Suy Niệm Lời Chúa
Suy Niệm Lời Chúa
- Viết bởi Mt 11, 11-15
Gioan Tẩy giả được Chúa khen.
Thứ Năm tuần 2 mùa vọng.
"Chưa từng có ai cao trọng hơn Gioan Tẩy Giả".
LỜI CHÚA: Mt 11, 11-15
Khi ấy, Chúa Giêsu phán cùng dân chúng rằng: "Ta bảo thật các ngươi, trong các con cái người nữ sinh ra, chưa từng xuất hiện một ai cao trọng hơn Gioan Tẩy Giả, nhưng người nhỏ nhất trong nước trời lại cao trọng hơn ông.
Từ thời ông Gioan Tẩy Giả đến giờ, nước trời phải dùng sức mạnh mà chiếm lấy, và những kẻ mạnh mẽ can đảm mới chiếm được. Tất cả các tiên tri và lề luật đã tuyên sấm cho đến Gioan và nếu các ngươi muốn hiểu, thì chính Gioan là Elia, kẻ phải đến.
Ai có tai, thì hãy nghe!"
* Đọc GIỜ KINH PHỤNG VỤ link CGKPV
* Các BÀI ĐỌC TRONG THÁNH LỄ
Suy Niệm 1: Gioan chính là Êlia
(Lm. Ant. Nguyễn Cao Siêu SJ. )
Đã từ lâu dân tộc Do Thái không có vị ngôn sứ nào xuất hiện.
Thiên Chúa thinh lặng như chẳng muốn nói với dân Ngài.
Người ta thường coi vị ngôn sứ cuối cùng là Malaki.
Ông sống trước công nguyên gần năm thế kỷ.
Ông đã mạnh mẽ phê phán những bê bối của các tư tế và dân Do Thái
sau khi họ trở về từ nơi bị lưu đầy ở Babylon.
Malaki tiên báo ngày đoán phạt của Đức Chúa gần đến.
Nhưng trước khi Ngài đến, sẽ có người đi trước để dọn đường (Ml 3, 1).
Êlia chính là người làm công việc đó:
“Này đây Ta sẽ sai đến với ngươi Êlia, vị ngôn sứ” (Ml 3, 23).
Gioan Tẩy giả là người đã làm nhiệm vụ của Êlia,
tuy ông không phải là một Êlia từ cõi chết sống lại.
Gioan xuất hiện như một ngôn sứ khắc khổ nơi sa mạc hoang vu.
Ông đã cất tiếng mời gọi mọi người sám hối và chịu phép rửa.
để dọn lòng đón Đấng Mêsia sắp đến.
Thế là sau bao thế kỷ mong chờ, Thiên Chúa lại ngỏ lời với dân Ngài.
Gioan Tẩy giả luôn là nhân vật nổi bật trong Mùa Vọng.
Đức Giêsu khẳng định ông còn trọng hơn một ngôn sứ nữa (Mt 11, 9).
Đã có bao ngôn sứ trong Cựu Ước xuất hiện trước ông,
loan báo về Đấng Cứu độ mà Thiên Chúa hứa ban.
Nhưng Gioan là người duy nhất đã chỉ cho dân thấy Đấng ấy là ai.
Chính là Đức Giêsu, người ông đã ban phép rửa.
Gioan cao trọng vì ông là cầu nối giữa hai giai đoạn của lịch sử cứu độ.
Ông vừa thuộc nhóm những ngôn sứ của giai đoạn trước (c. 11),
vừa là người đã chạm đến Nước Trời ở giai đoạn sau (cc. 12-13).
Giai đoạn trước của những lời Thiên Chúa hứa,
và giai đoạn sau khi Thiên Chúa thực hiện những lời hứa này.
Đức Giêsu là Đấng khai mở giai đoạn sau.
Nhưng Ngài cần Gioan để làm người trực tiếp giới thiệu.
Chúng ta không thánh thiện hơn Gioan Tẩy giả,
nhưng chúng ta có phần hạnh phúc hơn ông,
vì được sống trong giai đoạn lời hứa của Thiên Chúa nên thành tựu.
Ơn cứu độ đã đến, Nước Trời đã ở ngay bên.
“Kẻ nhỏ nhất trong Nước Trời còn cao trọng hơn ông” (c. 11).
Cao trọng hơn vì những kho tàng mới do Đức Giêsu mang lại.
Ngài đem đến ơn cứu độ toàn diện cho từng người,
vượt xa những gì mà các ngôn sứ thời xưa mong đợi.
Gioan hẳn sẽ có mặt trong bữa tiệc cánh chung (Mt 8, 11).
Ông đã chiếm được Nước Trời bằng sức mạnh phấn đấu (c. 12).
Ông đã sống bất khuất và đã chết anh hùng.
Mỗi lần Mùa Vọng, chúng ta lại gặp Gioan.
Đức Giêsu mãi mãi cần những Gioan cho đến ngày tận thế,
để bắc một nhịp cầu, để làm người môi giới trung gian
để tình yêu cứu độ được mọi người đón nhận.
Cầu nguyện:
Lạy Chúa Giêsu, xin hãy đến.
Xin đừng mỉm cười mà nói rằng
Chúa đã ở bên chúng con rồi.
Có cả triệu người chưa biết Chúa.
Nhưng biết Chúa thì được cái gì?
Chúa đến để làm gì
nếu đời sống con cái của Chúa
cứ tiếp tục y như cũ?
Xin hoán cải chúng con.
Xin lay chuyển chúng con.
Ước gì sứ điệp của Chúa
trở nên máu thịt của chúng con,
trở nên lẽ sống của cuộc đời chúng con.
Ước gì sứ điệp đó
lôi chúng con ra khỏi sự an nhiên tự tại,
và đòi buộc chúng con,
làm chúng con không yên.
Bởi lẽ chỉ như thế,
sứ điệp đó mới mang lại cho chúng con
bình an sâu xa,
thứ bình an khác hẳn,
đó là Bình An của Chúa. (Helder Câmara)
Suy Niệm 2: Mùa vọng: sống mạnh mẽ
(TGM Giuse Ngô Quang Kiệt)
Gioan Tẩy giả là mẫu gương đáng mơ ước của Mùa Vọng.
Ông là tiên tri cao cả nhất vì các vị tiên tri khác chỉ loan báo theo linh hứng của Chúa. Trong khi Gioan là tiên tri duy nhất được thấy Đấng Cứu Thế xuất hiện. Ông cao cả nhất trong số nam nhân vì được Chúa tha tội nguyên tổ ngay từ khi còn trong lòng mẹ. Ông cao cả nhất vì được chính Đấng Cứu Thế đến tận nhà viếng thăm.
Ông là người phấn đấu vào Nước Trời là nước phải chiếm đoạt bằng sức mạnh. Gioan tràn đầy sức mạnh không chỉ vì lời rao giảng của ngài mạnh mẽ, cương trực, nhưng còn vì đời sống của ngài thật mạnh mẽ. Mạnh mẽ khi đối đầu với cái ác. Dám gọi những bậc vị vọng trong dân như phái Phariseu là “nòi rắn độc”. Dám lên án đời sống vô luân của vua Hêrôđê. Mạnh mẽ đáng khâm phục trong đời sống từ bỏ. Từ bỏ nơi phồn hoa đô hội để sống trong sa mạc. Từ bỏ những hoạt động bên ngoài để chìm sâu trong cầu nguyện. Từ bỏ tìm ý riêng để tìm thánh ý Chúa. Từ bỏ những gì phụ thuộc để tìm điều cốt yếu. Biết rằng sự sống quí hơn của ăn nên ngài chỉ ăn uống đơn sơ cho đủ sống trong sa mạc. Biết rằng thân thể quí hơn áo mặc nên ngài chỉ cần tấm da thú che thân. Nhất là dám từ bỏ mạng sống vì làm chứng cho chân lý. Biết quên mình vì Chúa. Biết bảo vệ giáo lý chân chính của Chúa. Phục vụ Chúa đến quên thân mình, đến máu chảy đầu rơi vì Chúa.
Gioan Tẩy giả là chiếc bừa mà Isaia loan báo. Được Chúa ban sức mạnh lưỡi bừa đã bừa nát những giả trá, hư ảo của trần gian, đã làm cho những giá trị phù phiếm tan tành bay tơi tả như trấu trong cơn gió, để xuất hiện những giá trị chân thực vĩnh cửu.
Chúng ta chỉ là loài sâu bọ hèn kém, là người dân bé nhỏ tầm thường, cần được ơn Chúa ban để trở nên mạnh mẽ, để nên như chiếc bừa của Chúa, mới mẻ, sắc nhọn và mạnh mẽ. Và chỗ cần cầy bừa nhất là chính linh hồn ta. Cần có chiếc bừa nhọn sắc của Chúa. Cần có sức mạnh của Chúa. Để ta cầy xới linh hồn. Phá bỏ những giả trá, phù vân trong tâm hồn. Như thế ta mới mong gặp được Chúa và chiếm đoạt được Nước Trời trong mùa Vọng này.
Suy Niệm 3: Người Ðược Chúa Khen
(‘Suy Niệm Phúc Âm Hằng Ngày’)
Nhìn vào các chi tiết đã xảy ra cho Gioan Tẩy Giả mà Thiên Chúa đã làm, chúng ta thấy cũng là một chuyện lạ lùng. Zacharia, cha của Gioan Tẩy Giả, là người thuộc ban Abina, tức là một tư tế phục dịch trong Ðền Thờ; và Elizabeth, mẹ của ngài, thuộc dòng dõi Aaron. Cả hai ông bà là người công chính trước mặt Thiên Chúa, ăn ở tuân giữ mọi giới răn và lề luật của Ngài. Nhưng cả hai người không có con và tuổi đã già cả. Zacharia đến phiên mình vào dâng hương trong Ðền Thờ khi trúng thăm. Khi vào Ðền Thờ dâng hương, ông thấy thiên thần Gabriel hiện ra bên phải hương án và cho ông biết: Bạn ông sẽ sinh một con trai và tên con trẻ sẽ gọi là Gioan Tẩy Giả, và con trẻ này sẽ nên cao trọng trước mặt Thiên Chúa, ngài sẽ không uống rượu và thức có men, sẽ được tràn đầy Thánh Thần ngay từ trong lòng mẹ, sẽ đem nhiều con cái Israel trở về cùng Chúa là Thiên Chúa. Và thiên thần Gabriel còn cho biết thêm: Con trẻ là người đi trước dọn đường cho Ðấng Cứu Thế đến.
Rồi khi Mẹ Maria đến thăm bà Elizabeth, lúc ấy bà đang mang thai Gioan Tẩy Giả được sáu tháng thì con trẻ trong lòng bà cũng đã nhảy mừng và được khỏi tội tổ tông.
Sau khi Gioan Tẩy Giả sinh ra, cả hai ông bà muốn đặt tên cho con trẻ là Gioan Tẩy Giả, nhưng bấy giờ Zacharia đang bị câm không nói được nên ông ra hiệu là đặt tên cho con trẻ là Gioan Tẩy Giả. Mặc dù mọi người trong dòng họ đều không bằng lòng, vì không ai trong họ hàng có tên đó.
Từ những sự kiện trên cho ta thấy Gioan Tẩy Giả được sinh ra một cách khác thường và khắp các miền núi phía Giuđêa lúc bấy giờ đều nghĩ thầm rằng: Con trẻ này rồi sẽ nên thế nào? Vì quả thực bàn tay Thiên Chúa đã ở với con trẻ này.
Ðiều đó đã được Chúa Giêsu xác nhận trong bài Tin Mừng hôm nay: "Thật, Ta bảo các ngươi hay, trong con cái do người nữ sinh ra chưa có ai cao trọng hơn Gioan Tẩy Giả". Con người có lẽ ai cũng mong ước được như Gioan Tẩy Giả. Chúng ta cũng thấy trong một đoạn Tin Mừng khác, lúc Chúa Giêsu đang giảng dạy thì có một người đàn bà buột miệng nói rằng: "Phúc thay dạ đã cưu mang Thầy và vú đã cho Thầy bú. Nhưng Chúa Giêsu lên tiếng::Ai nghe và giữ lời Chúa thì còn có phúc hơn nhiều". Hoặc chúng ta cũng thấy trong lúc Chúa Giêsu đang thi hành sứ mệnh công khai của Ngài, Mẹ Maria và các người thân thuộc tìm đến nghe, nhưng vì dân chúng quá đông không chen vào được, có mấy người thấy thế nói với Chúa Giêsu: "Kìa Mẹ và anh em Thầy đến tìm Thầy", Chúa Giêsu liền trả lời: "Ai là Mẹ Ta, ai là anh em Ta? Ðó là những kẻ nghe và giữ lời Ta".
Qua những lời trên, Chúa Giêsu cho chúng ta một cái nhìn mới, một ý nghĩa mới: thân thuộc, bà con bằng máu mủ không quan trọng cho bằng thân thuộc bà con thiêng liêng: "Ai theo Ta mà không từ bỏ cha mẹ anh em thì chưa xứng đáng là môn đệ Ta". Nói thế không phải chúng ta không tôn kính hay không yêu mến cha mẹ chúng ta, vì giới răn thứ tư trong Mười Ðiều Răn, Ðức Kitô dạy rằng: "Hãy thảo kính cha mẹ". Giới răn này nằm sau giới răn thứ nhất: "Thờ phượng Ðức Chúa Trời và kính mến Người trên hết mọi sự".
Chúng ta đừng đặt nặng vấn đề gia đình, vấn đề tình thân thuộc máu huyết mà chúng ta quên mất việc thờ Thiên Chúa. Chúng ta cũng đừng tìm danh giá, giàu sang bên ngoài mà quên mất lương thực Thần Linh nuôi sống chúng ta, đó là Mình và Máu Chúa. Mình Máu Chúa nuôi sống phần hồn, lương thực Lời Chúa nuôi sống tinh thần chúng ta.
Từ Gioan Tẩy Giả trở về sau, tức là từ khi Chúa Giêsu Kitô đem ơn cứu rỗi của Thiên Chúa đến cho nhân loại thì Nước Trời phải dùng sức mạnh mới chiếm lấy được và kẻ nào mạnh mẽ can đảm mới chiếm được. Trước Chúa Kitô chưa ai có được ơn cứu rỗi cho đến khi Chúa Kitô chết trên Thánh Giá Ngài mới kéo tất cả mọi sự lên cùng Ngài. Ai muốn nhận được ơn cứu rỗi đó phải qua cửa hẹp, phải vác thập giá mình mà theo Chúa mới vào được Nước Trời, vì ngày nào có sự khốn khó của ngày ấy.
Theo Chúa để vào Nước Trời, chúng ta phải chiến đấu với chính bản thân mình, phải từ bỏ những đam mê, những thói quen không tốt, những việc làm không chính đáng, phải hy sinh cho người thân quen thuộc trong gia đình, cho tha nhân và làm tất cả những gì khi có thể để giúp đỡ người khác mới thực sự là dấn thân thi hành giới răn "Mến Chúa Yêu Người".
