu lộ tình yêu của chúng ta dành cho Thiên Chúa như sốt sắng cầu nguyện, thực thi bác ái với tha nhân, trung thành sống đức tin… tất cả đều là những việc cụ thể của việc sống lời Chúa. Vì thế, học hỏi lời Chúa và nhất là thực thi lời Chúa trong cuộc sống hằng ngày là cách thức thể hiện bác ái cụ thể nhất, rõ ràng nhất. Chính vì thế, Thánh Phaolô đã kết luận: “Hãy làm mọi việc vì đức ái” (1Cr 16,14). Đó chính là diễn giải di ngôn của Thầy: “Ai yêu mến Thầy thì giữ lời Thầy”. Điều này không còn làm cho các môn đệ cảm thấy cô đơn trống rỗng như ban đầu nữa, nhưng đem đến tràn đầy niềm hy vọng nhờ di sản tình yêu.

II. Hoa trái của việc sống Lời Chúa

Qua mọi thời, kể từ hơn hai ngàn năm, lời từ biệt của Chúa Giêsu vẫn đồng hành với nhân loại như là đồng hành với các môn đệ. Ngày xưa các Tông đồ và ngày nay chúng ta đón nhận và thực thi di ngôn của Thầy Giêsu: “mệnh lệnh tình yêu”; và mở lòng mình chờ đón Đấng Bào Chữa đến trong tâm hồn để được ban nhiều hoa trái thiêng liêng khi sống lời Chúa. Mặc dù, Thầy không hiện diện hữu hình, nhưng Thầy vẫn hiện diện bằng mệnh lệnh tình yêu, và tác động của Chúa Thánh Thần-Đấng Bào Chữa. Đó là sự hiện diện ở mãi bên chúng ta cho đến tận thế. Một sự hiện diện huyền diệu hai chiều, thâm sâu và mới mẻ: “Anh em ở trong Thầy và Thầy ở trong anh em” (Ga 14,20). Cho nên khi sống lệnh truyền yêu thương của Thầy, chúng ta cảm nghiệm được lời hứa của Ngài: “Ai nhận các luật Thầy truyền và giữ các luật đó thì người đó là kẻ yêu mến Thầy, mà ai yêu mến Thầy thì sẽ được Cha Thầy yêu mến, và Thầy sẽ yêu mến người ấy, và sẽ tỏ mình ra cho người ấy” (Ga 14,21).

Ý của Thầy là thế, phần còn lại là ở các môn đệ và Kitô hữu có thực hiện lời di ngôn hay không, có giữ các lời Thầy, có tiếp nhận Đấng Bảo Trợ sẽ đến? Giữ các lời Thầy truyền như là làm cho tâm hồn đầy đủ “đèn dầu” và khơi lên niềm hy vọng. Đấng Bảo Trợ sẽ đến thêm sức cho chúng ta, tăng niềm tin, niềm hy vọng. Niềm hy vọng sẽ không còn mong manh như lời hứa, nhưng là mạnh mẽ, đầy sức sống. Hình ảnh đó hiện thực rõ nét nhất trong ngày lễ Ngũ Tuần (x.Cv 2,1-4). Niềm hy vọng sẽ vực dậy tất cả nơi người môn đệ theo Chúa.

Thế giới và Giáo hội ngày nay đã và đang trải qua cuộc khủng hoảng trầm trọng, giông bão đang thổi đến. Đây là lúc mọi Kitô hữu phải hiệp nhất trong yêu thương phục vụ, trung thành sống lời Chúa để mang lại bình an cho thế giới hôm nay.

13.Trung thành sống Lời Chúa--Lm. Giuse Maria Lê Quốc Thăng
Tin Mừng Ga 14, 23-29: Niềm tin và tình yêu của Kitô hữu dành cho Chúa Giêsu được biểu lộ qua việc nghe và thực thi Lời Chúa.

Giáo hội qua phụng vụ Lời Chúa hôm nay mời gọi chúng ta suy gẫm lời tâm tình của Chúa Giêsu với các môn đệ trước khi Người trở về cùng Chúa Cha: "Nếu ai yêu mến Thầy thì hãy giữ lời Thầy". Vào thế kỷ XXI này liệu Lời Chúa có còn cần thiết, có giá trị đối với Kitô hữu, đối với con người và xã hội không, khi mà người ta đã và đang chạy theo những lợi lộc vật chất; khi mà người ta tin tưởng và đề cao những giá trị của khoa học, của tri thức nhân loại; khi mà người ta dễ dàng nghe theo những trào lưu tư tưởng thực dụng.

Niềm tin và tình yêu của Kitô hữu dành cho Chúa Giêsu được biểu lộ qua việc nghe và thực thi Lời Chúa.

I. TÌM HIỂU LỜI CHÚA: Ga 14, 23-29

Bản văn được chọn đọc hôm nay nằm trong diễn từ biệt ly của Chúa Giêsu. Vào lúc Chúa Giêsu chuẩn bị rời bỏ các môn đệ, Người dạy các ông về sự quan trọng của việc sống và thực thi những lời dạy của Người. Lời của Người là Lời của Chúa Cha. Sống Lời Chúa là thước đo lòng yêu mến. Chính Chúa Thánh Thần sẽ giúp các ông hiểu và sống Lời Người.

a. Chúa Giêsu sau khi rời bỏ các môn đệ để về bên Chúa Cha, Người sẽ có những cách thế hiện diện khác để ở cùng các môn đệ của mình. Người hiện diện nơi Lời của Người. Ai yêu mến Thầy, sẽ giữ Lời Thầy, Cha Thầy sẽ yêu mến Người ấy và chúng ta sẽ đến và ở trong người ấy.

b. Chúa Thánh Thần sẽ soi sáng hướng dẫn để tất cả hiểu đúng Lời Chúa và ban ơn để có đủ nghị lực sống Lời Chúa. Sống Lời Chúa không phải là điều đơn giản. Với biết bao khó khăn thử thách nếu vẫn trung thành sống Lời Chúa thì chúng ta sẽ tìm kiếm được bình an của chính Chúa Giêsu ban tặng. Một sự bình an nội tâm sâu xa do chính sự hiện diện của Thiên Chúa mang lại.

c. Thế giới và Giáo hội ngày nay đã và đang trải qua biết bao cuộc khủng hoảng trầm trọng, dông bão đang thổi đến. Đây là lúc mọi Kitô hữu phải xiết chặt tay, trung thành sống Lời Chúa bất chấp tất cả để mang lại sự bình an cho thế giới và Giáo hội.

II. GỢI Ý SUY NIỆM

1. Sống Lời Chúa là thước đo của lòng yêu mến: Theo tâm lý tự nhiên của con người, khi người ta yêu quí nhau thì người ta dễ nghe nhau, dễ tin lời nhau, dễ thực hiện theo những gì người mình yêu quí nói. Càng yêu quí nhau nhiều thì càng nghe nhau, thậm chí nghe theo cả những điều sai trái. Đối với Chúa Giêsu cũng vậy, Người cũng khẳng định: ai yêu mến Thầy, sẽ giữ Lời Thầy; ai không yêu mến thì không giữ lời Thầy. Lời Chúa đã minh nhiên cho thấy sự tương quan giữa tình yêu đối với Thiên Chúa và việc sống Lời Chúa. Cả hai không thể tách rời nhau. Yêu mến Chúa là phải thực thi Lời Chúa. Càng thực thi lời Chúa càng chứng tỏ tình yêu càng lớn lao. Tình yêu đối với Thiên Chúa không hệ tại ở những cảm xúc tự nhiên mà hệ tại ở chính việc sống lời Chúa. Sống Lời Chúa là thước đo lòng yêu mến Chúa. Nếu nói yêu mến Chúa mà không thực hành Lời Chúa thì đó là kẻ nói dối.

Có nhiều cách thế biểu lộ tình yêu của chúng ta dành cho Thiên Chúa: sốt sắng cầu nguyện, yêu mến bác ái với tha nhân, trung thành sống đức tin … nhưng tất cả đều là những việc cụ thể của việc sống Lời Chúa. Vì thế, chịu học hỏi Lời Chúa và nhất là thực thi Lời Chúa trong cuộc sống hằng ngày là cách thức thể hiện đức ái cụ thể nhất, rõ ràng nhất.

2. Hoa trái của việc sống Lời Chúa: "Ai yêu mến Thầy, sẽ giữ lời Thầy và Cha Thầy sẽ yêu mến người ấy và chúng ta sẽ đến và ở trong người ấy". Hoa trái quan trọng nhất, nguồn phát sinh nhiều hoa trái thiêng liêng và ân sủng của việc sống Lời Chúa chính là có được sự hiện diện của Ba Ngôi Thiên Chúa trong cuộc đời. Đối với những ai yêu mến và sống Lời Chúa, Chúa Giêsu hứa hẹn rất tuyệt diệu: Người không nói đến tình yêu mà Người đương nhiên dành cho họ, nhưng Người nói đến tình yêu và hồng ân kỳ diệu của Chúa Cha, cùng với Chúa Giêsu, chính Chúa Cha sẽ đến ở với các tín hữu. Các Ngài đến cư ngụ trong họ như trong đền thờ của mình. Có được Thiên Chúa là có tất cả. Nếu ai chối từ không yêu mến, không sống Lời Chúa thì không thể đón nhận được Thiên Chúa đến với họ. Họ không biết Chúa Giêsu vì đã từ khước sứ điệp của Người. Như thế, họ cũng không thể biết Chúa Cha là nguồn của sứ điệp và cũng không thể có được Chúa Thánh Thần là Đấng soi sáng và giải thích sứ điệp.

Với mỗi Kitô hữu hôm nay, việc học sống Lời Chúa xem ra có vẻ thờ ơ nguội lạnh. Nguyên nhân thì nhiều nhưng ẩn sâu bên trong chính là do không yêu mến Thiên Chúa, không dám chấp nhận sứ điệp Tin mừng cho nên không có Thiên Chúa trong cuộc sống và từ đó vẫn cứ mãi quay cuồng trong dục vọng, đam mê, trong bể khổ cuộc đời mà không được bình an. Bình an Chúa Giêsu ban tặng không như thế gian ban tặng. Bình an đó chính là sự hiện diện của Thiên Chúa, sự bình an có được qua việc sống Lời Chúa, qua chính hành động đức tin của mỗi người.