Lạy Chúa, xin cho chúng con luôn hiểu rõ được giá trị của sự yêu thương, tránh tìm những gì hào nhoáng bên ngoài nhưng thực sự sống cảm thông, yêu thương nhau và tha thứ khoan dung hơn để mong chờ Ðấng Cứu Thế đến. Amen.
Suy Niệm 4: Gioan Tẩy giả.
Lustiger là người Do Thái đã từng chứng kiến cảnh phân biệt chủng tộc và việc Đức quốc xã tiêu diệt người Do Thái. Là người Do Thái, nhưng có bạn là người Công giáo, một hôm theo bạn đến nhà thờ và từ đó muốn trở lại Công giáo. Anh muốn thuộc về Chúa và dâng hiến cuộc đời cho Chúa. Mặc dù ông bố không chấp thuận, nhưng anh nhất quyết đi tu để phục vụ người nghèo khổ, yếu đuối.
Năm 1954, thụ phong linh mục. Năm 1964 được chọn làm Giám mục và được đề cử về làm Tổng Giám mục Paris. Bị một số người bất bình phản đối, nhưng ngài vẫn kiên vững trong đức tin và quan tâm phục vụ mọi người.
Bài Tin Mừng hôm nay nói đến một con người đặc biệt, có sứ mệnh chuẩn bị tâm hồn người Do Thái đón nhận Chúa, con người ấy là Gioan Tẩy giả. Kể từ khi gặp Chúa Giêsu, nhất là từ khi bị Hêrôđê tống ngục, cố gắng quan trọng của Gioan là làm sao cho môn đệ của ông nhận ra Chúa Giêsu là Đấng Thiên sai. Dù tống giam Gioan, nhưng Hêrôđê vẫn còn nể Gioan, nên cho ngài được liên lạc với bên ngoài, bằng chứng là các việc Chúa Giêsu làm đều đến được tai Gioan và các môn đệ vẫn được tiếp xúc với ngài. Chúa Giêsu cũng đã từng ca tụng Gioan với dân chúng đi theo và nghe Ngài giảng dạy. Bằng lối văn đặt câu hỏi dồn dập, Ngài nhấn mạnh đến một số đức tính của Gioan. Trước hết, là thái độ cứng rắn không chịu thua sự dữ: “Các người đi ra sa mạc để coi cái gì? Cây sậy rung trước gió ư?” Gioan không phải là cây sậy. Gioan đã dám đương đầu với sự xấu. Gioan không nể vua Hêrôđê khi khuyến cáo vua không được lấy vợ của người anh cùng cha khác mẹ với mình là Philip. Thứ đến là việc từ bỏ mọi sự để sống nghèo khó. Gioan không ăn mặc mịn màng và sống xa hoa. Gioan chỉ vận tấm da thú, ăn những thức ăn đơn sơ tìm được nơi rừng hoang, như châu chấu, mật ong. Sau cùng Chúa Giêsu nhấn mạnh đến sứ mệnh của Gioan: “Các người đi xem một tiên tri ư? Ta bảo các người: và còn hơn một tiên tri nữa”. Về ông đã có viết: “Này Ta sai sứ thần đi trước mặt ngươi để dọn đường cho ngươi”.
Tuy nhiên, nếu vai trò của Gioan cao trọng, thì Nước Trời còn cao trọng hơn, vì người nhỏ nhất trong Nước Trời còn lớn hơn Gioan. Sở dĩ Nước Trời có giá trị lớn lao vì có sự hiện diện của Chúa Giêsu Kitô. Nước Trời được mô tả như vương quốc của sức mạnh và chỉ những kẻ mạnh mới dành được phần thắng.
Ước gì chúng ta biết sống trọn vẹn ơn gọi của chúng ta và tìm gặp được Đức Giêsu là Đấng cứu độ và niềm vui của chúng ta nơi trần gian này.
Suy Niệm 5: Ngôn sứ Gioan Tẩy Giả
“Tôi nói thật với anh em: trong số phàm nhân đã lọt lòng mẹ, chưa từng có ai cao trọng hơn ông Gioan Tẩy Giả. Tuy nhiên kẻ nhỏ nhất trong Nước Trời còn cao trọng hơn ông. Từ thời ông Gioan Tẩy Giả cho đến bây giờ, Nước Trời phải đương đầu với sức mạnh, ai mạnh sức thì sẽ chiếm được. Cho đến ông Gioan, tất cả các ngôn sứ cũng như Lề Luật đều đã nói tiên tri. Và nếu anh em chịu tin lời tôi, thì ông Gioan chính là Ê-li-a, người phải đến. Ai có tai thì nghe. (Mt. 11, 11-12)
Trong mùa vọng, hình ảnh Gioan tẩy giả nổi bật, ông là nhân vật tích cực hoạt động: rao giảng, loan báo, làm phép rửa, kêu gọi ăn năn trở lại. Người ta cảm thấy ông rất lo lắng, rất vội vã thúc bách khẩn trương: “Có Đấng đang đến, đang ở giữa các anh chị em, anh chị em hãy cải thiện con tim gấp lên … Chiếc rìu đã kề gốc cây”.
Gioan tẩy giả là ngôn sứ cuối cùng. Mọi người kéo đến với ông, đến với sứ điệp của ông. Quả thực suốt dòng lịch sử dân Ít-ra-en, những lời tiên tri đã lan sâu rộng và được tập trung vào một Đấng. Tất cả mọi hy vọng đều đổ dồn vào một Đấng: Đấng thực hiện lời giao ước. Ngày nay, chúng ta suy nghĩ và tự hỏi xem thời hạn của Gioan đã chấm dứt chưa?
Tin mừng hôm nay, Đức Giêsu nói kẻ bé mọn nhất trong nước trời còn cao trọng hơn Gioan. Nghĩa là, một đàng, sứ mệnh của Gioan đã kết thúc vì có Đấng đã đến phục hưng nước Thiên Chúa. Nhưng đàng khác, nước trời còn chịu nhiều bạo lực, nước trời này chưa đến thời toàn hảo, Đức Kitô chưa được hoàn toàn biểu lộ. “Từ thời Gioan tới chúng ta ngày nay, nước trời phải chịu đau khổ vì bạo hành”. Chính vì thế, Gioan tẩy giả đã sát nhập với tất cả những ai khẩn cấp kêu gọi đổi mới tâm can trong thế giới đang chịu đau khổ vì bạo lực, như: chiến tranh do chủng tộc, chiến tranh do chủ thuyết, chiến tranh do nội chiến, chiến tranh do phân hóa quốc tế.
Gioan tẩy giả, một lần nữa, sát nhập với những người hô hào cần phải ăn năn trở lại với Đấng đến giải phóng, chỉ có Người mới có thể xây dựng công trình hòa bình toàn hảo thôi.
Còn chúng ta, dâng tế lễ Thánh Thể là tiếp tục vai trò của Gioan, vì tế lễ Thánh Thể là tuyên xưng sự hiện diện của Chúa Giêsu trong cộng đoàn tụ họp để chia sẻ với Người trong công trình cứu độ cho tới khi Người đến hoàn tất thế giới.
Cử hành Thánh lễ, chính là tuyên xưng quyền phép ban hòa bình của Đức Kitô, là loan báo hoàng tử hòa bình và nước trời bình an.
J. Y. G
Suy Niệm 6: Gioan Tẩy giả là người cao trọng
Trong các cuộc diễn nguyện, lời dẫn phải đi sâu vào nội dung, và người dẫn chương trình phải là người biết truyền cảm hứng cho thính giả thì nội dung mới được toát lên và hấp dẫn. Nhưng điều quan trọng là làm sao cho người tham dự rút ra được bài học từ những cuộc diễn xuất đó mới là điều đáng nói!
Thánh Gioan Tẩy Giả đã xuất sắc trong vai trò này khi ngài trở thành người tiền hô loan báo về Đấng Cứu Thế, và, ngài cũng thành công trong việc truyền cảm cho những người đương thời về tinh thần sám hối, chuẩn bị cho giáo huấn của Đức Giêsu. Ngoài những lý do trên, ngài còn là tiên tri cuối cùng của thời Cựu Ước, là người loan báo trực tiếp về Đức Giêsu. Cuối cùng, Gioan đã thực hiện thành công xuất sắc sứ mạng của mình bằng cái chết để làm chứng cho sự thật. Như vậy, ngài xứng đáng được Đức Giêsu khen ngợi: "Ta bảo thật các ngươi, trong các con cái người nữ sinh ra, chưa từng xuất hiện một ai cao trọng hơn Gioan Tẩy Giả”.
Sứ điệp Lời Chúa hôm nay mời gọi chúng ta hãy noi gương Gioan Tẩy Giả: sẵn sàng lên tiếng loan báo Đức Giêsu cho mọi người, dù thuận tiện hay không thuận tiện. Sẵn sàng sống sự khiêm tốn để cho nội dung lời loan báo có hồn và vui lòng nhường lại sân khấu cho diễn viên chính là Đức Giêsu. Có thế, chúng ta mới hy vọng Đức Giêsu khen ngợi là người có phúc như Gioan Tẩy Giả khi xưa.
Lạy Chúa Giêsu, thánh Gioan khi xưa đã hết lòng vì sứ vụ và đã sống chết cho sự thật. Xin Chúa cũng ban cho chúng con hôm nay biết làm chứng cho Chúa bằng sự khiêm tốn, can đảm và trung thành như Gioan khi xưa. Amen.
Ngọc Biển SSP
Suy Niệm 7: Dũng cảm chiến đấu với bản thân
(TGM Giuse Nguyễn Năng)
Sứ điệp: Thánh Gioan Tẩy Giả là người cuối cùng chuẩn bị cho Chúa Giêsu đến thiết lập triều đại Thiên Chúa. Ai muốn vào Nước Trời phải biết dũng cảm chiến đấu với bản thân.
Cầu nguyện: Lạy Chúa, Thánh Gioan Tẩy Giả là một chân tu đúng nghĩa: sống khắc khổ với thức ăn là châu chấu và mật ong rừng, cái mặc là đồ bằng da thú, nhà ở là rừng, là sa mạc. Suốt đời ông đã hy sinh mọi sự để loan báo, dọn đường cho Chúa Giêsu đến.
Chúa ơi, con biết tìm đâu ra một hình ảnh Gioan trong đời sống xã hội hôm nay, khi mà nhiều người đang sống trong ích kỷ, chạy theo lợi nhuận cho riêng mình. Trong thời buổi kinh tế thị trường, người ta quảng cáo rầm rộ bằng những lời lẽ hấp dẫn, ngọt ngào. Còn Gioan, ông đã đòi hỏi quyết liệt những ai muốn sống theo Tin mừng. Ông đã loan báo Nước Trời bằng lời lẽ cứng rắn: “Ai mạnh sức thì mới chiếm được”.
Lạy Chúa, liệu rằng con có can đảm để đón nhận lời Thánh Gioan kêu gọi hay không? Liệu con có dám bắt chước cuộc sống của Thánh Gioan trong hoàn cảnh hôm nay hay không? Con biết con yếu đuối, con bất lực. Nhưng con cũng ý thức rằng: nếu những người kitô hữu chúng con mà không can đảm sống theo Lời Chúa, thì nói gì đến những người khác.
Lạy Chúa, Thánh Gioan luôn lập đi lập lại như một điệp khúc: “Hãy dọn đường cho Chúa”. Xin Chúa cho con biết quay về với Chúa. Xin ban cho con nguồn sống thiêng liêng để con dám sẵn sàng chiến đấu, hy sinh, mất mát, hầu có thể bước theo con đường mà Thánh Gioan mời gọi. Amen.
Ghi nhớ: ”Chưa từng có ai cao trọng hơn Gioan Tẩy Giả”.
Suy Niệm 8: Chúa khen Gioan Tẩy giả
(Lm Giuse Đinh Lập Liễm)
1. Gioan Tẩy Giả từ trong ngục tù đã sai các môn đệ đến phỏng vấn Đức Giêsu có phải là Đấng Cứu Thế không. Sau khi đã trả lời, Đức Giêsu khen và so sánh Gioan Tẩy Giả với mọi người thì Gioan cao trọng hơn hết, vì ông đã giúp dọn đường cho Chúa đến cứu nhân loại, đã làm phép rửa giúp mọi người thống hối. Nhưng nếu so sánh Gioan với người ở trong Nước Trời, thì người nhỏ nhất trong nước này còn cao trọng hơn ông: phần thưởng ở đó rất lớn lao vì luôn có Chúa hiện diện.
2. Đức Giêsu khen Gioan Tẩy Giả về chức vụ tiền hô của ông vì ông đã thi hành rất hoàn hảo. Ông là người cao trọng hơn tất cả mọi người phàm từ trước tới nay, vì ông được vinh dự dọn đường cho Đấng Cứu Thế, và khi Ngài đến, ông còn được vinh dự giới thiệu Ngài cho mọi người biết.
Quả vậy, sánh với đạo cũ, ông là tiên tri trọng hơn các tiên tri vì ông đã giúp vào việc dọn đường cho Đấng Cứu Thế ra đời gần hơn các tiên tri khác, và vì ông đã được thấy Chúa cũng như các việc Người làm.
Nhưng ông vẫn là người thuộc đạo cũ, bởi vậy, tuy là trọng nhất trong các tín đồ đạo cũ, nhưng lại nhỏ hơn hết sánh với các tín đồ thời đạo mới, vì trong luật đạo mới Thiên Chúa ban các ân huệ cao quí cho loài người cách rộng rãi hơn.
2. ”Cuộc lữ hành khám phá thật sự không phải là nhìn những cảnh tượng mới, nhưng là nhìn bằng đôi mắt mới”(M. Proust).
Gioan Tẩy Giả đi trước dọn đường với lòng nhiệt thành nóng bỏng như Êlia ngày nào, rồi Đức Giêsu xuất hiện với quyền năng của Đấng Cứu Thế, y như cảnh tượng các tiên tri loan báo từ xa xưa. Thế nhưng, người Do thái chỉ quen nhìn với đôi mắt cũ: Đấng Cứu Thế phải đáp ứng mong mỏi của họ, phải là người giải phóng họ khỏi ách đô hộ của đế quốc Rôma. Vì thế, họ khước từ Gioan, người Thiên Chúa sai đến. Họ cũng chối bỏ Đức Giêsu, không chấp nhận tư cách Thiên Sai của Ngài. Với đôi mắt cũ, họ không nhận ra sự thật, một ”sự thật sẽ giải thoát anh em” (Ga 8,32) (5 phút Lời Chúa).
3. Có câu: “Nước Trời phải đương đầu với sức mạnh, ai mạnh sức thì chiếm được”.
Người ta chỉ có thể chiếm được Nước Trời bằng sức mạnh. Chúng ta có thể hiểu câu này bằng hai cách:
- Ai muốn vào Nước Trời thì phải dũng cảm chiến đấu với bản thân. Muốn vào Nước Trời để nên cao trọng thì phải can đảm chiến đấu với ba thù là ma quỉ, thế gian và xác thịt.
- Những người ở trong Hội thánh luôn luôn bị người đời chèn ép và chống đối, người ta dùng áp lực để ngăn cản việc gia nhập Nước Trời, nên ai mạnh sức thì mới vượt thắng được những cản trở để vào Nước Trời.
4. Theo đó, người ta phải can đảm mới chiếm được Nước Trời.
Thánh Gioan Tẩy Giả là người quả cảm không bao giờ chịu lùi bước và chịu thua sự dữ. Ông dám can đảm ngăn cản vua Hêrôđê không được lấy vợ của người anh cùng cha khác mẹ với mình. Ông đã từ bỏ mọi sự, sống đời khó nghèo và sám hối trong hoang địa. Và sau cùng đã chịu cho người ta chặt đầu bỏ trên đĩa.
Đức Giêsu đã từng bảo chúng ta: “Muốn vào được Nước Trời phải “qua cửa hẹp”.
Khi Đức Giêsu nói về cửa hẹp, Ngài muốn ám chỉ việc từ bỏ, từ bỏ hết mọi của cải trần gian, từ bỏ những gì cản bước chúng ta trên đường theo Chúa. Bước qua cửa hẹp còn có nghĩa là giữ và sống Lời Chúa, thi hành giáo huấn của Giáo hội một cách nghiêm chỉnh. Bước qua cửa hẹp còn là nhìn vào chính con người của mình như thể Thiên Chúa nhìn chúng ta bước đi dưới con mắt của Ngài, vì biết rằng Chúa luôn luôn làm chủ cuộc sống của ta.
5. Truyện: Muốn vào hàng trai tráng.
Trong nhiều bộ lạc Da Đỏ Mỹ Châu, họ hay có nghi thức huấn luyện và thu nhận thiếu niên vào hàng ngũ trai tráng trong làng. Người ta tổ chức như sau: Khi mặt trời sắp lặn, người bố sẽ dắt đứa con của mình vào sâu trong một cánh rừng. Đứa bé được trao cho một cây lao với lời nhắn nhủ: “con sẽ ở một mình trong rừng đêm nay”. Sau đó người bố rút lui.
Màn đêm buông xuống rất nhanh. Không gian chập chờn với bao tiếng gầm rú rợn rùng. Người ta dễ có cảm tưởng đang bị thú dữ rình chờ tấn công. Thỉnh thoảng, vài tiếng vỗ cánh của con chim ăn đêm cũng có thể làm cho người yếu vía giật mình. Thời gian chậm chạp trôi qua. Mỗi giây phút là cả một khoảng dài vô định.
Nhưng cuối cùng, màn đêm cũng rút lui. Bầu trời từ từ bừng sáng. Nỗi sợ hãi của đứa bé cũng phai mờ theo. Từ trong một lùm cây, một bóng người xuất hiện: cha của đứa bé. Đứa bé nhận ra và vui mừng chạy đến ôm chầm lấy bố, reo lên: “Bố đã trở lại”. Người cha sẽ hãnh diện khi thấy con mình trải qua đêm đen như một người trưởng thành. Đứa bé không hề biết rằng suốt đêm qua cha nó không ngừng trông chừng nó.
Để trở thành chiến binh anh dũng trên mặt trận đức tin, lắm khi chúng ta cũng phải chấp nhận biết bao thách đố trong bóng đêm cuộc đời. Những đe dọa của sự dữ, gầm rú của đau khổ, rình chờ của xác thịt như những phương thế giúp tinh luyện lòng ta thêm can trường dũng mãnh. Và trong suốt chiều dài của bóng đêm đó, dù ta có ý thức hay không, Thiên Chúa vẫn luôn ở bên cạnh dõi mắt trông nhìn chúng ta.
Suy Niệm 9: Muốn được cứu độ, phải cố gắng, sám hối quay về đường chính
(Lm Carôlô Hồ Bắc Xái)
A. phân tích (Hạt giống ... )
Đoạn này nói về Gioan Tẩy giả:
- Ông là người cao trọng hơn tất cả mọi người phàm từ trước tới nay (nghĩa là tới lúc Chúa Giêsu đến khai mở thời Tân Ước, thiết lập Nước Trời), vì ông được vinh dự dọn đường cho Đấng Messia, và khi Ngài đến, ông còn được vinh dự giới thiệu Ngài cho người ta biết.
- Nhưng từ nay trở đi, kẻ nhỏ nhất trong Nước Trời vẫn còn cao trọng hơn Gioan, bởi vì dù sao Gioan cũng thuộc thời Cựu Ước và phải dừng lại ở ngưỡng cửa Nước Trời, không hạnh phúc bằng kẻ ở trong thời Tân Ước và ở trong Nước Trời.
- “Từ thời Gioan Tẩy giả đến bây giờ, Nước Trời phải đương đầu với sức mạnh, ai mạnh sức thì chiếm được”.
Câu này có thể hiểu 2 cách:
a/ muốn vào Nước Trời thì phải dũng cảm chiến đấu với bản thân.
b/ có nhiều điều cản trở người ta vào Nước Trời, cho nên muốn vào đó thì phải cố gắng rất nhiều.
- “Ông Gioan chính là Êlia”: xưa kia ngôn sứ Êlia kêu gọi người ta sám hối để quay về thờ phượng một Thiên Chúa duy nhất. Việc đó Gioan tẩy giả cũng đã làm để chuẩn bị người ta đón Đấng Messia.
B. Suy niệm ( ... nẩy mầm)
1. Chúa Giêsu nói chúng ta hạnh phúc hơn cả Gioan Tẩy giả, vì chúng ta sinh ra vào thời Tân Ước, sinh ra là con của Giáo Hội. Hai hạnh phúc lớn đó lại phát sinh nhiều hạnh phúc khác nữa ...
2. Nhưng ta đừng ỷ lại. Muốn được cứu độ thì vẫn phải cố gắng, phải luôn sám hối quay về đường chính.
3. “Nước Trời phải đương đầu với sức mạnh, ai mạnh sức thì chiếm được”. Trong đời sống đạo, cái quý là làm sao sống trọn vẹn được cả hai khía cạnh sau đây:
- Vừa êm ái dịu dàng, bình an, thoải mái.
- Vừa hăng say, quyết liệt, chiến đấu.
Một người ươn lười, ẻo lả, xười xĩnh, ngại phấn đấu chẳng có hy vọng chiếm được nước Trời. Cần phải “khó với mình, và dễ với người”.
Một người lúc nào cũng hung hăng, quyết liệt chiến đấu, duy ý chí sẽ có nguy cơ chẳng bao giờ hưởng được sự bình an. Dễ sống bất mãn với người, với mình. Dễ biến thành kiểu sống đạo của mình, hơn là kiểu sống đạo Chúa muốn.
4. “Từ thời ông Gian Tẩy Giả cho đến bây giờ, Nước Trời phải đương đầu với sức mạnh, ai mạnh sức thì chiếm được” (Mt 11,12)
Nhà giam chìm ngập trong khói lửa. Gió xô rạp những cành cây khẳng khiu, ngập ngụa trong khói đen dầy đặc. Bọn quan, lính chạy lăng xăng canh giữ mọi cửa nhà giam. Làng xóm lịm đi trước cuộc tàn sát dã man. Ba trăm giáo dân xứ Thơm tỉnh Bà Rịa bị thiêu đốt trong lửa đỏ. Họ đã chiến thắng và chiếm lĩnh Nước Trời bằng chính mạng sống mình.
Có những lúc tôi đã không dám làm dấu thánh một cách nghiêm túc trước bữa ăn ở nơi có đông người. Tôi vẫn thường yếu đuối như thế khi phải tuyên xưng lòng tin, lòng cậy trông nơi Chúa của mình.
Cầu nguyện: Lạy Chúa, con là kẻ yếu đuối. Xin nâng đỡ con bằng cánh tay mạnh mẽ của Người. Xin cho con biết vươn mình lên cao mãi, mặc cho mọi cơn gió tung hoành, để đáng được ở bên Người và được Người chia xẻ vinh quang. (Epphata)
Suy Niệm 10: Nước Trời phải dùng sức mạnh mới chiếm được
(Lm Giuse Đinh Tất Quý)
1. Vâng! Quả là bài Tin Mừng hôm nay nói đến một con người đặc biệt, có sứ mệnh cũng đặc biệt, con người đó là Gioan Tẩy Giả. Chúa Giêsu ca tụng ông vì ông có một số đức tính cao cả mà ít ai có được như ông.
Trước hết, ông là một người quả cảm không bao giờ chịu lùi bước và chịu thua sự dữ: "Các người đi ra sa mạc để coi cái gì? Cây sậy rung trước gió ư?" (Mt 11,7) Gioan không phải là cây sậy. Gioan đã dám đương đầu với sự xấu. Gioan không nể vua Hêrôđê khi khuyến cáo vua không được lấy vợ của người anh cùng cha khác mẹ với mình. .
Thứ đến là ông dám hy sinh vì sứ mạng.
Một nông dân đi xe ngựa ra phố. Đến một cửa tiệm, ông dừng xe vào mua đồ. Ông vừa tới cửa thì con ngựa hí lên và bỏ chạy. Ông vội vàng chạy ra xiết chặt dây cương.
Con ngựa càng hoảng sợ hơn và chạy tứ tung trên đường, kéo theo người nông dân tội nghiệp. Dân chúng đổ xô ra, đến khi ghìm được ngựa thì người nông dân bê bết máu và thoi thóp thở. Một người nói:
- Sao mà ông dại dột hy sinh đời mình vì con ngựa và chiếc xe như thế?
Ông thều thào:
- Cứ nhìn vào trong xe thì biết!
Họ nhìn vào và thấy đứa con nhỏ của ông còn đang ngủ.
Người nông dân hy sinh vì đứa con. Gioan Tẩy Giả hy sinh vì sứ mạng. Vì sứ mạng, Gioan từ bỏ mọi sự để sống cuộc sống nghèo khó. Cuộc sống của ông rất đơn giản và đạm bạc: thức ăn là những thứ tìm được ở rừng, đồ mặc thì làm bằng những tấm da thú; dép ông mang ở dưới chân cũng như vậy.
Và sau cùng, ông dám lãnh nhận một sứ mệnh mà ông biết là rất khó khăn: "Các ngươi lên rừng xem gì? Xem một tiên tri ư? Ta bảo các ngươi: còn hơn cả một tiên tri nữa. " (Mt 11,9) Về ông đã có lời chép: "Này Ta sai sứ thần đi trước mặt ngươi để dọn đường cho ngươi".
Vâng! Gioan quả xứng đáng với lời ca tụng của Chúa. .
2. Thế nhưng, Chúa lại nói thêm: "Kẻ nhỏ nhất trong Nước Trời còn cao trọng hơn ông" (Mt 11,11).
Gioan cao trọng nhưng chỉ cao trọng hơn những người ở trần gian. Còn một thực tại khác cao trọng hơn. Đó là Nước Trời và những người được ở trong Nước đó. Sở dĩ Nước Trời có giá trị lớn lao như vậy vì có sự hiện diện của Chúa. Cho nên những người ở trong Nước đó dù có nhỏ cũng còn cao trọng hơn Gioan.
Nhưng ai là người xứng đáng được ở trong Nước đó? Chúa Giêsu đã chẳng dấu diếm gì những điều Ngài đòi hỏi: "Nước Trời phải dùng sức mạnh mới chiếm được" (Mt 11,12).
Trong một cuốn sách nổi tiếng viết cho giới trẻ, Đức Cha Tiamer Toth đã để lại những lời như thế này: "Nam tướng J. Eotvos, một nhà tư tưởng có tiếng của Hungary đã nói:
"Giá trị chân chính của con người không phải bởi trí năng, nhưng là bởi sức mạnh của chí khí"
Một mùa xuân, anh nông dân đứng bên cạnh thửa ruộng, đưa mắt nhìn những luống cày thân yêu đang phơi mình dưới ánh sáng và tự hỏi:
- Năm nay, hỡi mảnh ruộng của ta, mi có đem lại cho ta cái gì chăng?
Những mảnh ruộng kia lại trả lời bằng một câu hỏi khác:
- Nhưng thưa ông, trước hết ông hãy cho tôi biết ông định cho tôi cái gì đã?
Người bạn trẻ cũng dừng bước trước cánh cửa nhiệm mầu của đời sống và cũng hỏi một lời tương tự:
- Hỡi đời sống, mi có dành cho ta cái gì không? Cái gì sẽ chờ đợi ta từ năm này sang năm khác?
Nhưng đời sống sẽ đáp lại chàng trẻ tuổi:
- Hỡi anh, điều đó còn tùy ở những gì anh cho tôi, phần của anh sẽ được xứng với công việc của anh. Anh sẽ hái quả của hạt giống anh gieo.
Vào thời kỳ cấm đạo đẫm máu trong thế kỷ thứ nhất của đạo Thiên Chúa, một người dân quê tên là Barlaam bị bắt và bị dẫn ra trước tượng thần Jupiter.
Người ta giục anh: "Hãy bỏ hương vào lửa rồi dâng cúng cho Thần Linh chúng ta đi!"
- "Không"! Anh trả lời.
Người ta bắt đầu hành hạ anh, nhưng anh vẫn đứng im. Người ta nâng tay anh lên trên ngọn lửa, người ta nhét hương vào bàn tay anh và bảo anh chỉ có việc bỏ rơi hương xuống lửa:
- Hãy bỏ hương xuống, mày sẽ được tự do!
- Không.
Barlaam, người dân quê đó vẫn trả lời như thế. Anh vẫn đứng im, tay giơ lên ... ngọn lửa bốc mạnh liếm hẳn vào bàn tay anh, hương bắt đầu bén khói, nhưng anh vẫn không động đậy ...
Bàn tay anh bị cháy xém với hương, nhưng Barlaam thà chịu chết vì Đạo còn hơn chối Chúa.
Vâng, một quả tim quả cảm, biết chịu đựng! Đó chính là sức mạnh để chiếm Nước Trời.
Lạy Chúa, chúng con là những kẻ yếu đuối. Xin nâng đỡ chúng con bằng cánh tay mạnh mẽ của Người. Xin cho chúng con biết vươn mình lên, mặc cho những sóng gió tung hoành, để đáng được ở bên Người và được Người chia sẻ vinh quang. (Epphata).
Suy Niệm 11: Sức mạnh của nước trời
(PM Cao Huy Hoàng)
Có nhiều người nghe lời kêu gọi của Gioan mà sám hối và chịu phép rửa để dọn lòng đón Đấng Cứu Thế đến. Nhưng cũng không thiếu những người lòng chai dạ đá, cứng lòng tin. Có thể họ là những người chẳng khao khát Đấng Cứu Thế, hoặc không muốn sám hối vì mãi còn lưu luyến những chuyện bất chính phàm trần. Nguyên nhân của việc cứng tin là kiêu căng. Nguyên nhân của việc không khát khao Đấng Cứu Thế, và bám víu vật chất cũng là vì kiêu căng dẫn tới chỗ mê muội.