3. Sống lời Chúa là đi vào sự hiệp nhất với Ba Ngôi Thiên Chúa: Trong Tin mừng hôm nay, Chúa Giêsu mạc khải minh nhiên về mầu nhiệm Thiên Chúa Ba Ngôi. Sứ điệp của Người công bố là chính Lời của Chúa Cha. Chúa Thánh Thần sẽ đến dạy bảo và nhắc nhở tất cả những gì Người đã giảng dạy cho các môn đệ. Sự hiệp nhất nên một của Ba Ngôi Thiên Chúa được thể hiện rõ ràng trong chính lời giảng dạy của Chúa Giêsu: Người chỉ nói những gì Chúa Cha sai nói. Chúa Thánh Thần không dạy thêm điều gì khác lạ với những gì Chúa Giêsu dạy mà chỉ soi sáng giúp tín hữu hiểu thấu Lời Chúa Giêsu mà thôi. Do đó, khi thực thi Lời Chúa là đi vào trong sự hiệp nhất với Ba Ngôi Thiên Chúa. Như Ba Ngôi hiệp nhất nên một thế nào thì người sống trung thành với Lời Chúa cũng kết hiệp với Thiên Chúa Ba Ngôi chặt chẽ như vậy. Tin vào Lời Chúa Giêsu là đón nhận sứ điệp được gửi tới từ Chúa Cha. Để hiểu đúng và làm đúng Lời Chúa đòi phải lắng nghe Chúa Thánh Thần.

Mầu nhiệm Ba Ngôi là nền tảng cho toàn bộ mầu nhiệm Kitô giáo. Sống Lời Chúa là đi vào chính nguồn mạch tình yêu khởi từ Ba Ngôi Thiên Chúa. Lời Chúa là đèn soi dẫn lối chúng ta đi đến cùng đích đời Kitô hữu là về sống hạnh phúc trong cung lòng Ba Ngôi Thiên Chúa. Sống Lời Chúa ngay từ cuộc sống hiện tại là một bảo đảm cho Kitô hữu đi đúng đường.

III. LỜI NGUYỆN TÍN HỮU

Mở đầu: Anh chị em thân mến, trung thành sống Lời Chúa là biểu lộ lòng yêu mến Chúa. Trong tâm tình yêu mến và tin tưởng, chúng ta cùng dâng lời cầu xin lên Thiên Chúa.

1. Kho tàng Lời Chúa đã được Chúa Giêsu ủy thác cho Hội thánh để Hội thánh trung thành loan truyền cho muôn dân. Chúng ta cùng cầu nguyện cho các Đức Giám mục là những thầy dạy đức tin và các linh mục, những cộng tác viên của hàng Giám mục luôn biết yêu mến và không ngừng trau dồi Kinh thánh, để dân Chúa và mọi người được nuôi dưỡng đầy đủ và bổ ích lương thực Lời Chúa.

2. Trong xã hội hôm nay rất nhiều anh chị em chưa nhận được sứ điệp Tin mừng. Chúng ta cùng cầu nguyện cho Hội thánh Việt Nam trong Năm thánh này thu được nhiều kết quả khả quan làm cho nhiều anh chị em chung quanh được nghe Lời Chúa, tiếp cận với Lời Chúa bằng chính đời sống chứng tá Tin mừng của mọi thành phần Hội thánh.

3. Ai yêu mến Chúa thì giữ Lời Chúa. Chúng ta cùng cầu nguyện cho mọi người trong cộng đoàn chúng ta luôn biết yêu mến, học hỏi và sống Lời Chúa. Nhờ đó, mỗi ngày một gắn bó hơn với Ba Ngôi Thiên Chúa; tìm kiếm được niềm vui an bình trong cuộc sống và trở nên chứng tá loan báo Tin mừng cho mọi người chung quanh.

Lời kết: Lạy Thiên Chúa Ba Ngôi, Chúa không ngừng yêu thương, chăm sóc và hiện diện với chúng con qua Lời Chúa được công bố trong Hội thánh. Chúng con xin Chúa tuôn đổ ơn Thánh Thần trên mỗi người chúng con, để tất cả hiếu biết và sống đúng những gì Chúa dạy. Chúng con cầu xin nhờ Đức Kitô, Chúa chúng con.

14."Bình an cho các con"--Lm. Giuse Nguyễn Hữu An
Trên những chuyến xe khách, xe buýt, các bến xe… người ta thường thấy những hàng chữ “chúc quý khách thượng lộ bình an”. Người tài xế Công giáo treo hình Đức Mẹ trên xe có kèm theo hàng chữ “Nữ Vương ban sự bình an”. Người tài xế Phật giáo treo hình Đức Phật, dù có hay không có hàng chữ nào, trong lòng họ vẫn cầu mong Đức Phật ban bình an.

Theo Hán tự, chữ “bình” có nghĩa là bằng phẳng, đều hòa, hòa hợp, thoải mái, chữ “an”, theo cách viết là “người nữ ở trong nhà”, có nghĩa là được bảo vệ, an toàn. Như vậy, bình an nói lên trạng thái tâm hồn, trạng thái nội tâm thư thái, an hòa, vui tươi, bình thản, vững chắc. Do đó, bình an khác với hòa bình. Hòa bình nói lên trạng thái bên ngoài: không còn cạnh tranh, không còn chinh chiến, xô xát, súng đạn, gươm đao. Cho nên có khi có hòa bình nhưng không có bình an. Nhân loại thì khao khát hòa bình, còn mỗi người thì khao khát bình an.

Chúa Giêsu sống lại từ ngày thứ nhất trong tuần đã hiện ra với các môn đệ và ban bình an cho các ông. Lời đầu tiên của Chúa Phục Sinh là: “ Bình an cho anh em” (Ga 20,19-21). Bình an là hồng ân của Chúa Phục Sinh ban cho các môn đệ (Ga 20,26; Lc 24,36).

Các sách Tin Mừng và Công vụ Tông đồ thuật lại: mỗi lần Chúa Giêsu hiện đến đều thấy các môn đệ hội họp trong nhà, cửa đóng then cài vì sợ người Do thái. Khi Chúa hiện diện, sự sợ hãi của các môn đệ tan biến và các ông có được niềm vui, bình an, can đảm.

Thầy ban bình an của Thầy cho anh em… anh em đừng xao xuyến, đừng sợ hãi” (Ga14,27). Có một sự khác biệt cơ bản giữa bình an “thế gian ban tặng” và “bình an Đức Giêsu ban tặng”.

1. Bình an Chúa Giêsu là bình an trong tâm hồn.

Chúa Giêsu Phục sinh là niềm vui lớn lao nhất của các Tông Đồ và của các phụ nữ đạo đức. Niềm vui nhân lên gấp bội khi Chúa trao quà tặng Bình an.

"Bình an cho các con". Khi tâm hồn của các Tông Đồ hoang mang lo lắng buồn vui lẫn lộn về sự việc Chúa chết và sống lại, thì lời chúc lành của Chúa Giêsu rất đúng lúc để củng cố đức tin và đem lại an bình cho tâm hồn của các ông.

"Bình an cho các con". Sự bình an này không giống bình an của người đời ban tặng. Sự bình an của người đời là tạm bợ và sẽ không tồn tại, bởi vì người đời chỉ dựa vào của cải vật chất để trấn an tâm hồn đầy bất an. Người ta chúc nhau được bình an, nhưng không ai tìm được bình an trong cuộc sống. Người giàu có thì cảm thấy bất an khi đêm về vì sợ kẻ trộm. Người có địa vị thì sợ kẻ khác chiếm đoạt, lật đổ. Người mạnh khoẻ thì sợ đau ốm.v.v... tất cả đều ở trong trạng thái mất bình an.

Có câu chuyện kể rằng: trong triều của một vua nọ có hai họa sĩ rất tài ba nhưng luôn ganh ghét đố kỵ nhau. Một hôm nhà vua phán: “Ta muốn phán quyết một lần dứt khoát ai trong hai ngươi là người giỏi nhất. Vậy hai ngươi hãy vẽ mỗi người một bức tranh theo cùng một đề tài, đó là bình an”.

Hai họa sĩ đồng ý. Một tuần sau họ trở lại, mỗi người mang theo bức vẽ của mình. Bức họa của người thứ nhất vẽ một khung cảnh thơ mộng: những ngọn đồi nhấp nhô bao quanh một cái hồ rộng với mặt nước phẳng lì không một gợn sóng. Toàn cảnh gợi lên một cảm giác thanh thản, thoải mái. Sau khi xem xong, nhà vua nói: “Bức họa này rất đẹp, nhưng trẫm chưa hài lòng.” Bức họa của người thứ hai vẽ một thác nước. Hình ảnh rất sinh động đến nỗi nhìn nó người ta như nghe được tiếng nước đổ ầm ầm xuống vực thẳm. Nhà vua nói: “Đây đâu phải là một cảnh bình an”. Họa sĩ thứ hai bình tĩnh đáp: “Xin bệ hạ nhìn kỹ hơn một chút nữa xem”. Nhà vua nhìn kỹ và khám phá một chi tiết mà ông chưa chú ý: Trong một nhành cây nép mình sau dòng thác lũ, có một tổ chim. Trong tổ, chim mẹ đang ấp trứng, đôi mắt nửa nhắm nửa mở. Chim mẹ đang bình thản chờ các con mình nở ra. Nhà vua nói: “Ta rất thích bức tranh này. Nó đã chuyển tải được một ý tưởng độc đáo về bình an, đó là vẫn có thể sống bình an ngay giữa những xáo trộn của cuộc đời”. Và nhà vua đã trao giải nhất cho tác giả bức hoạ này.

Bình an không phải giống như yên ổn, vì yên ổn là ở bên ngoài còn bình an thì ở bên trong.

Bình an là tình trạng của một tâm hồn đang có tương quan tốt với Thiên Chúa và với tha nhân. Thành tố quan trọng của bình an là sự công chính. Bởi thế, không có bình an cho kẻ dữ.

Bình an là kết quả của lòng trông cậy vào Chúa và khi ước muốn làm đẹp lòng Chúa là điều quan trọng bậc nhất trong đời. Đây là điều mà ta có thể có ngay giữa những xáo trộn, xung đột và những vấn đề rắc rối chưa giải quyết được.