Ơn cứu độ không dành cho người kiêu căng. Bởi lẽ, kiêu căng là bản tính của ma quỷ, là đối tượng phải tiêu diệt, và vòng vây hãm con người cần phải được giải nguy. Chúa Giê-su đến để cứu chúng ta khỏi vòng vây kiêu căng của ma quỷ, để được Thiên Chúa xót thương cứu độ. Vì thế, Chúa nói ông Gioan cao trọng vì sứ vụ Thiên Chúa đã trao, nhưng kẻ bé mọn trong nước trời còn cao trọng hơn ông. Nghĩa là, ai nên giống Chúa Giê-su hiền lành khiêm nhượng, mới chiếm được nước trời, và sẽ nên cao trọng trong Nước trời. Muốn được như thế, con người cần phải chiến đấu anh dũng với cái tôi kiêu căng của mình. Chúa nói: “Phải dùng sức mạnh mà chiếm lấy. Những kẻ mạnh mẽ can đảm mới chiếm được nước trời”.
Lấy đâu ra sức mạnh, sự can đảm mà chiến đấu? Hãy tin vào Chúa Giê-su, và học với Người bài hiền lành khiêm nhượng. Khiêm nhượng và hiền lành nhân từ xót thương là sức mạnh của Nước Trời, trong Chúa Giê-su. Chính Chúa Giê-su đã làm người nhỏ nhất trong Nước Trời. Người vâng Thánh ý Cha, từ bỏ địa vị cao sang của mình, làm thân phận con người hèn mọn, để cứu con người hèn mọn khốn khổ.
Lạy Chúa, xin cho các gia đình đón nhận Chúa Giê-su và học sống hiền lành, khiêm nhượng, yêu thương. Amen.
Suy Niệm 12: Chưa có ai cao trọng hơn Gioan
(Lm. Micae Võ Thành Nhân)
Từ xưa tới nay, các người nam trong những người nữ sinh ra thì chưa có ai cao trong hơn thánh Gioan (Mt 11, 11). Thánh Gioan Tẩy Giả trở nên cao trọng vì Chúa đã chọn ngài làm tiền hô của Chúa. Mặt khác, vì cuộc sống của ngài quá gương mẫu, đạo hạnh, kiêng khem, khổ chế, hãm mình: “Ông Gioan mặc áo lông lạc đà, thắt lưng bằng dây da, lấy châu cháu và mật ong rừng làm thức ăn” (Mt 3, 4). Vì thế mà dân chúng tuôn đến với ngài rất đông: “Bây giờ, người ta từ Giêrusalem và khắp miền Giuđêa cùng khắp vùng ven sông Giođan, kéo đến với ông” (Mt 11, 5). Tuy ngài cao trọng như thế, được Chúa đề cao, được Chúa tuyên dương, được Chúa yêu quí, nhưng mà lại người nhỏ nhất trong nước trời lại cao trọng hơn ngài. Tại sao Chúa nói về ngài có vẻ nghịch lý vậy.
Thật thế, thời thánh Gioan Tẩy Giả, mặc dù ngài được thấy Chúa, được tiếp xúc với Chúa, được thưa chuyện với Chúa, mà ai trong chúng ta cũng mơ ước được như ngài, nhưng mà ngài chưa được hưởng các nguồn ơn thánh qua các bí tích mà Chúa đã thiết lập từ cuộc khổ nạn và phục sinh của Chúa, nhất là bí tích Thánh Thể, Chúa ban sự sống thần linh, đời đời của Chúa cho con người chúng ta, nuôi dưỡng chúng ta trên con đường lữ thứ trần gian về với Chúa mà ngài chưa được điều cao quí bậc nhất này. Vì thế, mà con người chúng ta thời ấy còn rất mập mờ, chưa hiểu được ơn Chúa ban và sự cộng tác với ơn Chúa. Nếu con người chúng ta cộng tác với ơn Chúa thì hiệu quả ơn Chúa mới lớn nhanh, mới phát triển mạnh, có lợi cho con người chúng ta. Do vậy, mà con người chúng ta dựa vào sức mình chứ không dựa vào ơn Chúa trong việc hướng đến tương lai để mình được vào trong nước trời: “Từ thời Gioan Tẩy giả đến giờ, nước trời phải dùng sức mạnh mà chiếm lấy, và những kẻ mạnh mẽ can đảm mới chiếm được” (Mt 11, 12). Qua đó, chúng ta thấy con người thời nay cần phải dựa vào ơn Chúa, công tác với ơn Chúa ban thì chúng ta sẽ được nước trời làm gia nghiệp muôn đời.
Riêng đối với Chúa, thánh Gioan Tẩy Giả đã đến trong tinh thần của tiên tri Êlia. Nghĩa là tinh thần trung thành với giao ước, tuân giữ lề luật Chúa, làm việc thiện để mưu cầu lợi ích cho mọi người, giúp mọi người sống theo thánh ý Chúa để được hạnh phúc. Cuối cùng thánh Gioan Tẩy Giả đã chết vì làm chứng cho sự thật, ngài không tháo lui trong sứ mạng làm chứng cho cho Chúa, ngăn cản con người chúng ta đừng làm điều ác, hại người anh chị em của mình, gây đau khổ cho anh chị em của mình để rồi làm cho thế giới lộn xộn, bất ổn. Ngài chấn chỉnh tất cả mọi sự để đón Chúa đến thăm viếng chúng ta, mang theo phần thưởng cho chúng ta là ơn cứu độ.
Lạy Chúa, xin Chúa ban ơn thúc đẩy chúng con để chúng con lo dọn linh hồn, lo dọn con đường trong Mùa Vọng này để Chúa đến với chúng con. Lạy Chúa, vì mầu nhiệm Chúa xuống thế làm người, xin Chúa cứu chữa chúng con. Amen.
Suy Niệm 13: Chưa có ai cao trọng hơn ông Gioan
(Emmanuel Nguyễn Thanh Hiền, OSB)
Qua Lời Tổng Nguyện của Thứ Năm Tuần 2 Mùa Vọng hôm nay, các nhà phụng vụ muốn chúng ta xin Chúa thôi thúc tâm hồn chúng ta lo dọn đường cho Con Một Chúa, để nhờ mầu nhiệm giáng lâm của Người, lòng trí chúng ta được trở nên trong sạch mà phụng thờ Chúa.
Lòng trí chúng ta được trở nên trong sạch, nhờ sương ánh sáng mà Chúa sẽ ban cho những ai khao khát đợi trông Người, như trong bài đọc một của giờ Kinh Sách, ngôn sứ Isaia cho thấy: Vừa cầu xin, vừa tha thiết mong chờ, khi cầu nguyện và cậy trông, chúng ta mong Chúa ban cho dân Người sự sống viên mãn. Ngày Chúa Kitô ngự đến, Người sẽ cứu thế gian khỏi chết. Này những kẻ nằm trong bụi đất, hãy trỗi dậy, hãy reo mừng! Vì sương Đức Chúa ban là sương ánh sáng. Trong số những kẻ nghỉ yên trong bụi đất, nhiều người sẽ trỗi dậy.
Lòng trí chúng ta được trở nên trong sạch, nhờ lòng khao khát được ngắm nhìn Thiên Chúa, như trong bài đọc hai của giờ Kinh Sách, thánh Phêrô Kim Ngôn nói: Vì yêu mến, người ta khát khao được ngắm nhìn Thiên Chúa. Tình yêu không thể không nhìn thấy điều mình yêu. Bởi thế, tất cả các thánh đều cho rằng những điều mình đã đạt được, vẫn còn quá ít, nếu không được nhìn thấy Chúa… Đức Chúa phán: Như mẹ hiền an ủi con thơ, Ta sẽ an ủi các ngươi như vậy. Các ngươi sẽ nhận được ơn phù trợ từ Giêrusalem là đền thánh Ta đã chọn. Nhìn thấy thế, lòng các bạn sẽ chan chứa niềm vui. Ta sẽ ban ơn cứu độ tại Xion, sẽ cho Giêrusalem được vinh quang rạng rỡ.
Lòng trí chúng ta được trở nên trong sạch, nhờ tin tưởng vào lòng từ bi thương xót, và tình yêu cứu chuộc của Thiên Chúa, như trong bài đọc một của Thánh Lễ, Đức Chúa phán qua miệng ngôn sứ Isaia cho thấy: Chính Ta là Đấng cứu chuộc ngươi, là Đức Thánh của Ítraen. Trong bài Đáp Ca, Thánh Vịnh 144, vịnh gia đã kêu xin: Chúa là Đấng từ bi nhân hậu, Người chậm giận và giàu tình thương. Lạy Thiên Chúa con thờ là Vua của con, con nguyện tán dương Chúa và chúc tụng Thánh Danh muôn thuở muôn đời. Chúa nhân ái đối với mọi người, tỏ lòng nhân hậu với muôn loài Chúa đã dựng nên.
Câu Tung Hô Tin Mừng, mà các nhà phụng vụ đã chọn cho ngày lễ hôm nay là: Trời cao hỡi, nào hãy gieo sương mây hãy đổ mưa, mưa đức công chính đất mở ra đi, cho nẩy mầm Đấng cứu độ. Trong bài Tin Mừng, Đức Giêsu nói: Chưa từng có ai cao trọng hơn ông Gioan Tẩy Giả. Không ai cao trọng hơn ông Gioan, bởi vì, ông là ngôn sứ trực tiếp dọn đường cho Đấng Cứu Độ, Đấng mà muôn dân khao khát đợi trông. Khi thấy thế gian chìm ngập trong sợ hãi, Thiên Chúa không ngừng hành động. Người lấy tình thương mà kêu gọi, lấy ân sủng mà thúc giục, lấy đức ái mà giữ gìn, và lấy sự dịu dàng mà ấp ủ. Đó là lý do khiến Người phải dùng đến hình phạt Hồng Thủy mà tẩy rửa mặt đất đã hóa ra khô cằn vì bao điều xấu xa. Đó cũng là lý do khiến Người kêu gọi ông Ápraham từ giữa dân ngoại, thêm cho tên ông một vần, đặt ông làm tổ phụ những người tin. Đó cũng là lý do khiến Người dùng các chiêm bao để khích lệ ông Giacóp, đang lúc ông trốn chạy. Đó cũng là lý do khiến Người dùng tiếng mẹ đẻ của ông Môsê kêu gọi ông, trò chuyện thân mật với ông như cha con, mời ông trở nên anh hùng giải phóng dân tộc mình. Ngọn lửa tình yêu Thiên Chúa đốt cháy lòng người, nên những ai mang vết thương lòng đều mong ước được nhìn xem Thiên Chúa nhãn tiền. Tình yêu nếu không được thoả mãn, sẽ làm cho người đang yêu héo hắt. Tình yêu làm nảy sinh ước muốn, lao mình vào những điều quá giới hạn. Chúa luôn thôi thúc tâm hồn chúng ta lo dọn đường cho Con Một Chúa, ước gì nhờ mầu nhiệm giáng lâm của Người, lòng trí chúng con được trở nên trong sạch mà phụng thờ Chúa. Ước gì được như thế!
- Viết bởi Mt 11, 28-30
Dịu hiền và khiêm nhượng trong lòng.
Thứ Tư tuần 2 mùa vọng.
"Hãy đến với Ta, hỡi những ai vất vả cực nhọc".
LỜI CHÚA: Mt 11, 28-30
Khi ấy, Chúa Giêsu phán rằng: Hãy đến với Ta tất cả, hỡi những ai khó nhọc và gánh nặng, Ta sẽ nâng đỡ bổ sức cho các ngươi. Hãy mang lấy ách của Ta và hãy học cùng Ta, vì Ta dịu hiền và khiêm nhượng trong lòng, và tâm hồn các ngươi sẽ gặp được bình an.
Vì ách của Ta thì êm ái và gánh của Ta thì nhẹ nhàng.
* Đọc GIỜ KINH PHỤNG VỤ link CGKPV
* Các BÀI ĐỌC TRONG THÁNH LỄ
Suy Niệm 1: Ách của tôi êm ái
(Lm. Ant. Nguyễn Cao Siêu SJ. )
Khi quy hoạch thành phố tương lai,
người ta không quên dành một khu vui chơi giải trí.
Nghỉ ngơi thư giãn là một nhu cầu quan trọng
cho những ai sống trong nền kinh tế thị trường.
Nghỉ ngơi không chỉ cần cho thân xác hay trí óc.
Nghỉ ngơi còn cần cho tâm hồn.
Cái tâm của chúng ta cần được sống trong an tĩnh
giữa sóng gió dao động, giữa chợ đời bon chen.
Nhiều người bị suy nhược thần kinh, bị stress.
Có người tự tử vì không đủ sức để tiếp tục sống.
Ðức Giêsu mời gọi chúng ta đến với Ngài,
tất cả những ai đang vất vả mang gánh nặng nề.
Gánh nặng của nỗi buồn đau và vấp ngã trong quá khứ.
Gánh nặng của trách nhiệm và yếu đuối hiện tại.
Gánh nặng phải mang vì người khác ...
Tất cả những ai bị căng thẳng và lo âu,
chán chường và mệt mỏi.
Tất cả những ai muốn tìm một chút nghỉ ngơi.
Hãy đến với Ngài, ta sẽ gặp được sự an tĩnh.
Hãy mang lấy ách của tôi.
Ðức Giêsu không ngần ngại nói đến ách của Ngài
mà những kẻ đến với Ngài phải mang.
Ngài không giấu ta về những đòi hỏi nghiêm túc,
về con đường hẹp mà ít người muốn đi,
về thánh giá mà ta phải vác để theo Ngài.
Như thế sự an bình thư thái Ngài hứa ban
đâu phải là thứ bình an rẻ tiền, không cần từ bỏ.
Ðó là thứ bình an ngay giữa khổ đau và nước mắt,
vì biết mình được Thiên Chúa yêu thương,
vì xác tín là mình đang làm đúng ý Thiên Chúa.
Nếu ách của Ngài êm và gánh của Ngài nhẹ,
thì là vì chúng được đón nhận trong tình yêu.
Tình yêu làm cho mọi sự trở nên êm nhẹ.
“Chỗ nào có lòng yêu mến, thì không cảm thấy vất vả;
mà giả như có vất vả đi nữa
thì người ta cũng thích cái vất vả đó” (thánh Âutinh)
Hãy học với tôi.
Ðức Giêsu kêu gọi chúng ta làm học trò của Ngài.
Chúng ta học trường Giêsu, học Thầy Giêsu, học bài Giêsu.
Bài học nằm nơi chính trái tim Ngài:
“Vì tôi có trái tim hiền hậu và khiêm nhu. ”
Khi mang trong mình những tâm tình của Thầy Giêsu
thì tâm hồn ta sẽ được bình an trở lại.
Chúng ta cần theo học Thầy Giêsu suốt đời,
cần lột bỏ những tự hào về khôn ngoan thông thái,
cần sống hồn nhiên khiêm tốn như trẻ thơ.
Chỉ như thế chúng ta mới được Thầy Giêsu mạc khải,
và đưa vào thế giới của Thiên Chúa.