Chỉ có Bình An của Chúa mới làm cho chúng ta được hạnh phúc. Bởi vì bình an là thông hiệp với Thiên Chúa. Chúa Giêsu đang hiệp thông mật thiết với Thiên Chúa nên Ngài vẫn có thể nói về bình an ngay cả khi kẻ thù của Ngài đã đến gần và sắp giết chết Ngài.

"Bình an cho các con". Thế giới như đang sống trên một lò lửa. Chiến tranh, khủng bố, thiên tai, động đất… Thế gian chưa có bình an. Cho nên sự Bình An của Chúa Giêsu vẫn luôn có giá trị đích thực cho nhân loại, cho những tâm hồn khắc khoải tìm kiếm bình an trong cuộc sống.

2. Hoa quả của Bình An.

Có nhân thì có quả. Có tranh chấp thì sinh ra hận thù, có ghét ghen thì sinh ra mưu mô thủ đoạn. Đó chính là chuyện nhân quả mà hằng ngày chúng ta đều thấy và biết. Việc lành cũng như việc xấu, mọi thứ đều có nhân quả của nó.

Hoa quả của Bình An là: yêu thương, tha thứ, bao dung, quảng đại, khiêm tốn, nhẫn nại, nhịn nhục...

Khi trong tâm hồn có sự bình an của Chúa Giêsu Phục Sinh, thì chúng biết thông cảm với người làm ta bực mình, dễ dàng cảm thông với những người không yêu mến, sẽ khiêm tốn hơn trong lời nói trong cử chỉ thái độ của mình... Hoa quả của bình an chính là tình yêu của Chúa Kitô thúc bách chúng ta làm việc thiện, thúc bách chúng ta vì anh em mà phục vụ như Chúa Kitô đã phục vụ, như các thánh Tông Đồ đã phục vụ Giáo Hội.

Hoa qủa bình an thể hiện bằng tiếng cười, niềm vui, hạnh phúc trong gia đình, an hoà thư thái trong tâm hồn.

Hoa quả bình an cũng chính là sự thật. Ta cảm thấy bình an khi mình sống ngay thẳng, sống theo sự thật.

Con người ta ai cũng muốn có bình an trong tâm hồn, nên luôn cầu chúc cho nhau được bình an. Nhưng sẽ không có bình an thật, nếu tâm hồn không có tinh thần Phục Sinh của Chúa Kitô, tinh thần đổi mới con người cũ trở nên con người mới sống theo hướng dẫn của Thánh Thần.

Con người ta ai cũng cần sự bình an, có khi còn cần hơn cả cơm ăn áo mặc nữa. Chúa luôn muốn ban bình an cho chúng ta. Giáo hội cũng mong muốn như vậy. Cho nên mỗi khi tham dự thánh lễ, linh mục thay mặt Chúa và Giáo hội cầu chúc: “Bình an của Chúa ở cùng anh chị em”, rồi linh mục nói với chúng ta: “Anh chị em hãy chúc bình an cho nhau”. Có bình an của Chúa ở nơi mình, chúng ta mới có bình an để chia sẻ cho nhau.

Bình an là một hồng ân Chúa ban và cũng là một trách nhiệm. Không phải chúng ta chỉ cầu khẩn và tìm kiếm bình an cho mình mà còn phải là “khí cụ bình an của Chúa”, góp phần tạo nên bình an cho mọi người và cho toàn xã hội.

Ước gì cuộc đời của tôi của bạn, trong mọi nơi mọi lúc, nhất là lúc cam go sợ hãi thử thách luôn nghe được lời chúc bình an của Chúa Phục Sinh: Bình an cho anh em.

15.Phúc cho ai lắng nghe và giữ lời Chúa--Lm Giuse Nguyễn Hữu An
Tháng Năm về, một tháng trong năm với tên gọi thật thơ mộng, thật tươi vui: Tháng Hoa. Mỗi độ tháng Hoa, các Nhà thờ rộn rã mùa dâng hoa kính Đức Mẹ. Phụng vụ Mùa Hoa tưng bừng nhộn nhịp với nhiều thể loại phong phú Rước hoa và Dâng hoa tuỳ mỗi tập quán mỗi đặc trưng văn hoá địa phương.

Nói tới hoa là nghĩ về một kỳ công của Thiên Chúa. Hoa muôn màu muôn sắc, hoa tươi xinh, hoa thơm ngào ngạt. Hoa tô thắm vũ trụ nên xinh tươi. Hoa mời gọi ong bướm đến hút mật. Hoa khoe sắc thắm, nhoẻn cười với con người. Lời của hoa thật diệu huyền giữa thiên nhiên. Hoa hòa vào lòng người dâng lời cảm tạ Thiên Chúa.

Hoa đã trở thành một người bạn thật thân thiết với con người. Khi vui người ta tặng hoa để chúc mừng nhau. Khi buồn người ta cũng trao gởi lẵng hoa như trao gởi tấm lòng đồng cảm thân thương. Hoa khích lệ lòng người. Hoa hướng con người nhớ tới Đấng tạo hoá đã xoay vần vũ trụ bốn mùa xinh tươi. Hoa mơn man lòng người đau khổ. Hoa khích lệ những ai thất bại. Hoa chúc mừng những ai chiến thắng. Hoa ca vang kỳ công kiệt tác của Thiên Chúa. Đôi khi chỉ một cánh hoa đủ trào dâng lòng mến của Thánh Têrêxa Hài Đồng. Nhiều lần một dàn hoa làm tâm hồn Thánh Phanxicô ngây ngất tình Chúa.

Lắng nghe tiếng nói huyền diệu của hoa, Thánh Bênađô biết được tâm trạng của hoa. Chẳng hạn, Hoa Hồng giàu lòng yêu mến. Hoa Huệ biểu tượng đức Khiết trinh, Hoa Tím là duyên đức đoan trang khiêm tốn. Thánh nhân ca ngợi các nhân đức Đức Mẹ qua ý nghĩa các loài hoa. Hoa Hồng đức mến, Hoa Huệ đức Khiết trinh, Hoa Tím đức Khiêm nhường. Đức Mẹ là Hoa Huệ khiết trinh. Đức Mẹ là Hoa Hồng yêu mến. Hương thanh khiết và tình yêu của Mẹ đã làm cho mùa xuân trần gian được hồi sinh. Ơn cứu độ được ban tặng cho trần đời nhờ hoa lòng của Mẹ hằng đẹp lòng Thiên Chúa.

Sứ Thần Gabriel đã cung kính thưa với Mẹ rằng: "Mừng vui lên, hỡi Đấng đầy ơn phước, Thiên Chúa ở cùng bà!" (Lc 1,28). "Đấng đầy ơn phước" là tên gọi đẹp nhất của Mẹ Maria, tên gọi mà Thiên Chúa đã ban cho Đức Mẹ, để chỉ cho biết rằng từ muôn thuở và cho đến muôn đời, Đức Mẹ là Đấng được yêu thương, được Thiên Chúa tuyển chọn, được tiền định để đón nhận hồng ân quý giá nhất, là Chúa Giêsu, "tình thương nhập thể của Thiên Chúa" (x.Thông điệp Thiên Chúa là tình yêu, số 12).

Chúa nhật thứ hai trong Tháng Năm là ngày Hiền Mẫu, Mother's Day. Xin chúc mừng và tôn vinh tất cả những người nữ nhận từ Thiên Chúa thiên chức làm Mẹ. Xin tạ ơn Chúa. Xin tạ ơn người Mẹ của chúng con, dù sống hoặc đã về bên Chúa.

Mỗi người chúng ta đều có một người mẹ. Tình yêu của mẹ bao la hơn biển cả, cao vời hơn các tầng mây, vĩ đại hơn những rặng núi, mênh mông vô tận. Một văn sĩ đã viết: "Thơ viết về mẹ bao giờ cũng đạt, nhạc viết về mẹ bao giờ cũng hay, tranh vẽ về mẹ bao giờ cũng tuyệt, cũng đẹp. Bởi hiển nhiên, mẹ là nguồn xúc cảm sâu xa, vô tận và nhiệm mầu nhất trong mọi nguồn sáng tạo". Tình yêu của mẹ là một nguồn cảm hứng không bao giờ cạn vơi, là những tư tưởng vô tận của các thi sĩ, văn sĩ và nghệ sĩ.

Tình mẹ thương con bao la như trời như biển. Nói đến tình mẹ, không có thứ tình cảm nào đậm đà và cao quý như tình mẹ thương con. Đã có biết bao nhiêu vần thơ, bao nhiêu câu hò, điệu hát ca tụng tình mẹ thiêng liêng.

"Lòng mẹ bao la như biển Thái Bình dạt dào,

Tình mẹ tha thiết như dòng suối hiền ngọt ngào."

Với giai điệu mượt mà, sâu lắng, với ca từ thấm đẫm chất thơ gợi lên những hình ảnh bình dị, gần gũi, nhạc sĩ Y Vân đã viết thành một bài hát tuyệt vời ca ngợi tình mẹ. Thương con mẹ nào có quản nắng mưa, có ngại gì sớm khuya vất vả... Tình mẹ mãi mãi là như thế, dẫu ở thời nào, dẫu thuộc nền văn minh văn hóa nào và dẫu ở đâu tình mẹ cũng vẫn cứ mãi mãi là như thế.

Ngôi Lời Thiên Chúa đã nhập thể làm người cũng nhận lấy tình mẫu tử trân quý ấy. Mẹ Maria đã đảm nhận trọn vẹn thiên chức cao quý nhưng không thiếu khổ đau như bất cứ người mẹ nào trong nhân loại. Trong lòng tin, người mẹ ấy đã âm thầm vâng phục, đón nhận, lắng nghe và bước theo Con của mình suốt hành trình cứu độ.

Trang Tin Mừng hôm nay, Chúa Giêsu dạy rằng: "Ai yêu mến Thầy, thì sẽ giữ lời Thầy. Cha Thầy sẽ yêu mến người ấy. Cha Thầy và Thầy sẽ đến và ở lại với người ấy". Yêu mến và giữ lời Đức Kitô, mỗi tín hữu được đón nhận sự sống của Ba Ngôi Thiên Chúa. Trong tình yêu này, thiên đàng chớm nở. Thiên đàng thật gần, ngay trong lòng mỗi người. Thiên đàng ấm áp nơi tâm hồn những ai biết yêu Đức Kitô và tuân giữ lời Ngài. Các bí tích đều nhằm mục đích làm cho tình yêu giữa mỗi người với Đức Kitô được lớn lên.

Đức Maria là mẫu gương yêu mến và tuân giữ Lời Chúa. Tin Mừng (Lc 11,27-28) kể câu chuyện: Một người phụ nữ nghe Chúa giảng dạy, bà nghe say mê. Với tính nhạy cảm của một người nữ, bà cảm nghiệm niềm hạnh phúc của người mẹ có một người con tuyệt vời như Chúa Giêsu. Giữa đám đông, bà bày tỏ niềm thán phục Chúa, bà tán dương Mẹ Maria là "người mẹ có phúc đã cưu mang Thầy và vú đã cho Thầy bú mớm". Đáp lại lời tán dương ấy, Chúa nói đến hạnh phúc cho ai nghe và giữ lời Thiên Chúa: "Bà ơi, đúng hơn phải nói rằng: phúc thay kẻ biết lắng nghe và giữ lời Thiên Chúa".

Người phụ nữ kia đã tán dương Đức Mẹ là có phúc vì Mẹ có các vinh dự làm Mẹ của một người con tài ba kỳ diệu là Chúa Giêsu. Đây mới chỉ là vinh dự trần gian. Mẹ Maria còn có một hạnh phúc lớn lao hơn là "nghe và giữ lời Thiên Chúa". Khi biết lắng nghe, đón nhận và giữ lời Thiên Chúa thì thiên đàng đã ở trong người ấy, vinh phúc đời đời ở trong người ấy, Thiên Chúa ở trong người ấy. Đó là vinh phúc của Mẹ Maria.

Bởi đó, Chúa nói với người phụ nữ kia, không chỉ dừng lại nơi lời khen Mẹ Maria có phúc vì đã có vinh dự cứu mang, nuôi dưỡng một người con tuyệt vời, mà cần hướng đến ý nghĩa cao cả hơn. Phúc thay cho ai biết lắng nghe và giữ lời Thiên Chúa. Đó là hạnh phúc cao quý nhất của Đức Mẹ.

Đức Mẹ nghe và giữ lời Thiên Chúa như thế nào? Đây là bài học chúng ta cần học hỏi trong Năm Tin.

Vào ngày Thiên Thần Gabriel đến truyền tin, Đức Mẹ đã đứng trước một mầu nhiệm lạ lùng. Mẹ cưu mang con Thiên Chúa. Mẹ suy nghĩ và trao đổi. Mẹ biết đây là thánh ý của Thiên Chúa. Mẹ đáp trả lời "Xin Vâng". Mẹ đã lắng nghe, Mẹ đã tin và chấp nhận dấn thân. Ngôi Hai Thiên Chúa nhập thể trong lòng Mẹ. Chính Ngài là Ngôi Lời Thiên Chúa đang đến với nhân loại và trở nên Emmanuel.Lời đó đang đến gõ cửa lòng ta hằng ngày. Chúa mong ta cưu mang Ngài, sống với Ngài, thực hiện lời Ngài. Hôm nay Chúa Phục Sinh đang ở với chúng ta qua Bí Tích Thánh Thể, qua Lời Ngài mà Giáo Hội đang rao giảng.

Ngày kia, Chúa đang rao giảng, có người tin cho Chúa biết: "có Mẹ và anh em Thầy đang chờ gặp Thầy". Chúa nói ngay với họ: "ai là Mẹ tôi, ai là anh em tôi? Ai nghe và giữ lời Thiên Chúa, người đó là anh chị em tôi, là mẹ tôi". Lại một lần nữa Chúa nói lời với hai ý nghĩa. Ý nghĩa thứ nhất là tán dương Mẹ Maria là người diễm phúc luôn lắng nghe và tuân giữ lời Thiên Chúa. Ý nghĩa thứ hai, Chúa mời gọi mọi người trở nên những người thân thuộc của gia đình mới, gia đình thiêng liêng của Ngài, bằng cách lắng nghe, tin yêu và tuân giữ lời Thiên Chúa.

Có lẽ, chúng ta đã nghe Lời Chúa nhiều, ít là hằng tuần, nhưng đã thực hiện lời Chúa thế nào? Chúng ta có thói quen đọc Lời Chúa trong gia đình không?

Mục tiêu hàng đầu của đời sống tín hữu là biết lắng nghe và giữ Lời Thiên Chúa, là đem Lời Chúa ra thực hành hằng ngày. Trước mọi biến cố xảy đến, Đức Mẹ đều coi là thánh ý Thiên Chúa nên Mẹ ghi nhớ và suy đi nghĩ lại trong lòng để xin vâng thánh ý Chúa.

Tại tiệc cưới Cana, Mẹ xin Chúa giúp đỡ gia đình tân hôn đang hết rượu. Với một lời đề nghị tế nhị: "Con ơi, họ hết rượu rồi". Chúa đáp lại như một lời từ chối: "Thưa bà, việc đó liên can chi đến bà và tôi? Giờ của tôi chưa đến". Mẹ tin nơi tình thương của Chúa. Chúa sẽ làm những gì tốt nhất, đẹp nhất cho con người. Vì thế, Mẹ dặn dò người giúp vịêc: "Người bảo gì, các anh cứ việc làm theo".

Trong cuộc thương khó của Chúa, Mẹ đau đớn và luôn vâng theo thánh ý Chúa. Dưới chân thập giá, Mẹ hịêp thông trọn vẹn trong lễ tế hiến dâng với con.

Hỡi các bà mẹ, cuộc đời của người mẹ nào cũng đầy cam go, truân chuyên vất vả. Gian truân hơn bất cứ bà mẹ nào trong chúng ta đây. Nhưng Mẹ Maria đã vượt qua tất cả trong niềm tin yêu vào Lời Chúa. Mẹ luôn tín thác vào tình thương của Ngài. Hãy vững tin vào Lời Chúa. Hãy để Lời Chúa hướng dẫn cuộc sống sẽ tốt đẹp mỗi ngày.

Mỗi dịp tháng Năm về, mỗi lần thưởng thức hương hoa, ta hãy hướng theo nhân Đức Mẹ, xin Mẹ tỏa hương thiên đàng của người, ấp ủ ta biến thành những đóa hoa tươi thắm của Mẹ. Mỗi khi hái hoa dâng tiến Đức Mẹ, ta hãy mượn hương sắc và lời huyền diệu của hoa để ca tụng và khấn xin. Dâng Hoa Hồng, xin Mẹ cho ta được yêu mến Mẹ nhiều hơn. Dâng Hoa Huệ, ta ca ngợi đức khiết trinh của Mẹ. Xin Mẹ lấy hương huệ trinh nguyên của hồn Mẹ ướp hồn ta nên trong trắng.

Những ngày Tháng Năm này, nếu thiếu những bông hoa hữu hình, ta hãy hái hoa hồng thiêng là kinh Mân Côi để dâng lên Mẹ. Nhưng thế nào đi nữa, nguyện ước trái tim chúng ta hãy biến thành một dàn hoa kết đủ những hương hoa thơm ngát nhân đức dâng kính Mẹ.

Trong cuộc hành hương nội tâm hay lữ hành nơi dương thế, chúng ta tin có Mẹ Maria luôn cầu bầu che chở, yêu thương nâng đỡ. Chúng ta nhìn lên Mẹ như mẫu gương của bậc thầy lắng nghe và tuân giữ Lời Chúa. Hãy luôn vững lòng cậy trông với niềm tin yêu. Đức Mẹ hằng yêu thương phù trợ mỗi người chúng ta.

Xin dâng lên Mẹ những sắc hoa của cuộc đời chúng con. Ước gì cuộc đời chúng con luôn là những bông hoa tươi thắm dâng tặng cho đời xuân sắc, lan toả hương thơm bác ái trong môi trường sống của chúng con. Amen.

16.Hòa bình là hồng ân của Thiên Chúa--Lm. Phanxicô Xaviê Lê Văn Nhạc
Tin Mừng Ga 14: 23-29 Bình an của thập giá là bình an mà Chúa Giêsu đã phải trả bằng chính giá máu của Ngài để giao hòa nhân loại với Ngài và nhân loại với nhau.

Hồi tháng 2 năm 1991 sau khi quân đội đồng minh đổ bộ lên Kouweit được ba ngày, thế giới đã thở phào một cái nhẹ nhõm vì mối đe dọa một cuộc chiến tranh nguyên tử đã qua đi và nền hòa bình đã trở lại với thế giới. Hiểu như thế thì hòa bình hay bình an là không có chiến tranh. Nhưng không có chiến tranh chưa chắc là đã có hòa bình.

Sau thế chiến thứ hai, thế giới đã chia làm hai phe: Tư bản và Cộng sản. Trong khoảng từ năm 1945 đến năm 1990 không có một cuộc chiến tranh nào với tính cách qui mô giữa hai phe Tư bản và Cộng sản. Vậy mà thế giới vẫn nơm nớp lo sợ một cuộc chiến tranh. Lý do là vì cả hai phe đều chạy đua vũ trang. Tình trạng đó được gọi bằng một cái tên là "chiến tranh lạnh". Năm 1989 sau khi khối Cộng sản sụp đổ ở Đông Âu, người ta đã họp nhau lại tại Paris để tuyên bố cuộc chiến tranh lạnh đã kết thúc.

Như vậy trong gần một nửa thế kỷ, tuy thế giới không có một cuộc chiến tranh nào trên qui mô lớn, nhưng con người vẫn phải sống trong sự bất an. Mới đây (ngày 8/5/1995) thế giới vừa mừng kỷ niệm 50 năm chiến thắng Phát-xít Đức và kết thúc thế chiến thứ hai. Nhưng người ta lại lo sợ trước chủ nghĩa "Phát-xít mới", trước nạn khủng bố lan tràn và các cuộc xung đột chủng tộc… Người ta nói nhân loại đang sống trong một nền "hòa bình nóng!"

Thưa anh chị em,

Chúa Giêsu đã để lại cho chúng ta hòa bình của Ngài từ gần hai ngàn năm nay rồi. Vậy mà tại sao loài người lại không được sống trong hòa bình?

"Thầy để lại bình an cho anh em, Thầy ban bình an của Thầy cho anh em. Thầy ban cho anh em không như thế gian ban tặng".

Chúa Giêsu đã coi sự bình an như một ân huệ Ngài để lại. Ngài ban bình an của Ngài cho các môn đệ. Ngài không cầu chúc, nhưng Ngài để lại, Ngài ban tặng bình an. Ngài không ban như người ta, vì người ta không thể ban cho ai bình an, chỉ có thể cầu chúc, ước muốn được bình an mà thôi.