Cầu nguyện:
Lạy Chúa Giêsu,
xin cho con trở nên đơn sơ bé nhỏ,
nhờ đó con dễ nghe được tiếng Chúa nói,
dễ thấy Chúa hiện diện
và hoạt động trong đời con.
Sống giữa một thế giới đầy lọc lừa và đe dọa,
xin cho con đừng trở nên cứng cỏi,
khép kín và nghi ngờ.
Xin dạy con sự hiền hậu
để con biết cảm thông và bao dung với tha nhân.
Xin dạy con sự khiêm nhu
để con dám buông đời con cho Chúa.
Cuối cùng, xin cho con sự bình an sâu thẳm,
vui tươi đi trên con đường hẹp với Ngài,
hạnh phúc vì được cùng Ngài chịu khổ đau. Amen.
Suy Niệm 2: Giêsu Thiên Chúa nâng đỡ
(TGM Giuse Ngô Quang Kiệt)
Kiếp sống con người thật vất vả. Tác giả Thánh vịnh nói cuộc đời con người “phần lớn là gian lao khốn khổ” khi sống trong “thung lũng nước mắt”. Không phải chỉ có đau khổ, nhưng còn những gánh nặng: gánh nặng sự sống, gánh nặng bổn phận, nhất là gánh nặng tội lỗi. Isaia cho biết tự sức con người không gánh nổi đời mình. Vì kiếp người quá vất vả gian lao. Đến nỗi “thanh niên thì mệt mỏi, nhọc nhằn, trai tráng cũng ngả nghiêng, lảo đảo”.
Phải đến với Chúa vì “những người cậy trông Đức Chúa thì được thêm sức mạnh. Như thể chim bằng, họ tung cánh. Họ chạy hoài mà không mỏi mệt”.
Hôm nay Chúa Giêsu khẳng định: “Hãy đến với Ta, hỡi tất cả những ai đang vất vả mang gánh nặng nề, Ta sẽ nâng đỡ bổ sức cho”.
Chúa Giêsu mời gọi ta đến với Chúa vì chính Chúa đã đến với ta. Như Chúa đã chấp nhận gánh nặng nhân loại, Chúa mời gọi ta hãy chấp nhận gánh nặng của bản thân, của tội lỗi, của trách nhiệm của ta.
Chúa Giêsu mời gọi ta đến với Chúa để Chúa bổ sức cho ta. Sức riêng ta không vác nổi gánh nặng. Nhưng có sức của Chúa ta sẽ mạnh mẽ như Isaia đã loan báo: “Những người cậy trông Đức Chúa thì được thêm sức mạnh”.
Chúa Giêsu mời gọi ta đến với Chúa để thăng hoa thánh giá đời ta khi không coi đó là ách giữa đàng, nhưng coi đó là ách của Chúa. Ách của Chúa là tình yêu. Tình yêu có sức biến đổi lạ lùng. Ách nặng nề sẽ trở nên ngọt ngào nhẹ nhàng khi ta gánh vác với tình yêu mến.
Mùa Vọng đã qua đi được một nửa, cuộc chờ đợi còn kéo dài, cuộc thanh luyện càng quyết liệt, nhưng ta hãy an tâm tiếp tục lên đường, vì Chúa hằng theo dõi bước đường của ta, Chúa hằng ban ơn trợ giúp ta, và nhất là Chúa Giêsu cùng đi với ta, cùng chia sẻ gánh nặng với ta. Thật là một chặng đường gian khổ nhưng đầy ngọt ngào vì có Chúa và được cùng Chúa chia sẻ.
Suy Niệm 3: Những ai khó nhọc hãy đến với Ta
(‘Suy Niệm Phúc Âm Hằng Ngày’)
Sách "Liệt Tử" có câu truyện như sau:
Nước Tống có một người đã đứng tuổi tự nhiên mắc phải chứng bệnh quên lãng. Buổi sáng lấy gì của ai, buổi chiều đã quên. Hôm nay ai cho cái gì ngày mai lại chẳng nhớ. Ra đường quên cả đi, về nhà quên cả ngồi. Trước đã làm gì và bây giờ đang làm gì đều quên hết, sau này cũng chẳng nhớ. Cả nhà rất lo lắng về bệnh tình của anh nên đã mời thầy thuốc, chạy đủ hết mọi cách mà cũng chẳng khỏi.
Sau đó có ông thầy đồ người Lỗ nói rằng là tôi chữa được.
Người bệnh hứa với ông đồ: Hễ chữa được bệnh sẽ chia cho ông một phần gia tài.
Trước khi trả lời đáp ứng nhận chữa bệnh, ông đồ dùng nhiều cách thức khác nhau để tìm hiểu khả năng trí nhớ của người bệnh này. Trước hết ông đồ thử bằng cách lột áo của người bệnh để rét lạnh thì thấy anh ta xin áo. Bỏ đói không cho ăn thì anh ta xin ăn. Ðem anh ta vào chỗ tối tăm thì anh ta xin ra chỗ sáng. Sau đó ông đồ mới nhận lời chữa bệnh. Chẳng biết ông đồ chữa thế nào mà sau bảy ngày anh ta đã hết bệnh và trở lại bình thương.
Tuy nhiên, khi đã tỉnh táo như thường thì anh ta lại nổi giận, chửi vợ đánh con, cầm dao rượt đuổi ông đồ.
Người ta bắt giữ anh ta lại hỏi: Tại sao anh lại giận dữ như vậy?
Anh ta trả lời: Lúc trước tôi mắc bệnh quên thì lòng tôi thảnh thơi khoan khoái, trời đất có còn hay không tôi cũng chẳng cần biết. Nay tôi lành bệnh, tôi nhớ lại tất cả những chuyện của mấy mươi năm về trước như chuyện buồn, vui, yêu, ghét, thành công, thất bại, lòng tôi trở nên bối rối, ngổn ngang trăm mối. E rằng sau này các việc ấy cứ bám cứng lấy tâm trí tôi thì dù cho muốn quên chúng đi trong một giây, một phút liệu tôi có được như ý muốn hay không?
Anh chị em thân mến!
Nhìn một người điên, người mất trí, có kẻ chép miệng khen người ấy hạnh phúc, vì chẳng có gì phải lo âu phiền muộn. Thế nhưng nếu hỏi lại những người vừa buông lời khen này xem họ có muốn trở thành người hạnh phúc kiểu như vậy không? Chắc chắn họ sẽ trốn chạy trước câu trả lời, vì đã làm người thì chẳng ai muốn mình được gọi là kẻ ngây ngô, không nhớ, không biết chuyện gì. Không muốn bị gọi là kẻ ngây ngô thì con người lại phải đối đầu với lo âu, phiền muộn, nóng giận, đau khổ, chúng là gánh nặng của thuyết nhân sinh.
Mở mắt chào đời lúc ngửa tay đón nhận sự sống thì cũng là lúc con người phải mang lấy gánh nặng nề. Bởi thế, không ít kẻ dám đánh đổi tất cả để tìm kiếm một chút thú vui để được quên trong chốc lát, có kẻ tìm quên trong sợi khói phù du, có người tìm quên trong men say trác táng, rồi cũng tìm được thú vui trong chốc lát. Nhưng rồi sau những phút giây ngán ngủi ấy, thực tế lại trở nên nặng nề hơn, gánh nặng cuộc đời càng xúi giục sâu hơn.
Lại cũng có những triết thuyết như vô cảm, vô vị, vô sắc chỉ giúp con người giải thoát lo âu vướng bận của cuộc sống, thực hiện những hướng dẫn đó thật là một thái độ lý tưởng cho những ai muốn kiếm tìm sự bình an. Thực tế trong cuộc sống thử hỏi mấy ai hiểu được điều này, vì cuộc sống con người gắn liền với cái cảm tính lo âu, nóng giận, buồn phiền ...có tránh cũng chẳng thoát, khó nhọc và gánh nặng là thân phận của kiếp sống con người.
Về phần Chúa Giêsu, cảm thông với phận kiếp làm người nên khi đến cứu chuộc trần gian Ngài đã nhận một cuộc đời lam lũ ở làng quê Nazareth. Và qua bài Tin Mừng hôm nay, Ngài kêu gọi những ai khó nhọc và gánh nặng hãy đến với Ngài, nếu luật lệ Do Thái đã bị các luật sĩ và biệt phái biến thành chiếc ách kìm kẹp dân Chúa. Hãy đến với Ngài, nếu đau khổ của kiếp nhân sinh như chiếc gánh đè nặng trên vai con người. Ðến với Ngài không phải để được cất khỏi những điều ấy. Vì Ngài đến không phải để hủy bỏ lề luật, nhưng là để kiện toàn lề luật và làm cho ách trở nên êm ái và gánh trở nên nhẹ nhàng.
Lề luật phải được giữ trong tinh thần và sự thật. Lề luật giải phóng con người và đau khổ là con đường dẫn đến vinh quang. Gánh trở nên nhẹ nhàng vì từ nay con người không phải một mình mang lấy đau khổ nhưng đã có người chia sẻ cảm thông. Dân tộc Do Thái đã hằng mong mỏi chở Ðấng Cứu Thế đến, vì khi Ngài đến Ngài sẽ lau khô mọi giọt lệ trên khuôn mặt và kẻ nhọc mệt sẽ được Ngài nâng đỡ bổ sức.
Sống trong tâm tình mùa vọng, mùa trông đợi, ước mong rằng mỗi người trong chúng ta cũng sẽ tìm đến với Chúa Giêsu, Ðấng Cứu Thế để được Ngài an ủi, nâng đỡ, bổ sức và đồng thời học nơi Ngài tâm tình biết chia sẻ cảm thông với người khác. Vì mang kiếp phận con người chẳng ai tránh khỏi khó nhọc và gánh nặng, nhưng khó nhọc sẽ bớt khi được người chia sẻ, gánh nặng sẽ vơi khi có kẻ cảm thông.
Suy Niệm 4: Ách êm ái.
Trong lịch sử nhân loại, nhiều khi những cuộc cách mạng nhằm lật đổ một tình trạng bất công lãi dẫn đến một tình trạng bất công còn tệ hại hơn. Cuộc cách mạng Pháp 1789 đã gây ra biết bao nhiêu đổ máu. 80 triệu người Trung hoa đã chết dưới bàn tay của Mao trạch Đông. 2 triệu người Cambốt đã chết trên cánh đồng giết người của Pônpốt. Quả thực, con người mơ ước thiên đàng, nhưng lại rơi vào địa ngục.
Trong tôn giáo có lúc người ta cũng chứng kiến một hiện tượng tương tự: tôn giáo vốn là nơi nương tựa của con người: con người tìm đến với tôn giáo thường là để tìm một sự giải thoát nào đó. Nhưng nhiều khi thay vì tìm được thanh thản nơi tôn giáo, con người lại bị đè bẹp bởi những gánh nặng. Đó là trường hợp đã xảy ra cho những người mà Chúa Giêsu gọi là những kẻ bé mọn. Họ là những người vất vả gồng gánh nặng nề. Thật thế, vào thời Chúa Giêsu, trong Do Thái giáo, những người thiệt thòi nhất là những người bé mọn, thất học. Gồng gánh nặng nề mà các luật sĩ chất lên vai họ chính là vô số khoản luật mà họ phải tuân giữ mà không hề hiểu được ý nghĩa và mục đích, họ không đủ khả năng để phân biệt được cái thiết yếu với điều phụ thuộc. Tôn giáo như thế không phải là một giải thoát, nhưng chỉ là một cầm buộc, đi tìm sự giải thoát, con người lại trở thành nô lệ.
Với những người bé mọn ấy, Chúa Giêsu đã mời gọi hãy mang lấy ách của Ngài, vì ách của Ngài thì êm ái và gánh của Ngài thì nhẹ nhàng. Thật ra, Chúa Giêsu không rao giảng một tôn giáo mới. Ngài không đạp đổ hệ thống tôn giáo có sẵn. Trái lại Ngài chỉ cho con người thấy đâu là cái cốt lõi của Lề Luật và của đạo. Cái cốt lõi ấy chính là tình yêu thương. Ngài đã từng tuyên bố: “Ta đến không phải để bãi bỏ Lề Luật và các tiên tri, nhưng để kiện toàn”. Và như thánh Phaolô đã giải thích: “Yêu thương là chu toàn cả Lề Luật”. Thật thế, Chúa Giêsu đã kiện toàn Lề Luật bằng giới răn yêu thương, Ngài thu tóm cả Lề Luật thành hai chữ yêu thương. Một bộ luật nặng nề và không hồn đã trở thành nhẹ nhàng nhờ có linh hồn là tình yêu thương. Đó là cuộc cách mạng vĩ đại nhất của Chúa Giêsu, cuộc cách mạng của tình thương. Chỉ có tình thương mới là khí giới lật đổ được bất cứ một bất công nào và xây dựng được một xã hội công bằng thật sự. Chỉ có tình thương mới thực sự giải phóng con người khỏi mọi áp bức.
“Hãy mang lấy ách của Ta, vì ách của Ta thì êm ái. Hãy học cùng Ta, vì Ta hiền lành và khiêm nhường”. Lời mời gọi của Chúa Giêsu nhắc nhở chúng ta về cái cốt lõi của đạo. Đạo là chính Chúa, là tình yêu nhập thể. Sống đạo là sống bằng sức sống thần linh của Ngài, sống đạo là làm chứng và chia sẻ tình yêu của Ngài cho mọi người. Đó là cuộc cách mạng đích thực mà Chúa Giêsu muốn tiếp tục qua Giáo Hội và qua mỗi người chúng ta.
Suy Niệm 5: Tiếp đón Đức Giêsu là lãnh nhận ơn cứu độ
“Tất cả những ai đang vất vả mang gánh nặng nề, hãy đến cùng tôi, tôi sẽ cho nghỉ ngơi bồi dưỡng. Anh em hãy mang lấy ách của tôi, và hãy học với tôi, vì tôi có lòng hiền hậu và khiêm nhường. Tâm hồn anh em sẽ được nghỉ ngơi bồi dưỡng. Vì ách tôi êm ái, và gánh tôi nhẹ nhàng. ” (Mt. 11, 28-30)
Cho tới hết chương 10 Tin mừng theo thánh Mát-thêu, việc rao giảng nước trời hầu như không gặp trở ngại gì. Nhưng đến chương 11 và 12, Đức Giêsu bắt đầu gặp chống đối.
Trước hết, Gioan tẩy giả sai môn đệ đến hỏi: “Thưa Thầy, Thầy có đúng là Đấng phải đến không, hay chúng tôi còn phải đợi ai khác?” (Mt. 11, 2-6). Tiếp đến là dân chúng: “Thật vậy, Gioan đến không ăn không uống, thì thiên hạ bảo: Ông ta bị quỷ ám. Con Người đến, cũng ăn cũng uống như ai, thì thiên hạ lại bảo: Đây là tay ăn nhậu, bạn bè với quân thu thuế và phường tội lỗi” (Mt. 11, 18-19). Sau là đến những biệt phái bắt bẻ Đức Giêsu giữ luật ngày Sa-bát (Mt. 12, 1-8. 9-14). Họ còn chụp mũ Người là đồng lõa với tướng quỷ Bê-en-giê-bút (Mt. 12, 22-32).