Vậy thì bình an của Chúa Kitô là gì? Bình an của Chúa Kitô không phải là tình trạng yên ổn không bị khuấy động vì chống đối, vì chiến tranh. Bình an ở đây là sự sống trọn đầy, là ân huệ gồm tóm mọi ân huệ của thời đại Chúa Cứu Thế. Chính vì vậy, bình an nầy gắn liền với Chúa Giêsu và sự hiện diện của Ngài: "Chúa Giêsu là sự bình an của chúng ta" (Ep 2,14). Sự bình an mà Chúa Giêsu trối lại hay là chia sẻ cho chúng ta là sự bình an mà Ngài thực sự có được và nghiệm thấy một cách trọn vẹn, khi Ngài đã chiến thắng được sợ hãi đứng trước tử thần. Đó là sự bình an của Đấng đã yêu thương đến cùng (Ga 13,1), nghĩa là đến chấp nhận hy sinh mạng sống cho những kẻ mình yêu thương (Ga 15,13). Nói khác đi, đó là bình an mà Chúa Giêsu đã có thể chia sẻ cho chúng ta, sau khi Ngài đã thực sự chia sẻ chính thân mình Ngài cho chúng ta.

Thánh Phaolô gọi sự bình an đó là "bình an của thập giá" "Nhờ máu Chúa Giêsu đổ ra trên thập giá, Thiên Chúa đã đem lại bình an cho mọi loài dưới đất và muôn vật trên trời" (Cl 1,24). Bình an của thập giá là bình an mà Chúa Giêsu đã phải trả bằng chính giá máu của Ngài để giao hòa nhân loại với Ngài và nhân loại với nhau. Nói khác đi, Chúa Giêsu đã lấy cái chết của mình để xóa bỏ tội lỗi nhân loại, đã hy sinh thân mình để phá đổ bức tường ngăn cách là sự thù ghét, khiến cho nhân loại từ nay được hòa giải với Thiên Chúa và trở nên một thân thể duy nhất. Bởi vậy mà Chúa Giêsu xứng đáng được gọi là "Bình an của chúng ta" (Ep 2,14-18).

Anh chị em thân mến,

Bình an là khát vọng của mọi người, ở mọi nơi và mọi thời. Nhưng thực ra có lẽ chưa bao giờ nhân loại được hưởng một sự bình an toàn diện và phổ quát. Người ta có thể dập tắt ngọn lửa chiến tranh, có thể áp đặt một nền hòa bình, ký kết những bản hòa ước. Nhưng không ai có thể hiểu thấu lòng người, để có thể đem lại được sự bình an vào tận cõi sâu thẳm bên trong; bởi vì ít có ai có được bình an thực sự trong lòng mình để có thể chia sẻ cho người khác. Con người chỉ có thể xây dựng hòa bình bên ngoài, nhưng không có khả năng chế ngự, điều khiển được những đợt sóng ngầm vẫn luôn sôi sục ở đáy lòng mỗi cá nhân. Bởi vậy, hòa bình trên thế giới từ trước đến nay thường chỉ là những nền hòa bình giả tạo, mong manh, tạm thời. Dĩ nhiên có được hòa bình đó vẫn còn tốt hơn là không.

Người kitô hữu phải là những người tác tạo hòa bình, những người làm chứng cho hòa bình trong thế giới bằng cuộc sống không bạo lực và bằng cuộc sống đồng tâm nhất trí với nhau. Điều kiện cần thiết là phải tin vào Chúa Giêsu Kitô là Ngôi Lời được Cha sai đến loan báo Tin Mừng bình an (Cv 10,36), phải tuân giữ Lời Chúa, và như vậy là để có sự hiện diện của Chúa trong chúng ta, như Chúa Giêsu đã tỏ cho biết: "Ai yêu mến Thầy thì sẽ giữ Lời Thầy, Cha Thầy sẽ yêu mến người ấy. Cha Thầy và Thầy sẽ đến ở trong người ấy" (Ga 14,23). Có Chúa hiện diện trong chúng ta, chúng ta sẽ không còn lý do nào để phải lo lắng, sợ hãi. Sợ hãi, lo lắng, chứng tỏ một tâm hồn xao xuyến, chưa được ổn định, chưa được bình an.

Muốn xây dựng hòa bình của Chúa, chúng ta phải là những con người hiếu hòa và đã được ổn định trong tâm hồn. Nếu chúng ta còn để cho dục vọng làm chủ mình; nếu chúng ta còn khư khư bám vào sự sống mình một cách ích kỷ; nếu chúng ta còn có những của cải sợ mất mát, hoặc phải bảo vệ để hưởng thụ; nếu chúng ta còn muốn thống trị kẻ khác, làm sao chúng ta có thể gieo rắc bình an và xây dựng được hòa bình? Muốn xây dựng hòa bình ở bình diện lớn, thiết tưởng phải bắt đầu từ những bình diện nhỏ, vừa tầm tay, từ cá nhân, trong gia đình, đến xã hội, đất nước và toàn thế giới.

Cuối cùng, phải chăng Thánh lễ là một lời cổ vũ mạnh mẽ cho hòa bình và là một sự thúc đẩy người kitô hữu dấn thân xây dựng hòa bình? Khi chúng ta chia sẻ bình an của Chúa cho anh chị em, chúng ta cam kết sống an hòa, yêu thương và dấn thân đem lại hòa bình, an vui, hạnh phúc cho mọi người. Và lời chúc cuối lễ của vị chủ tế là chúc anh chị em ra đi với sự bình an của Chúa Kitô, ra đi mang theo một cái gì đó của Nước Thiên Chúa cho mình và cho kẻ khác.

17.Thầy ban cho anh em bình an của Thầy--Lm. Alfonso
Tin Mừng Ga 14: 23-29: Bình an là tình trạng của một tâm hồn đang có tương quan tốt với Thiên Chúa và với tha nhân. Bình an có Chúa ở cùng không phải là sự bình an nhàn nhã theo thế gian, nhưng là sự bình an dám đương đầu với song gió, khó khăn, vất vả giữa xã hội hôm nay.

Suy niệm:

Với “diễn từ ly biệt” khi sắp sửa chia tay các môn đệ, Chúa Giêsu đã cố gắng hết sức trấn an các môn đệ Người. Chắc hẳn lúc này đây các ông đang trong tình trạng rất bồn chồn và sợ hãi khi sắp phải chia tay Thầy. Người ta thường bảo “Xa mặt cách lòng”, nếu tình cảm con người ta dành cho nhau không đủ lớn thì rồi sẽ phai dần theo thời gian. Do vậy, Chúa Giêsu muốn các môn đệ và tất cả Kitô hữu chúng ta yêu mến Chúa không phải chỉ bằng lời đầu môi chót lưỡi nhưng bằng những hành động cụ thể, những quyết tâm thực hiện thấy rõ: đó là tuân giữ những lời Chúa: "Ai yêu mến Thầy, sẽ giữ lời Thầy”.

Lời Chúa dạy là gì? Thưa “điều Thầy truyền dạy các con là: ‘Hãy yêu thương nhau’.” Và kết quả của người thực thi giới răn Chúa sẽ được Chúa Cha yêu mến người ấy, và “Chúng Ta sẽ đến và ở trong người ấy”. Khi Chúa chia tay các môn đệ mà các ông vẫn sống giữ luật Chúa như Người đang ở bên thì rồi người đó sẽ được cả Ba Ngôi Thiên Chúa không chỉ hiện diện, đồng hành và là ở trong con người đó. Chính khi ấy, Ðấng Phù Trợ là Thánh Thần mà Chúa Cha sẽ sai đến nhân danh Chúa Giêsu, Đấng ấy sẽ chỉ dạy các môn đệ thấu rõ mọi điều, sẽ nhắc nhở cho họ về tất cả những gì mà Chúa Giêsu đã chia sẻ với họ trong tương quan thầy trò.

Khoảng cách về thể lý không còn ý nghĩa khi trong lòng chúng ta luôn có người mình yêu. Đó là cảm nghiệm về một sự hiện diện thân mật khi trong lòng người đó luôn có đầy hình ảnh của người kia. Đó là một sự hiện diện đong đầy. Vâng, sau biến cố Phục Sinh, Chúa Giêsu đã trở nên con người của mọi thời đại. Để rồi Người ra đi rồi trở lại với môn đệ của Người bằng nhiều hình thức:

- Bằng sự Phục Sinh để chuẩn bị cho ta sự sống đời đời.

- Bằng cách đến trong ngày phán xét để đem ta vào vào trong sự sống đời đời.

- Bằng phép Thánh Thể mỗi lần ta tham dự Thánh lễ và rước Chúa vào lòng để nuôi dưỡng sự sống phần hồn thiêng liêng.

- Bằng ơn thánh để tăng trưởng sức sống thiêng liêng cho tâm hồn ta.

- Bằng cách can thiệp vào dòng lịch sử cuộc đời ta để tỏ bày sự quan phòng của Chúa khi ta đặt niềm tin tưởng ở nơi Chúa là Đấng cùng đích cuộc đời mình.

Chính khi có Chúa ở cùng, con người ta luôn có được sự bình an, ngay cả trước những lựa chọn mang tính quyết định. Bình an không phải giống như yên ổn, vì yên ổn là ở bên ngoài còn bình an thì ở bên trong. Bình an là tình trạng của một tâm hồn đang có tương quan tốt với Thiên Chúa và với tha nhân. Bình an có Chúa ở cùng không phải là sự bình an nhàn nhã theo thế gian, nhưng là sự bình an dám đương đầu với song gió, khó khăn, vất vả giữa xã hội hôm nay.

Vào tháng 4 năm 2014, vụ tai nạn chìm phà Sewol, Hàn Quốc làm chấn động không chỉ đất nước xứ Kim Chi mà cả thế giới. Thế nhưng, bên cạnh đó cũng có những con người sống mãi với thời gian.

Jung Chawoong, nam sinh 17 tuổi tạo nên một câu chuyện cảm động đầy nước mắt khi đóng vai anh hùng, xả thân cứu bạn bè trong tai nạn chìm phà. Theo lời kể của những người thoát nạn, vào lúc nguy ngập, Jung Chawoong đã đưa áo phao của mình cho một người bạn đang chìm, thậm chí chàng trai trẻ còn lao xuống nước để cứu những người khác. Tại nạn chìm phà xảy ra hôm 17/4, đúng vào ngày sinh nhật của Jung Chawoong. Hành động cao đẹp, hi sinh vì người khác của chàng trai trẻ được lan truyền trên mạng Hàn Quốc. Cộng đồng vô cùng tiếc thương và cảm phục chàng nam sinh anh hùng.

Khá nhiều trong số những người sống sót trên chuyến phà Sewol năm 2014 sẽ luôn nhớ về một vị thần hộ mệnh trong hình hài nhỏ bé của một cô gái tên Park Jiyoung. Jiyoung là một trong số các thuyền viên trên chuyến phà Sewol, là người đã không màng đến tính mạng của chính bản thân mình mà chỉ cố gắng để giúp càng nhiều hành khách có thể thoát ra khỏi chiếc phà càng tốt. Giữa lúc mọi người hoảng loạn, Nữ thuyền viên 22 tuổi bình tĩnh và dung cảm hướng dẫn các hành khách mặc áo phao và đi đến cửa thoát hiểm. Ngay cả khi nước đã ngập ngang ngực cô vẫn kiên quyết ở lại cứu cho bằng được càng nhiều người càng tốt. Theo lời kể của một người thoát chết, Park Ji Young nói rằng cô sẽ chỉ mặc áo phao khi các hành khách có đủ áo mặc. Cô tuyên bố mình và thủ thủy đoàn sẽ là những người cuối cùng rời khỏi tàu. Nhưng rồi cô chỉ không thực hiện được lời hứa cuối cùng với các hành khách cuối cùng, đó là cùng thoát ra ngoài với họ. Park Jiyoung, biểu tượng đẹp cho sự kiện thảm khốc năm 2014 ấy.

Nhìn lại cuộc sống thường ngày, chúng ta sẽ thấy có một điều hết sức tự nhiên, đó là khi yêu mến ai, chúng ta thường cố gắng bằng mọi cách để làm vui lòng người đó, cố gắng nhanh chóng thực hiện mọi ý muốn của người đó và điều đó luôn làm cho mình cảm thấy bình an. Cũng thế, càng yêu mến Thiên Chúa nhiều, chúng ta sẽ càng cố gắng thực hiện những điều Ngài muốn, càng cố gắng tuân giữ giới răn Ngài dạy, đó là “yêu thương” anh chị em mình, yêu thương cả những người đang làm khổ mình, đang có cái nhìn phiếm diện về mình, khi ấy chúng ta mới có bình an của Chúa cách thực sự. Hiểu được như vậy, thì chúng ta cũng hiểu được việc yêu thương không loại trừ là chúng ta sống trong bình an Chúa ban tặng khi chúng ta biết tuân giữ lời Chúa. Đó chính là dấu chỉ rõ ràng nhất để chúng ta chứng tỏ lòng yêu mến của mình đối với Thiên Chúa.

Lạy Chúa, xin cho con bình an và tin tưởng khi thực thi giới răn Yêu thương mà Chúa dạy để đón nhận tất cả anh chị em con, vì chính Chúa đã yêu thương con trước, ngay khi con còn là một tội nhân, là người chưa đáng yêu trước mặt Chúa. Amen.

18.Bình an Chúa ban--Lm Phêrô Bùi Quang Tuấn
Vào trung tuần tháng 11 năm 2000, đang khi các giám mục Công giáo Hoa kỳ tiến hành cuộc họp thường niên, một số các nhà hoạt động bênh vực “quyền lợi” của những người đồng tính luyến ái đã đột nhập và phản đối ồn ào, chống lại những giáo huấn của giáo hội liên quan đến “quyền lợi” của những người đồng tính.

Được biết trong cuộc họp lần này, các giám mục Hoa kỳ đã đưa ra bản tuyên ngôn về hôn nhân, kêu gọi một sự tín trung hơn trong giao ước hôn nhân giữa nam và nữ. Bản tuyên ngôn xác định rõ ràng hôn phối là sự kết hiệp thánh thiện giữa một người đàn ông và một người đàn bà. Không thể chấp nhận chuyện những người cùng phái lấy nhau.

Đã có khoảng 200 người tụ tập biểu tình đòi giáo hội chấm dứt tình trạng “khủng bố tinh thần” chống lại những người đồng tính hay đổi phái. Sau đó có khoảng 100 người biểu tình bị bắt giữ vì đã có hành vi bạo động quá đáng. Một số người trong tổ chức “Dignity and Soul Force” cho rằng Giáo hội không đi đúng đường lối Phúc âm khi không mang lại an bình cho tâm hồn người ta, lại còn tạo nên bầu khí phân cách đối với người đồng tính.

Đức Cha Joseph A. Galante, Giám mục Phó của địa phận Dallas đã trả lời những người trong tổ chức Dignity and Soul Force rằng: “Phúc âm vẫn là Phúc âm. Trong đó luôn có thách đố, nhưng chắc chắn không có việc khơi mào bạo động hay thù hận đối với ai. Tuy nhiên có những người dùng Thánh kinh như để phục vụ cho mục đích riêng của mình chứ không phải để trung tín bước theo ý nghĩa xác thực của Tin Mừng.”

Hoa trái của Tin Mừng là bình an, thứ bình an do Thiên Chúa ban tặng chứ không phải đến từ thế gian. Có nhiều người lầm tưởng bình an là những cảm giác yên hàn, mọi chuyện xuôi đẹp, không có chông gai, chiến tranh, thập giá. Đây không phải là thứ bình an đích thực. Nó tuỳ thuộc vào ngoại cảnh. Nó không phải là thứ bình an mà Đức Giêsu đã hứa ban cho các môn đệ trong bữa tiệc ly. Bình an Chúa ban luôn có bóng hình thập giá.

Danh ngôn thế giới có câu “Nemo dat quod non habet” – Không ai cho kẻ khác điều mình không có. Vậy thì làm sao Đức Giêsu lại có thể có được an bình để trao ban cho các môn đệ khi mà trước mắt Ngài là những đau thương và ngăm đe của khổ hình thập giá, cùng với muôn sự ruồng bỏ dể duôi của bao người?

Có lẽ chỉ khi nhìn vào Đức Giêsu trong thời điểm đối diện với những gian nan thử thách, chiến đấu cam go, người ta mới thấy rõ hơn sự bình an sâu thẳm mà Ngài để lại cho các môn đệ như món gia bảo cuối đời. Đây là thứ bình an nội tại, một thứ bình an được kết tinh nhờ sự hiệp thông với Thiên Chúa Cha, thế nên, dù bóng cao thập giá có mịt mùng thì hồn Ngài vẫn là nguồn sáng cho nhân loại.

Một khi có được sự hiệp thông với Thiên Chúa thì dù gặp thành công hay thất bại, may mắn hay rủi ro, giàu có hay khó nghèo, chống đối hay ủng hộ, đều không làm người ta xao xuyến, nhát đảm, hoặc bất an. Còn khi bước sai lệch nẻo đường đến với Thiên Chúa thì dù muôn sự tưởng như thuận buồm xuôi gió hay an nhàn vô sự, tâm hồn vẫn mãi bất an cho đến khi tìm lại được ơn giao hoà.

“Ta để lại bình an cho các ngươi; Ta ban bình an cho các ngươi” (Ga 14:27a). Hẳn là Chúa Giêsu muốn nói đến sự bình an mà Ngài sẽ mang lại cho con người qua mầu nhiệm thập giá. Bởi vì bấy lâu nay, kể từ ngày Adong Eva sa ngã, nhân loại mãi sống trong tội, chạy theo những đam mê thế tục, để cho những tên giặc xác thịt khuấy động và làm bất an tâm hồn. Nay qua cuộc khổ nạn đau thương của Chúa Giêsu mà an bình được ban xuống cho nhân loại. Chiếc cầu giao hoà giữa trời cao với đất thấp được lập nên nhờ thập giá.

Biết bao bạo động, chiến tranh sảy ra đều phát xuất từ những dục tình xấu xa nơi tâm hồn người ta. Muốn dẹp chiến tranh bạo động trước hết phải học chế ngự những mầm mống nổi loạn của trí lòng. Muốn chế ngự được những mầm mống đó không thể không có sự trợ lực của hy sinh, khổ giá. Nhưng điều kỳ lạ mà Tin Mừng Đức Kitô mang cho con người lại là chính khi đón nhận khổ giá thì bình an và sự sống lại phát sinh dồi dào.

Những lời sau đây trích trong sách “Gương Chúa Giêsu” đáng để chúng ta suy gẫm giữa bao vinh nhục, thăng trầm của cuộc sống:

Đời hứa bình an cho những ai phụng sự đời. Nhưng thứ bình an nền tảng ở tiền tài, sắc dục, kiêu ngạo… đã đánh lừa những người theo đuổi nó, và nó đã tiêu tan đi như giấc mộng đẹp.

Trái lại, bình an thực nền tảng ở một lương tâm thanh thản. Nó hệ tại biết kìm hãm ước muốn, biết tự thoát, khiêm nhường, hơn là thoả mãn dục vọng, ăn trên ngồi trốc.

Lạy Chúa, xin ban cho chúng con thứ Bình an của Chúa, thứ bình an mà người đời không thể cho được, để chúng con được thư thả mà phụng thờ Chúa và được hạnh phúc an nghỉ trong Chúa cho đến muôn đời.

Thành tâm tuân giữ luật Chúa, bước theo Đức Kitô như Ngài đang “tiến đến với Cha” (Ga 14:28), dù bước tiến đó đầy chông gai, thử thách, và đau đớn xác thân, chắc một điều: an bình, niềm vui, và sự sống chính là phần thưởng cho những người môn đệ tín trung.

19.Quà tặng của Chúa--AM. Trần Bình An
Sau khi chiến tranh lạnh vừa kết thúc (1991), thế giới chưa kịp hưởng thái bình được bao lâu, thì sự kiện ngày 9/11/2001 trên đất Mỹ, đánh dấu thảm họa khủng bố bắt đầu lan tràn trên toàn cầu. Phập phồng mối lo sợ sự dữ không hề thuyên giảm, mà càng ngày càng dồn dập lan nhanh khắp nơi.