Đức Giêsu đã ứng xử thế nào trước những phản đối của dân chúng và quyền bính Do-thái? Người ứng xử bằng hai cách: Trước tiên bằng một lời kêu cầu tạ ơn: “Lạy Cha là Chúa tể trời đất, con ngợi khen Cha, vì Cha đã giấu không cho bậc khôn ngoan thông thái biết những điều này, nhưng lại mặc khải cho những kẻ bé mọn” (Mt. 11, 25). Thứ đến, Người quay lại phía những kẻ khốn cùng: “Tất cả những ai đang vất vả mang gánh nặng nề, hãy đến cùng Tôi, Tôi sẽ cho nghỉ ngơi bồi dưỡng. Anh em hãy mang lấy ách của Tôi, và hãy học với Tôi vì Tôi có lòng hiền hậu và khiêm nhường. Tâm hồn anh em sẽ được nghỉ ngơi bồi dưỡng. Vì ách Tôi êm ái, và gánh Tôi nhẹ nhàng” (Mt. 11, 28-30).
Nhưng Đức Giêsu chống thái độ về giữ luật của biệt phái và những thầy thông luật, không phải Người giải phóng con người khỏi giữ luật luân lý. Trái lại, Người yêu cầu họ phải giữ luật nghiêm chỉnh và đúng căn tính của luật (Mt. 11, 5-7). Người đòi hỏi như vậy vì Người là Thầy có lòng êm ái và khiêm nhường. Quả thực, toàn bộ Tin mừng nhằm giới thiệu Đức Giêsu như là tôi tớ, khiêm nhường trước Thiên Chúa, và êm ái với mọi người. Thái độ của Người không như các nhà luân lý. Trước khi trình bày cho con người những đòi hỏi căn bản về đổi mới một điều luật, Đức Giêsu đã mang đến cho họ niềm vui của nước trời.
Mang lấy ách của Đức Giêsu, chính là gắn bó với Người, đi theo Người, học hỏi với Người về thực chất của lề luật, mà ưu tiên và trước hết, phải cảm nghiệm được niềm vui ơn cứu độ và lòng thương xót của Chúa Cha.
J. M. R
Suy Niệm 6: Hãy mang lấy “ách” và “gánh” của Đức Giêsu
“Anh em hãy mang lấy ách của tôi ...”. Đây chính là lời mời gọi của Đức Giêsu trong bài Tin Mừng hôm nay. Ngài lên tiếng mời gọi những ai muốn theo Ngài thì cũng phải mang lấy “ách” và “gánh” của Ngài.
Tuy nhiên, “ách” và “gánh” của Đức Giêsu thì hoàn toàn khác với “ách” và “gánh” của các Rapbi Dothái. Nếu “ách” và “gánh” của các thầy Dothái là những lề luật khắt khe và vụ hình thức, thì “ách” và “gánh” của Đức Giêsu lại trở nên êm ái và nhẹ nhàng. Bởi vì “ách” và “gánh” của Ngài cũng chính là đạo lý, cốt lõi Tin Mừng. Thế nên, hệ quả của “ách” và “gánh” đó chính là trở nên hiền lành và khiêm nhường trong lòng.
Như vậy, khi mang “ách” và “gánh” của Đức Giêsu, ấy là chúng ta tin Ngài để trở thành môn đệ. Trở thành môn đệ của Đức Giêsu thì phải trở nên giống như Ngài ở điểm khiêm nhường. Đồng thời học cho biết và sống sự hiền lành với tha nhân.
Nếu một khi chúng ta sống những đặc tính ấy của Đức Giêsu trong lòng mến, thì hẳn chúng ta sẽ được thanh thản và tâm hồn chúng ta sẽ được an vui bình an, nghỉ ngơi bồi dưỡng.
Ngày hôm nay, con người đang bị cơn lốc của kinh tế thị trường, của ăn chơi hưởng thụ, của những chân lý nửa vời lôi cuốn ..., nên họ muốn cho mình được thoát ly khỏi Thiên Chúa. Nhưng khi họ đã mời Chúa đi chỗ khác, thì ngay lập tức, cuộc đời của họ trở nên trống rỗng, cô đơn, bất an và đau khổ .... Họ mong muốn được tự do, nhưng thực ra, con người đang trở thành nô lệ của những thứ mau qua chóng hết.
Sứ điệp Lời Chúa hôm nay mời gọi chúng ta hãy mang lấy “ách” và “gánh” của Đức Giêsu chính là từ bi, nhân hậu, hiền hòa, khiêm nhường, là những hy sinh, từ bỏ, và sẵn sàng vác Thập Giá hằng ngày mà đi theo Chúa. Sống mến Chúa trên hết mọi sự và yêu tha nhân như chính mình. Làm mọi việc thiện vì lòng yêu mến Chúa. Tránh kiêu ngạo, hình thức, vụ lợi. Không vì luật mà bỏ qua tình Chúa, tình người để rồi bất nhân với nhau.
Lạy Chúa Giêsu, xin Chúa ban cho chúng con được trở thành môn đệ thực sự của Chúa khi mang trong mình và sống tinh thần của Chúa trong cuộc sống hằng ngày. Amen.
Ngọc Biển SSP
Suy Niệm 7: Sống Tin mừng, mọi sự sẽ nhẹ nhàng
(TGM Giuse Nguyễn Năng)
Sứ điệp: Cuộc sống con người tràn ngập những vất vả thương đau. Chúa Giêsu mời gọi ta đến với Chúa để được Chúa cho nghỉ ngơi bồi dưỡng. Nhờ sống theo Tin mừng, sống tình mến Chúa yêu người, ta sẽ thấy mọi sự trở nên êm ái nhẹ nhàng.
Cầu nguyện: Lạy Chúa Giêsu, Chúa nhìn thấy cuộc sống con vất vả ngược xuôi sớm tối đi tìm miếng cơm manh áo. Chúa nhìn thấy những giọt mồ hôi nhỏ xuống, đôi bàn tay chai cứng, đôi chân mỏi mệt rã rời. Chúa nhìn thấy những ưu tư khắc khoải, những phiền muộn khổ đau. Chúa cũng nhìn thấy tội lỗi đè nặng lương tâm con. Đã bao lần con muốn buông xuôi tất cả, con chán nản thất vọng. Cũng có lúc con tìm quên lãng cuộc đời trong những thú vui thấp hèn mau qua. Nhưng con chẳng trốn được cuộc đời. Tất cả vẫn còn đó.
Giờ phút này con đến bên Chúa theo lời Chúa mời gọi con. Con đến trao vào tay Chúa, trao vào trái tim Chúa tất cả gánh nặng cuộc sống con. Con đến với Chúa không phải để chạy trốn cuộc đời, nhưng để nài xin Chúa ban cho con lòng yêu mến. Tình yêu sẽ làm cho gánh nặng trở nên nhẹ nhàng. Cuộc đời Chúa cũng đâu thiếu những vất vả khổ đau. Gánh nặng cuộc đời cũng đã nhiều lần đè Chúa quỵ ngã, nhất là trên con đường Thánh giá. Tuy nhiên, đối với Chúa tất cả đều nhẹ nhàng, vì Chúa yêu mến Chúa Cha và yêu mến chúng con. Xin Chúa ban tình yêu và ân sủng Chúa cho con. Và thế là đủ cho con.
Xin Chúa nâng đỡ và bổ sức cho con. Cho con tin rằng Chúa luôn ở bên con để vác gánh nặng thay con. Ước gì nhờ những giờ phút cầu nguyện và nhờ Thánh lễ, con được Chúa cho nghỉ ngơi bồi dưỡng để con tiếp tục sứ mạng Chúa trao với niềm hăng say phấn khởi. Amen.
Ghi nhớ: ”Hãy đến với Ta, hỡi những ai vất vả cực nhọc”.
Suy Niệm 8: ,,,,
(Lm. Nguyễn Vinh Sơn SCJ)
Câu chuyện
Khi Đức giám mục Watts còn nhỏ, ngày nọ chạy sang nhà một bà già hàng xóm. Bà nhờ ngài đọc cho bà nghe một đoạn Thánh Kinh rồi nói: “Khi con lớn chút nữa, người ta sẽ bảo con rằng Thiên Chúa luôn rình xem khi nào con phạm lỗi để trừng phạt. Nhưng ta không muốn con nghĩ như thế, mà ta muốn con chăm đọc Thánh Kinh để luôn nhớ rằng Thiên Chúa luôn thương yêu con, Ngài luôn để mắt nhìn đến con” .
Suy niệm
Trong cuộc sống hằng ngày, ai trong chúng ta cũng đã cảm nghiệm được vất vả, mang gánh nặng, chịu gian nan thử thách, chịu đau khổ cả tinh thần lẫn vật chất, từ bản thân đến gia đình và xã hội.
Bên Chúa, con người hôm nay tìm thấy được một nơi yên nghỉ sau những giây phút mệt mỏi của đời sống và đặt tất cả mọi nỗi lo âu, những gánh nặng trần thế như Chúa Giêsu đã khẳng định: “Hãy đến với Ta tất cả, hỡi những ai khó nhọc và gánh nặng, Ta sẽ nâng đỡ bổ sức cho các ngươi” (Mt 11,28). “Các con hãy mang lấy ách của Ta”. Đây là kiểu nói bóng trong truyền thống Thánh Kinh nơi các thầy rabbi xưa quen dùng, hàm ý nhìn nhận ai là thầy (Hc 51,31; Is 55,1). Chúng ta nhìn nhận và học nơi Thầy Giêsu hiền lành và khiêm nhu, tràn đầy tình thương, nhân từ, tha thứ và liên đới như Thầy đã dạy.
Con người sẽ tìm thấy bình an, khi nhìn nhận sự bé nhỏ của mình trước Đấng Tạo Hóa và phó thác vào Ngài, họ được chính nước Trời khi giữa phong ba cuộc đời giữa những mỏi mệt của cuộc sống đó là mầu nhiệm nước Trời mà người không tin vào Chúa Giêsu không thể cảm nghiệm.
Chúng ta mang tâm tình tín thác trong cuộc sống: “Hãy trao phó mọi việc trong tay Chúa, thì bạn sẽ thành công, Ngài sắp xếp mọi sự để thực hiện ý Người” (Cn 34,4).
Ý lực sống
“Hãy đến với Ta tất cả, hỡi những ai khó nhọc và gánh nặng, Ta sẽ nâng đỡ bổ sức cho các ngươi” (Mt 11,28).
Suy Niệm 9: Hãy mang lấy ách của tôi
(Lm Giuse Đinh Lập Liễm)
1. Đức Giêsu mời gọi mọi người, nhưng cách riêng ở đây là những người đang sống dưới lề luật và giáo lý nặng nề của Do Thái giáo, đến với Chúa để được nghỉ ngơi bồi dưỡng.
Đức Giêsu giới thiệu cho chúng ta một tình yêu đặc biệt Ngài dành cho con người, nhất là những người đau khổ, vất vả. Hãy đến với Chúa, Ngài sẽ nâng đỡ ủi an tâm hồn sầu khổ của chúng ta. Ách tình yêu Ngài sẽ làm cho ách nặng cuộc đời trở nên êm ái nhẹ nhàng. Kiêu căng đưa đến hận thù. Chỉ có hiền lành khiêm nhường mới đem lại niềm vui an bình sâu thẳm cho cuộc đời.
2. Có hai chữ “gánh” và “ách” hơi khó hiểu. Trong ngôn ngữ Do thái thì khi dùng chữ ách và gánh thì vừa có nghĩa là luật lệ vừa có nghĩa là giáo huấn. Như vậy, “Mang lấy ách của tôi” là kiểu nói bóng các thầy rap-bi xưa quen dùng, hàm ý nhìn nhận ai làm thầy. Vậy khi nhận lấy ách của Đức Giêsu là nhận Ngài làm thầy và theo giáo huấn của Ngài là thực hành Tin Mừng cứu độ của Ngài.
3. Ngày nay, người ta say mê quyền lực và muốn khuất phục người khác dưới quyền mình, muốn sai khiến người khác theo ý mình. Con người có khuynh hướng trở nên kiêu căng. Người ta có dị ứng khi nói đến lời dạy “hiền lành và khiêm nhường” của Đức Kitô, nhất là còn khuyên chúng ta thực hiện đức tính này nữa.
Tuy nhiên, là Kitô hữu, chúng ta cần bước theo chân Chúa. Ngài đã đến chia sẻ kiếp người với chúng ta, Ngài đã đi đến mức cùng của việc tự hạ: sống chung thân phận với người nghèo khổ, như người tôi tớ rốt hết. Hiền lành và khiêm nhường là những đức tính mà Đức Giêsu đã thực hiện trước và khuyên các môn đệ hãy đem ra thực hành: “Anh em hãy học cùng Tôi vì Tôi hiền lành và khiêm nhường trong lòng”.
4. Theo giáo huấn của Đức Giêsu thì thế nào là hiền lành và khiêm nhường?
a) Hiền lành hay hiền hậu là đức tính của con người tốt lành, không độc ác, nhưng có lòng thương người, có đức hạnh và hay làm điều thiện, ví dụ: Cha mẹ hiền lành để đức cho con (Tục ngữ). Theo nguyên ngữ Hy lạp được dùng trong Kinh Thánh thì nó có nghĩa là dịu dàng, ngọt ngào, không thô bạo cứng cỏi. Như thế, hiền lành phải có cả bên trong lẫn bên ngoài. Bên trong thì phải êm ái, hòa nhã, yêu thương, khoan dung, thông cảm. Bên ngoài thì phải nhẹ nhàng, không có hành động cứng rắn hay thô bạo.
b) Khiêm nhường: theo chữ thì khiêm nhường hay khiêm nhượng là nhún nhường không khoe khoang, hạ mình xuống một chút. Căn bản của khiêm nhường là biết mình “là” thế nào: từ đó không muốn tỏ ra hơn cái “là” ấy; và giả như người khác có coi mình kém hơn cái “là ấy” thì mình cũng không màng tới. Điều quan trọng là sống thanh nhàn và thành thật đúng với cái “là” của mình.
Khiêm nhường trái ngược với kiêu ngạo. Kiêu ngạo là muốn tự cho mình vượt qua cái ”là” của mình và bắt người ta phải công nhận như vậy. Người kiêu ngạo bị coi là người ”việt vị” trong bóng đá vì đã vượt quá vị trí của mình là có lỗi. Dĩ nhiên, cầu thủ việt vị thì đều bị trọng tài phạt.