Mới đây, ngày 15/4/2013 xảy ra vụ khủng bố tại đích đến của cuộc thi marathon Boston, khiến dân chúng Hoa Kỳ càng thêm kinh hoàng. Trong khi đó, cả thế giới còn đang lo lắng chiến tranh hạt nhân, đe dọa châm ngòi bất cứ lúc nào từ Bắc Triều Tiên.

Như thế nền hòa bình, sự bình an của thế gian chỉ tạm bợ, bấp bênh và rất phù du. Còn sự bình an trong tâm hồn mỗi người cũng phù phiếm và bất định không kém.

Hôm nay qua Tin Mừng Thánh Gioan, Chúa Giêsu lại trao ban sự bình an. “Thầy để lại bình an cho anh em, Thầy ban cho anh em bình an của Thầy. Thầy ban cho anh em không theo kiểu thế gian. Anh em đừng xao xuyến cũng đừng sợ. hãi.” (Ga 14, 27)

Bất an

Ngay từ khi Adam và Eva phạm tội, con người bắt đầu nếm mùi sợ hãi, bất an. Cả hai hoảng sợ, trốn tránh, xấu hổ, khi Thiên Chúa tìm đến họ nâng đỡ, an ủi. Sự bất an kéo đến xâm chiếm con người, khi mối tương quan giữa Thiên Chúa với con người bị phá vỡ bởi tội lỗi. Thành ra con người mới cảm thấy bơ vơ, lạc lõng giữa môi trường dù quen hay lạ.

Hệ lụy tiếp theo, con người cảm thấy bất an với chính đồng loại, khi Thiên Chúa không còn hiện diện trong cuộc sống, không còn là nơi nương tựa. Sự tham lam, giận ghét, ghen tuông, thù hận, theo cái ác phát triển như như cỏ dại, như gai góc, như thú dữ xuất hiện ngay trong Vườn Địa Đàng, sau khi xảy ra tội nguyên tổ. Cain đã lạnh lùng giết chết Abel, em ruột. Các cuộc xung đột giết chóc phát sinh vô tận giữa các bộ lạc, sắc tộc và dân tộc, liên miên suốt chiều dài lịch sử nhân loại.

Trong thâm tâm mỗi người, sự lo lắng bất an luôn đi cùng suốt cuộc đời, từ khi chào đời đến khi xuôi tay, nhắm mắt. Con người luôn cảm thấy yếu đuối, bất lực trước phong ba, bão táp, nghịch cảnh.

Khi Chúa Cứu Thế Giáng Sinh, món quà đầu tiên Người gửi đến nhân loại chính là hai chữ bình an: “Bình an dưới thế cho người thiện tâm!” (Lc 2, 14)

Bình an

Chỉ con người thiện tâm, trở về với Nguồn Cội là Thiên Chúa, mới có thể đón nhận sự bình an, tặng phẩm Giáng Sinh cao quý. Sám hối trở lại, hàn gắn mối giao hòa với Thiên Chúa, từ bỏ tội lỗi, những đam mê xác thịt, những quyến rũ trần thế, những tham, sân, si, nghi, mạn, ác, con người mới xứng đáng đón nhận hồng ân bình an.

Điều tiên quyết khi đã trở về theo Chúa, chính là bỏ mình, bỏ tất cả con người cũ tội lỗi, chấp nhận đau thương, thánh giá Chúa gửi đến, sống theo Lời Hằng Sống, chấp nhận lội ngược dòng, chịu sỉ nhục và bắt bớ, nhục hình.

Ông Phêrô đã toan trốn khỏi thành Roma để khỏi chịu khổ nạn, thấy Chúa Giêsu đi ngược trở vào thành. Ông kinh ngạc liền hỏi: “Quo Vadis?” (Thầy đi đâu vậy?) Chúa đáp: “Romam Vado iterum crucifigi." (Thầy đến Roma để chịu đóng đinh lần nữa). Nghe vậy, ông Phêrô bèn hối lỗi, giác ngộ, trở vào thành an tâm tiếp tục sứ vụ, để cuối cùng được phúc tử vì đạo, bằng cách chịu đóng đinh ngược. Nhờ đồng hành cùng Chúa, ông Phêrô mới cảm thấy bình an, dù đứng trước ngay thách đố sinh tử. (Henryk Sienkiewicz, Quo Vadis)

Khi đã thành tín giao hòa cùng Chúa, con người mới có thể giao hòa với tha nhân, với anh em mọi người, quen biết cũng như xa lạ, thân thiết cũng như thù địch, mà tâm hồn vẫn bình an, thanh thản, vô ưu. Do vậy, các thánh nhân mới can đảm và bình thản chịu nhục hình cho đến hơi thở cuối cùng.

Tái củng cố mối liên kết với Chúa, con người mới có thể thân thiện với tạo vật, với môi trường. Mới tôn trọng, gìn giữ môi trường xanh, sạch và đẹp. Mới thân thiết, yêu quý các loại động vật hoang dã. Đáp lại, môi trường không bị hủy diệt, tận diệt, không bị biến đổi khí hậu, không bị ô nhiễm, hay sa mạc hóa, mà trở nên Vườn Địa Đàng, hành tinh xanh đáng sống và đáng yêu.

Lạy Chúa, xin hãy dùng con như khí cụ bình an của Chúa,

Để con đem yêu thương vào nơi oán thù,

Đem thứ tha vào nơi lăng nhục,

Đem an hòa vào nơi tranh chấp,

Đem chân lý vào chốn lỗi lầm;

Đề con đem tin kính vào nơi nghi nan,

Chiếu trông cậy vào nơi thất vọng;

Đề con dọi ánh sáng vào nơi tối tăm,

Đem niềm vui đến chốn u sầu. (Lm Kim Long, Kinh Hòa Bình)

Lạy Mẹ Maria, xin cho con biết noi gương Thánh Gia, để con nhận được quà tặng bình an viên mãn của Chúa trao ban. Amen.

20.Bình an--Lm. Giuse Trần Việt Hùng
Truyện kể về bác nông dân nối cầu hoà bình: Ngày nào bác cũng phải khàn cả tiếng để đuổi đám gà của những người hàng xóm. Gà chui qua hàng rào và bới nát cả vườn tược của bác. Bác xin những người láng giềng nhốt gà lại, thế nhưng không ai thèm chú ý đến lời yêu cầu của bác. Là một người ưa chuộng hoà bình, bác không muốn ăn miếng trả miếng. Bác liền nghĩ ra một giải pháp độc đáo: Bác đi mua trứng gà bỏ vào giỏ và cứ vài ngày, bác lại mang trứng gà sang cho những người láng giềng và nói rằng đám gà của họ đã đẻ trong vườn của bác. Bác làm thế 3 lần và kết quả diễn ra nhanh chóng. Những người láng giềng vội rào dậu cẩn thận để giữ gà ở nhà đẻ trứng. Chỉ mất một ít trứng gà mà bác đã tránh được những tranh chấp vô ích có thể làm sứt mẻ tình hàng xóm.

Thị phi ở đời thật khó lường, đôi khi có bé thì xé ra to. Cách tốt nhất là cùng nhau xây dựng hoà bình. Mọi người sẽ có một cuộc sống an lạc, vui tươi và hạnh phúc. Các cộng đoàn tín hữu thời sơ khai cũng gặp rất nhiều những vấn đề nan giải. Một số người thủ cựu với óc hẹp hòi thường gây xáo trộn bằng cách rỉ tai và loan truyền những lời thất thiệt gây nghi ngờ: Chúng tôi nghe biết có một số người trong chúng tôi, không được chúng tôi uỷ nhiệm, mà lại đi nói những điều gây xáo trộn nơi anh em, làm anh em hoang mang (Cv 15,24). Trong giai đoạn tranh tối tranh sáng giữa lề luật của đạo cũ và đạo mới đã làm cho nhiều tâm hồn bất an. Vì có nhiều người sống đạo chỉ cậy dựa vào những hình thức bên ngoài và chu toàn những khoản luật không đi đôi với đời sống nội tâm nên đã gặp nhiều xao xuyến.

Đại diện Giáo Hội đã gửi Phaolô, Barnaba, Giuđa, Sila và những vị có uy tín đến với các anh chị em thuộc dân ngoại ở Antiokia, Syria và Cilicia để khuyên dạy và gởi lời chào thăm của các Tông đồ và Kỳ lão. Các Tông đồ không muốn đặt gánh nặng nào khác lên vai những người đã tòng giáo. Một số điều cần thiết nên thực hiện: Là kiêng ăn đồ đã cúng cho ngẫu tượng, kiêng ăn tiết, ăn thịt loài vật không cắt tiết và tránh gian dâm. Anh em cẩn thận tránh những điều đó là tốt rồi. Chúc anh em an mạnh (Cv 15,29). Các Tông đồ đã quyết định không thực hành việc cắt bì cho những tân tòng gia nhập Giáo Hội. Vì theo truyền thống của người Dothái, mọi con trai đều được cắt bì theo luật Môsê.

Chúa Giêsu đã vượt qua từ cõi chết tới sự sống lại. Đường vào đạo của Chúa Giêsu khởi đi từ trái tim yêu thương. Vâng giữ lệnh truyền của Thầy là yêu mến Thầy. Tình yêu là hạt nhân sống đạo. Thánh Augustinô viết rằng: Cứ yêu đi, rồi làm. Thánh Têrêxa Hài Đồng Giêsu chọn lựa: Ơn gọi của con là tình yêu. Mẹ Têrêxa thành Calcutta lập dòng Thừa sai Bác ái. Mẹ Têrêxa đã phát biểu: Qua dòng máu, tôi là người Albania. Bởi quyền công dân, tôi là người Ấn Độ. Với niềm tin, tôi là một nữ tu Công giáo. Từ trái tim, tôi hoàn toàn thuộc về Thánh tâm của Chúa Giêsu. Thánh Tâm của Chúa đầy lửa mến và lòng xót thương. Đức Giêsu nói: Ai yêu mến Thầy, thì sẽ giữ lời Thầy. Cha Thầy sẽ yêu mến người ấy. Cha Thầy và Thầy sẽ đến và ở lại với người ấy (Ga 14, 23). Tình yêu là tất cả. Chúa Giêsu đã sống và đã chết cho tình yêu để tình yêu sống mãi.