5. Đức Giêsu mời chúng ta học với Ngài và sống theo luật Ngài. Giáo huấn và lề luật của Ngài đặt nền tảng trên lòng yêu thương. (Ga 13,34). Đức Kitô đã kiện toàn lề luật bằng giới răn yêu thương. Ngài thu tóm lề luật thành hai chữ yêu thương. Một bộ luật nặng nề và không hồn đã trở thành nhẹ nhàng nhờ có linh hồn là yêu thương. Đó là cuộc cách mạng vĩ đại nhất của Ngài, cuộc cách mạng của tình thương. Chỉ tình thương mới là khí giới lật đổ được bất cứ một bất công nào và xây dựng được một xã hội công bằng bác ái thực sự.
6. Truyện: Lạn Tương Như và Liêm Pha.
Lạn Tương Như được phong làm tướng quốc. Liêm Pha cậy mình có nhiều công hơn mà lại bị đứng dưới, nên tức giận lăm le hễ gặp mặt Tương Như là giết đi. Tương Như vì thế cứ lánh mặt mãi ...Một hôm Tương Như ra ngoài, gặp toán lính tiền đạo của Liêm Pha, vội sai tên đánh xe đi tránh vào trong ngõ, đợi Liêm Pha đi qua rồi mới đi ra. Bọn xá nhân thấy thế càng giận bèn họp nhau hỏi Tương Như:
- Chúng tôi bỏ nhà cửa, xa thân thích đến đây hầu ngài, tức coi ngài là bậc thượng phu nên mến mà theo. Nay ngài cùng Liêm tướng quân cùng hàng mà hạng thứ lại ở trên. Liêm Pha dọa, ngài đã không báo lại, đã tránh ở triều, nay lại tránh ở ngoài đường. Sao ngài lại sợ quá như vậy? Chúng tôi lấy làm xấu hổ, vậy xin đi thôi không ở nữa.
Tương Như nói:
- Các ngươi xem tướng quân có hơn được vua Tần không?
Bọn xá nhân đáp: - Không.
Tương Như nói:
- Lấy cái oai của vua Tần, thiên hạ ai dám chống, mà Trương Như này dám mắng giữa triều đình, lại làm nhục cả quần thần nữa. Tương Như dẫu hèn, há lại sợ một Liêm tướng quân ư? Nhưng ta nghĩ, Tần Sở dĩ nhiên không dám đánh Triệu vì e có ta và Liêm tướng quân. Nay hai con hổ tranh nhau, thế không cùng sống. Tần nghe tin, tất thừa cơ đánh Triệu. Ta sở dĩ chịu nhục tránh Liêm tướng quân là coi việc nước là trọng và thù riêng là khinh vậy thôi.
Bạn xá nhân mọp lạy mà rằng:
- Tiểu nhân chúng tôi trí hẹp làm gì hiểu nổi đại chí của tướng công.
Liêm Pha khi nghe thuật lại việc làm của Tương Như cả thẹn mà rằng: “Ta thật còn kém Lạn Tương Như xa lắm”. Bèn đến tạ tội với Tương Như, quì mọp mà rằng: “Tôi tính thô bạo, đội ơn tướng quân bao dung, nghĩ lấy làm hổ thẹn quá”. Tương Như đỡ dậy, nắm tay cùng khóc và kết làm bạn sống chết có nhau” (Nguyễn Duy Cần, Cái dũng của thánh nhân, 1958, tr 162-163).
Suy Niệm 10: Chúa Giêsu mời học và sống luật Ngài
(Lm Carôlô Hồ Bắc Xái)
A. Phân tích (Hạt giống ...)
1. Trong ngôn ngữ do thái, “gánh” và “ách” vừa có nghĩa là luật lệ vừa có nghĩa là giáo huấn. “Mang lấy ách” hoặc “Mang lấy gánh” của ai nghĩa là làm đệ tử người đó, chịu sự giáo huấn của người đó, sống theo luật lệ của người đó.
2. Văn mạch: trước đoạn này, Chúa Giêsu vừa nói về “những bậc khôn ngoan thông thái” do thái tức là các rabbi, các người biệt phái (câu 25). Dân chúng đã cảm thấy quá nặng nề và mệt mỏi khi học với họ và sống theo cách giải thích lể luật khắt khe của họ.
3. Chúa Giêsu mời người ta học với Ngài và sống theo luật Ngài. Giáo huấn và lề luật của Ngài đặt nền tảng trên lòng yêu thương (Ga 13,34). Cách đối xử của Ngài đầy lòng hiền hậu và khiêm tốn (câu 29). Bởi đó ai học với Ngài và sống theo luật Ngài thì sẽ được nghỉ ngơi bồi dưỡng và cảm thấy êm ái, nhẹ nhàng (câu 30).
B. Suy niệm ( ... nẩy mầm)
1. Nhiều kẻ xưng mình là “đệ tử” của Chúa Giêsu. Tuy nhiên chỉ những ai “hiền lành và khiêm tốn”, chỉ những ai khi người khác đến gần họ mà cảm thấy “tâm hồn được nghỉ ngơi, bồi dưỡng”, có cảm giác “êm ái nhẹ nhàng” mới là đệ tử thật, đệ tử đã lãnh hội đúng chân truyền của sư phụ.
2. Trong Tân Ước có lẽ đây là lần duy nhất Chúa Giêsu tự mô tả, “tự khoe” mình. Dĩ nhiên Ngài nói rất ít và rất súc tích. Hai đức tính được Ngài chọn làm tiêu biểu cho Ngài là gì? Là Hiền Lành và Khiêm tốn.
3. Một trong những ý của bài đọc Cựu Ước: “Ngài ban sức mạnh cho kẻ rã rời và thêm sức cho người mệt mỏi”. Ý này được Chúa Giêsu làm ứng nghiệm trong bài Tin mừng hôm nay.
4. “Ách êm ái, gánh nhẹ nhàng”: Có một người cha đi dạo với cậu con trai cưng. Sau khi vui đùa thoả thích giữa cánh đồng cỏ đầy hoa, hai cha con tung tăng rảo bước ra về. Dọc đường bỗng cậu con trai cưng 6 tuổi này nói với bố “Ba ơi con buồn ngủ”, rồi chẳng mấy chốc chân tay bủn rủn, cha cậu phải bồng lên. Cậu quay ra ngủ thoải mái bình an. Người cha bồng đứa con về và ông đã ghi lại trong nhật ký rằng “thế là tôi đã cõng cái ách êm ái đó suốt quãng đường dài trở về nhà”. Khi chúng ta yêu, những khó khăn do người yêu mang lại, ta dễ cảm nhận nó nhẹ nhàng êm ái.
5. “Đức Giêsu cất tiếng nói: Hãy học gương tôi, ví tôi có lòng hiền hậu và khiêm nhường” (Mt 11,29)
Một buổi chiều nọ, ngồi trong tiệm sửa xe đạp, tôi có dịp quan sát khung cảnh náo nhiệt của một đoạn đường trong thành phố. Bỗng một chiếc Honda của một thanh niên từ trong hẻm lao thẳng ra và tông vào xe của một thiếu nữ. Rất may, cả hai người đều không bị thương tích; nhưng chiếc quai giỏ bên tay xe của chị bị đứt. Trước mặt họ, những trái hồng văng tung toé. Hối hận vì hành động của mình, anh thanh niên vội bước đến xin lỗi và nhặt những trái hồng lên cho chị. Với thái độ điềm tĩnh, chị mỉm cười nói: “Xin lỗi anh, tôi thắng không kịp”.
Quả là điều thật dễ thương trong cuộc sống, khi con người biết biểu lộ tình thương, sự hiền lành và khiêm nhường của chính Chúa Giêsu, vị Thầy của chúng ta. Thật dễ thương nhưng chẳng dễ thực hiện, bởi dư luận vẫn cho rằng hiền lành là ngu xuẩn và khiêm nhường là nhu nhược.
Lạy Chúa, xin giúp con can đảm sống tinh thần của Chúa, dù có phải đi ngược lại những quan điểm của thế gian, hay bị người đời xử tệ. (Epphata)
6. Mầm khác:
Thầy Đô-đi-kê nổi tiếng thánh thiện nhất trong dòng và hay làm phép lạ. Tin đồn rằng bất cứ điều gì Thầy xin đều được Chúa nhận lời.
Một hôm dân làng kéo đến xin Thầy cầu nguyện cho trời mưa. Nhưng thay vì trời mưa thì lại nắng lâu hơn nữa.
Một người mẹ đến xin Thầy cầu nguyện cho đứa con đang đau được chữa lành. Nhưng đứa con đã chết sau đó vài ngày.
Vài người khác đến xin Thầy làm phép lạ cho đá thành bánh. Nhưng đá vẫn trơ ra đấy.
Sau những lần thử thách mà không được gì cả, dân làng nổi giận đuổi Thầy ra khỏi phạm vi của làng, cấm không cho Thầy trở về tu viện nữa.
Thầy đành phải đi tìm một hang đá trong sườn núi để ẩn mình, rồi than thở với Chúa:
- Lạy Chúa, con không hiểu tại sao lại xảy ra như vậy. Con cầu xin Chúa cho mưa xuống thì Chúa lại làm cho nắng hạn lâu hơn. Con cầu xin cho đứa trẻ mau lành bệnh thì Chúa lại cho nó chết. Con xin Chúa cho dân làng bánh ăn thì Chúa cứ để những viên đá trơ trơ ra đó. Vì thế Chúa xem đây, con bị mọi người xua đuổi, coi con như một kẻ tội lỗi ghê gớm nhất.
Nói xong, thầy nghe có tiếng từ trời phán:
- Hỡi con, bởi vì Ta đã cho điều con cầu xin lúc trước rồi đó.
Thầy Đô-đi-kê không còn nhớ thầy đã xin gì trước đó nữa nên mới hỏi lại:
- Nhưng lạy Chúa, con đã xin Chúa điều gì?
Tiếng lạ đáp:
- Trước đây con đã chẳng cầu xin Ta cho con được dịp sống khiêm nhường đó sao?
***
Đã xin Chúa cho được dịp sống khiêm nhường, nhưng khi được như ý thì thầy Đô-đi-kê lại than trách.
Phải chăng miệng thầy xin được sống khiêm nhường nhưng lòng thầy lại có ngầm ý muốn được tôn trọng, được thán phục qua những ân huệ mà thầy muốn xin được cho người khác?
Phải chăng vì ham danh và bị dân làng lợi dụng nên thầy chỉ muốn cầu nguyện theo ý họ, cho những lợi lộc trần gian của họ, thay vì cầu nguyện theo ý Ch a?
Hằng ngày chúng ta vẫn nhiều lần cầu nguyện cho "ý Cha thể hiện dưới đất cũng như trên trời". Phải chăng lời cầu ấy phát xuất từ một con tim chân thành và khiêm tốn?
Chỉ cõi lòng khiêm tốn đích thực mới có thể suy phục được ý Chúa và mới có khả năng thi hành trọn vẹn ý Ngài.
Suy Niệm 11: Ách yêu thương của Chúa
(Lm Giuse Đinh Tất Quý)
1. Chúa phán: ”Hãy đến cùng Tôi, hỡi tất cả những ai đang vất vả mang gánh nặng nề” (Mt 11,28).
Vào thời Chúa Giêsu, đời sống của những người Do Thái rất nặng nề. Họ bị đặt dưới ách thống trị của những tập tục của tiền nhân và một hệ thống luật pháp đã bị làm biến chất không còn sức sống. Chúng ta hãy nghe một câu chuyện được ghi lại trong sách Korah:
Người láng giềng tôi là một bà góa. Bà có hai cô con gái và một mảnh ruộng. Khi bà bắt đầu cày thì Môisen (ý nói luật pháp Môisen) bảo bà: “Ngươi không được cày bò và lừa chung với nhau.
Khi bà bắt đầu gieo thì ông phán: “Ngươi không được gieo trong ruộng ngươi hai thứ giống. ”
Khi bà bắt đầu thu hoạch ông bảo: “Ngươi không được mót lúa sót hay lấy lại những gì ngươi bảo quản. ”
Bà bắt đầu đập lúa thì ông bảo: “Hãy giao cho ta của lễ phần mười lần thứ nhì”. Bà thuận và dâng hết cho ông.
Sau đó người đàn bà đáng thương kia làm gì? Bà bán đám ruộng, mua hai con chiên để hớt lông may áo với hy vọng nó đẻ con để kiếm lợi. Khi chiên sanh sản thì Aaron (đòi hỏi của thầy tế lễ) nói: “Hãy dâng cho ta con chiên đầu lòng của ngươi. ” Bà chấp nhận đòi hỏi đó và trao nó cho ông.
Đến kỳ cắt lông chiên, bà hớt lông và Aaron lại đến: “Hãy trao cho ta lông chiên hớt đầu tiên của ngươi. ” (Đnl 18,4).
Người đàn bà thầm nghĩ rằng: “Ta không thể chịu nổi ông này. Ta sẽ làm thịt chiên mà ăn. ” Aaron lại đến và bảo: “Hãy trao cho ta cái bả vai, cái hàm và cái bụng. ” (Đnl 18,3). Người đàn bà nói: “Ngay đến lúc tôi làm thịt nó, ông cũng không để tôi yên, thôi tôi sẽ dâng nó luôn. ” Aaron bèn nói: “Trong trường hợp đó nó sẽ hoàn toàn thuộc về ta. ” (Ds 18,4). Ông liền mang nó đi bỏ lại bà góa đang khóc với hai đứa con gái.
Câu chuyện kể trên là một thí dụ về những đòi hỏi triền miên của luật pháp đặt trên vai con người trong mỗi sinh hoạt và hành động của đời sống. Những đòi hỏi của luật pháp quả thật là một gánh nặng, nặng kinh khủng làm cho người ta không thể chịu nổi.
2. Còn khi Chúa Giêsu nói đến ách và gánh của Ngài thì Ngài có ý muốn nói đến việc sống theo giáo huấn Ngài ban.
Giáo huấn của Chúa là Giáo huấn được đặt trên nền tảng của hai chữ yêu thương (Ga 13,34). Bởi đó ai học với Ngài và sống theo luật yêu thương của Ngài thì sẽ cảm thấy êm ái, nhẹ nhàng (câu 30).
Thật vậy, tình yêu sẽ nhân lên gấp nhiều lần sức mạnh của nó. Khi còn yêu, thì gánh nặng cuộc đời có nặng mấy cũng chẳng đáng là chi. Ngược lại, khi đã hết yêu thì dù nhẹ mấy cũng trở thành nặng nề.
Có một ông chồng kia nhà nghèo, chỉ có chiếc xe đạp chở vợ đi chợ. Khi lên dốc cầu, người chồng gắt gỏng bảo vợ:
- Xuống dùm đi, lên dốc mà cứ ngồi ỳ ra đó sao!
Người vợ vui vẻ nói: “Ngày xưa mới quen em, mỗi lần lên dốc cầu này, em đòi xuống thì anh không chịu, cứ đạp boong boong, sao bây giờ lại ỳ ạch thế?”
Người chồng trả lời:
- Xưa khác, bây giờ …. khác!
- Chắc anh mệt lắm nhỉ?
Chồng trả lời:
- Có phải trâu đâu mà không mệt!
Đúng là xưa khác và bây giờ khác. Xưa còn trẻ tình yêu còn mặn mà, … Còn bây giờ thì …!