Mỗi lần hiện ra cùng các Tông đồ, Chúa Giêsu luôn cầu chúc bình an. Sự bình an đích thực trong tâm hồn: Thầy để lại bình an cho anh em, Thầy ban cho anh em bình an của Thầy. Thầy ban cho anh em không theo kiểu thế gian. Anh em đừng xao xuyến cũng đừng sợ hãi (Ga 14,27). Khi Chúa Giêsu giáng trần, các thiên thần đã đồng thanh ca hát rằng: Bình an dưới thế cho người thiện tâm. Ai trong chúng ta cũng mong muốn có sự an lạc và yên vui trong cuộc sống. Muốn tìm sự an vui thanh thản, chúng ta cần buông bỏ những ràng buộc kéo lôi và tranh chấp vô ích. Nếu chúng ta có tâm thiện, chúng ta sẽ chuyển hóa mọi điều tiêu cực trở thành tích cực. Giống như khi đeo kính, nếu chúng ta mang kính sáng thì sẽ thấy mọi sự vật rõ ràng trong sáng. Khi đeo kính màu hay kính râm, chúng ta sẽ nhìn thấy khung cảnh chung quanh đổi mầu và mờ ảo. Cũng vậy khi lòng chúng ta áy náy và buồn phiền, tâm của chúng ta sẽ bị xao xuyến và lo lắng. Tâm trong thì lòng thành.

Sự bình an của Chúa ở trong những mảnh hồn có thiện tâm. Thiện tâm hay tâm thiện là phải có tâm từ, tâm bi, tâm hỉ và tâm xả. Tâm từ có khả năng đối trị lòng tham và sự giận hờn. Tâm từ là đem niềm vui cho người khác một cách vô điều kiện. Tâm bi là xoa dịu những nỗi đau và nỗi khổ của con người. Chia sẻ và cảm thông những nỗi bất hạnh của người khác. Thấy người đau, chúng ta cảm thông nỗi đau. Tâm hỉ, đối lại là tâm tị hiềm và ganh ghét. Tâm chúng ta luôn hoan hỉ với việc làm tốt của người khác. Thấy người khác công thành danh đạt, thì chúng ta chúc mừng. Thấy người khác siêng năng, tinh tấn, tốt lành và may mắn, chúng ta chung vui hoan hỉ. Tâm xả, đối trị lại với tâm kỳ thị và cố chấp của mỗi con người. Chúng ta sống thảnh thơi, nhàn hạ, cởi mở và không vướng lụy vào điều gì khác.

Khi thời gian đã mãn, Chúa Giêsu phải rời thế gian để về cùng Chúa Cha. Chúa Giêsu đã hiện diện cùng các môn đệ và Giáo Hội một cách khác. Đấng Bảo Trợ sẽ đến để dạy chúng ta mọi điều. Chúa Giêsu mạc khải cho chúng ta về Ngôi Ba Thiên Chúa. Nhờ các ơn sủng trợ giúp của Chúa Thánh Thần, Giáo Hội tiếp tục cuộc lữ hành trần thế: Nhưng Đấng Bảo Trợ là Thánh Thần Chúa Cha sẽ sai đến nhân danh Thầy, Đấng đó sẽ dạy anh em mọi điều và sẽ làm cho anh em nhớ lại mọi điều Thầy đã nói với anh em (Ga 14,26). Chúng ta biết Giáo Hội là một tổ chức có cơ cấu như một xã hội, nhưng lại có sứ vụ linh thánh (divine mission). Giáo Hội tập trung sứ mệnh cao cả là rao giảng Tin Mừng của Chúa Giêsu Kitô.

Chúng ta tin rằng Chúa Thánh Thần vẫn luôn hoạt động trong Giáo Hội qua mọi biến cố. Ngày tháng qua, chúng ta đã chứng kiến những luồng gió tươi mát qua sự kiện từ chức của Đức Giáo hoàng Bênêđictô XVI và bầu chọn Đức tân Giáo hoàng Phanxicô. Đức Giáo hoàng Phanxicô đã bày tỏ với các yồng y: Các ngài phải gắn bó niềm tin chặt chẽ với tận gộc rễ của Tin Mừng và xa tránh những cám dỗ của thời hiện đại. Trái lại, Giáo Hội có nguy cơ trở nên nhóm bác ái khác mà không có sứ vụ thánh. Đức Giáo hoàng nói: Chúng ta có thể bước tới mọi nơi mà chúng ta muốn và có thể xây dựng mọi thứ, nhưng nếu chúng ta không loan báo Chúa Giêsu Kitô, có vài điều sai lạc. Chúng ta trở nên một tổ chức thương cảm phi chính phủ và không còn là Giáo Hội, Hiền Thê của Chúa Kitô. Chính Chúa Kitô mới là trung tâm điểm đời sống của các Kitô hữu và Giáo Hội trong mọi nơi và mọi thời.

Thánh Gioan trong Sách Khải Huyền, đã thị kiến vinh quang quê hương vĩnh cửu nơi Chúa Kitô đang ngự bên hữu Thiên Chúa: Rồi đang khi tôi xuất thần, thì người đem tôi lên một ngọn núi cao hùng vĩ và chỉ cho tôi thấy Thành Thánh, là Giêrusalem, từ trời, từ nơi Thiên Chúa mà xuống (Kh 21,10-11). Để cùng chung hưởng hạnh phúc với Chúa Kitô Phục Sinh, Đức Giáo hoàng Phanxicô nhắc nhở chúng ta: Ai không cầu nguyện với Thiên Chúa, người đó cầu nguyện với thần dữ. Khi chúng ta không tuyên xưng Chúa Giêsu Kitô, là chúng ta tuyên xưng thế giới của ma quỷ và thần dữ. Chỉ có Chúa là Đấng Thánh, chỉ có Chúa là Chúa và chỉ có Chúa là Đấng Tối Cao. Chúng ta cùng đặt niềm tin yêu và hy vọng vào Chiên Thiên Chúa vì Ngài là nguyên thuỷ và cùng đích của tất cả vũ trụ muôn loài: Thành chẳng cần mặt trời mặt trăng chiếu sáng, vì đã có vinh quang Thiên Chúa toả rạng và Con Chiên là ngọn đèn chiếu soi (Kh 21,23).

Lạy Chúa, tình yêu Chúa bao la ngập tràn, xin nguồn ân sủng Chúa biến đổi tâm hồn chúng con trở nên tổ ấm của tình yêu. Xin cho chúng con được ngụp lặn trong biển tình bình an, để chúng con luôn mến Chúa và yêu người. Amen.

21.Chúa Nhật 6 Phục Sinh--Lm. Trầm Phúc
Đối với Chúa Giêsu, điều quan trọng nhất là tình yêu. Tất cả phát xuất từ tình yêu, quy tụ về tình yêu và kết thúc trong tình yêu, vì mọi sự đều bắt nguồn từ Thiên Chúa và kết thúc trong Chúa, và Thiên Chúa là Tình Yêu.

Trước khi rời bỏ các môn đệ, Ngài để lại cho họ một di sản quí báu đó là tình yêu của Ngài. Điều răn mới cũng là một di sản ngàn đời. Ngài nói đến sự bình an. Ngài nói đi nói lại: “Lòng anh em đừng xao xuyến. Hãy tin vào Thiên Chúa và tin vào Thầy”. Có lẽ Ngài thấy các môn đệ đang lo âu xao xuyến vì Ngài báo trước Thầy sẽ về với Cha. Thầy đi dọn chỗ cho anh em. Họ làm sao hiểu được? Họ chỉ nghĩ rằng Thầy sẽ rời bỏ họ, họ sẽ bơ vơ.

Tôma thắc mắc: “Chúng con không biết Thầy đi đâu, làm sao chúng con biết đường đi?” Philiphê cũng lo âu: “Xin Thầy tỏ cho chúng con biết Chúa Cha”.

Trong bầu không khí khá căng thẳng đó, Chúa Giêsu cho họ thấy điều gì phải làm, đó là yêu mến Thầy. Yêu mến Thầy là giữ lời Thầy. Và giữ lời Thầy thì sẽ nhận được hồng ân cao quí này: “Cha Thầy sẽ yêu mến người ấy. Cha Thầy và Thầy sẽ đến và ở trong người ấy”. Chúng ta có hiểu được những lời này không?

Hãy dừng lại, lắng nghe và cảm nhận. Chúa đã nói tất cả những gì cần phải nói. Chỉ cần thi hành. Những kẻ nói “lạy Chúa, lạy Chúa” mà thôi thì chưa đủ.

Chúa Giêsu đã làm gương cho chúng ta. Ngài vâng phục Chúa Cha, thực hiện ý Cha một cách trọn hảo. Đó là cách Ngài yêu mến Chúa Cha. Giờ đây, Ngài cũng muốn chúng ta yêu mến Ngài như Ngài đã yêu mến Chúa Cha.

Yêu mà không làm theo ý người mình yêu là dối trá.

Giữ lời Chúa là yêu mến Chúa. Chúng ta đã làm được gì? Nhiều người chỉ nói mà không làm. Đọc kinh dự lễ ở nhà thờ, về đến nhà là ghen ghét, hận thù, tranh chấp. Và họ vẫn ung dung xem mình như đã yêu mến Chúa nhiều rồi, đạo đức lắm rồi. Cái thứ đạo bề ngoài đó gần như phổ biến. Đó là đạo đức Pharisêu. Chúa Giêsu không như thế. Cuộc đời của Ngài mãi mãi là vâng phục. Mướt mồ hôi máu trong vườn Giếtsêmani, Ngài vẫn vâng phục: “Xin đừng theo ý Con mà theo ý Cha”. Trên thập giá, Ngài la lên một tiếng lớn: “Mọi sự đã hoàn tất” mới gục đầu trao phó thần khí.

Đó là cách yêu mến của Ngài. Còn chúng ta?

Nếu chúng ta dám giữ lời Ngài, chúng ta sẽ được gì?

Chúng ta sẽ được tất cả. Chúng ta sẽ được Chúa Cha yêu mến. Chúng ta sẽ được cả Chúa Cha và Chúa Con đến và ở trong chúng ta. Chúng ta hiểu được hồng ân lớn lao đó không? Nếu chúng ta biết Chúa là ai, và biết chúng ta là gì, chúng ta mới có thể hiểu được hồng ân này quí báu như thế nào!

Thiên Chúa, Đấng tuyệt đối thánh thiện, Đấng quyền năng, trở thành người thân cận với chúng ta, thân cận hơn bất cứ ai, ở trong chúng ta! Phải chăng đây là hồng ân tuyệt đối?