Vậy khi Chúa Giêsu nói đến “Ách êm ái, gánh nhẹ nhàng thì điều đó không có nghĩa là gánh nặng dễ mang nhưng phải hiểu như thế này: khi gánh nặng được đặt trên vai chúng ta trong tình yêu, được mang trong tình yêu, và vì tình yêu thì gánh nặng sẽ trở nên nhẹ nhàng, rất nhẹ nhàng. Chính vì vậy mà một Rabbit kia đã nói: “Gánh của tôi đã trở thành một bài ca”.
Giêrêmia yêu một phụ nữ cao hơn anh rất nhiều. Tối nào anh cũng đưa người yêu mình từ sở về nhà và tối nào anh cũng rạo rực muốn hôn người yêu, nhưng lại rụt rè không dám xin.
Một lần, anh vận dụng hết can đảm, nói:
- Em cho phép anh hôn em nhé!
Cô gái không phản đối. Nhưng vì Giêrêmia quá thấp bé, nên hai người nhìn quanh tìm một cái gì đó kê cho anh đứng đủ cao. Họ phát hiện gần đó có một xưởng thợ rèn, có một chiếc đe vừa vặn cho Giêrêmia đứng lên. Thế là Giêrêmia được thỏa mãn lòng mong ước. Sau đó anh vác luôn chiếc đe theo mình. Anh vác rất hiên ngang dường như chiếc đe chẳng thấm thía gì với sức mạnh của anh.
Sau khi đi được thêm khoảng hơn nửa dặm, Giêrêmia lại nói:
- Cho anh hôn một cái nữa đi, em yêu!
- Không được” - cô gái trả lời – Em đã cho anh hôn khi nãy rồi. Tối nay như vậy là quá đủ.
Giêrêmia nói:
- Thế tại sao anh vác theo chiếc đe nặng trịch này mà em vẫn im lặng không nói gì?
Vâng, khi yêu thì nặng mấy cũng thành nhẹ. Còn khi đã không yêu thì nhẹ mấy cũng thành nặng.
Lạy Chúa, xin dạy chúng con biết yêu Chúa.
Suy Niệm 11: Hãy đến với Chúa
(Lm. Micae Võ Thành Nhân)
Mỗi lần dâng thánh lễ ngày thứ sáu trong tuần, chúng ta thường hướng nhìn lên trái tim của Chúa bị đâm thâu trên thập giá vì tội lỗi chúng ta. Chúng ta khẩn nài Chúa lấy tình yêu từ trái tim cực cao cực trọng của Chúa mà thương xót chúng ta. Đồng thời chúng ta xin Chúa nhớ lại lời Chúa đã nói năm xưa: “ Khi ấy, Chúa Giê-su phán rằng: Hãy đến với Ta tất cả, hỡi những ai khó nhọc và gánh nặng, Ta sẽ nâng đỡ bổ sức cho các ngươi. Hãy mang lấy ách của Ta và hãy học cùng Ta, vì Ta dịu hiền và khiêm nhượng trong lòng, và tâm hồn các ngươi sẽ gặp được bình an. Vì ách của Ta thì êm ái và gánh của Ta thì nhẹ nhàng” (Mt 11, 28 – 30), để mà nâng đỡ, phù trì chúng ta trong cuộc sống thế trần này đầy chông gai, thử thách, gian nan ba chìm bảy nổi này.
Trong cuộc sống hiện tại, vì lo cơm áo gạo tiền, có những lúc chúng ta một nắng hai sương, thức khuya dậy sớm, bán mặt cho đất, bán lưng cho trời. Chúng ta cảm thấy bản thân mình mệt mỏi, hụt hơi, rã rời. Đàng khác, ngoài việc lo cho đời sống vật chất cơm no áo ấm, hay là ăn ngon mặc đẹp…, chúng ta còn phải lo việc dạy dỗ, giáo dục con cái, vì con hư tại mẹ, cháu hư tại bà, tội quy vu trưởng, mũi dại lái chịu đòn…cũng như lo cho đời sống tinh thần của gia đình là ăn ở đúng lễ nghĩa gia phong, trên thuận dưới hòa, trong ấm ngoài êm, đùm bọc lẫn nhau. Nhất nữa là lo việc giữ đạo Chúa, người không có đạo thì họ ngủ nghê thỏa mái, còn chúng ta phải thức dậy sớm để kinh nguyện, để đến nhà thờ dâng thánh lễ, để dâng ngày cho Chúa. Và khi màn đêm buông xuống, kết thúc một ngày, trước khi đi ngủ, chúng ta cũng phải kinh nguyện để tạ ơn Chúa, xin ngủ bình an. Hơn nữa, trong cuộc sống, chúng ta phải khổ chế, kèm hãm, chừa tội, diệt các dục vọng…không được phép sống tự do buông thả thỏa mái theo đam mê xác thịt như những người khác…tất cả các điều ấy làm cho chúng ta khó nhọc vất vã và gánh vác nặng nề, đôi khi sức khỏe chúng ta bị giảm sút: “ Tưởng nhớ Chúa, con thở vắn than dài, suy gẫm hoài nên khí lực tiêu hao” (Tv 76, 4), những anh chị em ngoại giáo thấy vậy, họ ngại không dám hy sinh để theo Chúa. Nhưng đối với chúng ta, chúng ta đến với Chúa, chúng ta chấp nhận mang lấy ách của Chúa, vác thập giá theo Chúa và học ở Chúa sự vâng phục, sự hiền hậu và khiêm nhường, không kêu than oán trách, không hờn giận, chúng ta sẽ cảm thấy nhẹ nhàng, không là gánh nặng cho đời chúng ta. Ách và gánh của Chúa là chúng ta giữ luật Chúa cũng như vác thập giá theo Chúa với một lòng yêu Chúa, chúng ta tìm được bình an, nhẹ nhàng, vì có Chúa đỡ nâng phù hộ chúng ta: “ Nhìn lên Chúa mãi, mắt con đã hoen mờ…nhưng Chúa sẽ cứu con khỏi hố diệt vong, vứt sau lưng mọi lỗi lầm con phạm” (Is 38, 10 – 14. 17 – 20).
Lạy Chúa, là Đấng Emmanuel mà chúng con đang chờ đợi, xin Chúa ban nguồn sức mạnh trong chúng con chờ đợi Chúa đến thăm, chúng con không mỏi mệt, không nản chí, không bỏ cuộc, khôngtháo lui, không chán chường, vì chúng con biết rằng: “ Nhìn lên Chúa mãi mắt con hoen mờ “, nhưng mà kiên trì nhẫn nại trong tin yêu phó thác, cậy trông Chúa, chúng con sẽ được gặp Chúa. Amen.
Suy Niệm 12: Chúa sẽ cho nghỉ ngơi bồi dưỡng
(Emmanuel Nguyễn Thanh Hiền, OSB)
Qua Lời Tổng Nguyện của Thứ Tư Tuần 2 Mùa Vọng hôm nay, các nhà phụng vụ muốn chúng ta ý thức rằng: Chúa truyền dạy chúng ta phải dọn đường cho Đức Kitô ngự đến, này chúng ta đang đợi trông Người ban sinh lực dồi dào cho hồn an xác mạnh, thì xin Chúa đừng để chúng ta vì đợi trông mà mệt mỏi chán chường.
Đừng để vì đợi trông mà mệt mỏi chán chường, vì thế, ta hãy vững tin vào lời Chúa hứa, như trong bài đọc một của giờ Kinh Sách, ngôn sứ Isaia cho thấy: Thiên Chúa mở tiệc. Những người được Chúa cứu chuộc dâng lời ca ngợi Chúa. Như chính Đức Giêsu sẽ loan báo sau này, ngôn sứ Isaia không ngần ngại mô tả hạnh phúc dành cho những người được Thiên Chúa cứu chuộc. Hạnh phúc ấy thể hiện qua bữa tiệc vĩnh cửu. Bữa tiệc này mở ra dành riêng cho những người hèn mọn. Như các Thánh Vịnh cho chúng ta biết, thức ăn đích thực của họ là ý muốn của Thiên Chúa. Tôi nghe từ phía ngai có tiếng hô to: Đây là nơi Thiên Chúa ở cùng nhân loại, Người sẽ ở cùng họ. Họ sẽ là dân của Người, còn chính Người sẽ là Thiên-Chúa-ở-cùng-họ. Đức Chúa là Chúa Thượng sẽ vĩnh viễn tiêu diệt thần chết, sẽ lau khô dòng lệ trên khuôn mặt mọi người.
Đừng để vì đợi trông mà mệt mỏi chán chường, vì thế, ta hãy bám chặt vào Chúa, Đấng không thất tín bao giờ, như trong bài đọc hai của giờ Kinh Sách, thánh Autinh nói: Những gì Thiên Chúa hứa đều được truyền lại cho chúng ta qua người Con. Thiên Chúa đã ấn định một thời gian để đưa ra các lời hứa và một thời gian để hoàn thành các điều Người đã hứa. Thời Thiên Chúa hứa là thời các ngôn sứ cho đến ông Gioan Tẩy Giả. Còn từ ông Gioan Tẩy Giả cho đến tận thế là thời để hoàn thành các điều đã hứa… Đức Chúa sẽ lại thương xót chúng ta. Tội lỗi chúng ta, Người chà đạp dưới chân; mọi lỗi lầm chúng ta, Người ném xuống đáy biển. Tất cả các ngôn sứ đều làm chứng về Người và nói rằng: phàm ai tin vào Người thì sẽ nhờ danh Người mà được ơn tha tội.
Đừng để vì đợi trông mà mệt mỏi chán chường, vì thế, ta hãy luôn biết tìm đến với Chúa để kín múc nguồn ơn sức mạnh và lòng thương xót của Người, như trong bài đọc một của Thánh Lễ, ngôn sứ Isaia cho thấy: Người ban sức mạnh cho ai mệt mỏi, kẻ kiệt lực, Người làm cho nên cường tráng. Trong bài Đáp Ca, Thánh Vịnh 102, vịnh gia đã kêu gọi: Chúc tụng Chúa đi, hồn tôi hỡi. Chúa là Đấng từ bi nhân hậu, Người chậm giận và giàu tình thương, Người không cứ tội ta mà xét xử, không trả báo ta xứng với lỗi lầm.
Câu Tung Hô Tin Mừng, mà các nhà phụng vụ đã chọn cho ngày lễ hôm nay là: Kìa Chúa đến cứu độ dân Người; phúc thay ai sẵn sàng nghênh đón Chúa. Trong bài Tin Mừng, Đức Giêsu nói: Tất cả những ai đang vất vả mang gánh nặng nề, hãy đến cùng tôi, tôi sẽ cho nghỉ ngơi bồi dưỡng. Chúa sẽ ngự đến, phúc cho ta, nếu ta sẵn sàng nghênh đón Chúa. Chúa biết ta sẽ dễ mệt mỏi chán chường, vì thế, Người luôn ở bên cạnh ta để ủi an nâng đỡ. Ta hãy vững tin vào lời Chúa đã hứa, dù cho, điều Chúa đã hứa xem ra không thể tin được đối với loài người chúng ta. Người đã đặt một Vị Trung Gian là chính Con Một ở giữa chúng ta. Nhờ chính Con của Người, Người sẽ chỉ cho thấy qua con đường nào, Người dẫn đưa chúng ta đến cùng đích đã hứa. Khi đặt Con mình làm người chỉ đường, Thiên Chúa chưa lấy thế làm đủ, mà còn đặt chính người Con ấy làm đường đi, để hướng dẫn chúng ta và trở thành đường cho chúng ta đi. Người ở bên cạnh ta, sẽ cho ta được nghỉ ngơi bồi dưỡng, để ta có thể hoàn tất hành trình của mình. Chúa truyền dạy chúng ta phải dọn đường cho Đức Kitô ngự đến, này chúng ta đang đợi trông Người ban sinh lực dồi dào cho hồn an xác mạnh, ước gì chúng ta đừng để mình vì đợi trông mà mệt mỏi chán chường. Ước gì được như thế!
- Viết bởi Mt 18, 12-14
Con chiên lạc đàn.
Thứ Ba tuần 2 mùa vọng.
"Chúa không muốn những kẻ bé nhỏ phải hư đi".
LỜI CHÚA: Mt 18, 12-14
Khi ấy Chúa Giêsu phán cùng các môn đệ rằng: "Các con nghĩ sao? Nếu ai có một trăm con chiên mà lạc mất một con, thì người đó lại không bỏ chín mươi chín con trên núi, để đi tìm con chiên lạc sao? Nếu người đó tìm được, thì quả thật, Thầy bảo các con, người đó sẽ vui mừng vì con chiên đó hơn chín mươi chín con chiên không thất lạc.
Cũng vậy, Cha các con ở trên trời không muốn để một trong những kẻ bé nhỏ này phải hư đi".
* Đọc GIỜ KINH PHỤNG VỤ link CGKPV
* Các BÀI ĐỌC TRONG THÁNH LỄ
Suy Niệm 1: Không muốn ai hư mất
(Lm. Ant. Nguyễn Cao Siêu SJ. )
Chăn chiên là một nghề đã có từ lâu.
Nhiều nhà lãnh đạo dân Do Thái như Môsê, Đavít, đều làm nghề này.
Trên những đồng cỏ mênh mông, giữa trời và đất, chỉ có chiên và mục tử,
nên giữa đôi bên có một sự thân thiết và hiểu biết nhau thật gần gũi.
Chính vì thế trong Cựu Ước, Thiên Chúa hay ví mình với người chăn chiên.
Đàn chiên là dân Do Thái, là dân riêng Ngài rất mực quý yêu:
“Như mục tử, Chúa chăn giữ đoàn chiên của Chúa…
Lũ chiên con, Người ấp ủ vào lòng,
bầy chiên mẹ cũng tận tình dẫn dắt” (Is 40,11).
Như Thiên Chúa, Đức Giêsu cũng ví mình với người mục tử tốt lành.
“Tôi biết chiên của tôi và chiên của tôi biết tôi” (Ga 10, 14).
Sự hiểu biết thân thương này mạnh đến độ
Ngài dám hy sinh mạng sống mình cho đoàn chiên (Ga 10, 15).
Sau khi chết và phục sinh, Đức Giêsu muốn ông Simon nhận sứ mạng mục tử.
Ngài mời ông chăm sóc và chăn dắt chiên của Ngài (Ga 21, 15-17).
Như thế đoàn chiên mới của Đức Giêsu lúc nào cũng được bảo vệ.
Qua bao thế kỷ Giáo Hội vẫn không ngừng có những mục tử mới,
nối gót Simon Phêrô để phục vụ và hiến mạng vì đoàn chiên.
Nhưng Đức Giêsu không dạy người mục tử chỉ lo cho cả đoàn,
mà quên chăm sóc cho từng con chiên một.
Ngài mời ta để ý đến tập thể lớn, nhưng không được quên từng cá nhân nhỏ.
Có khi chỉ một con chiên lạc lại khiến người mục tử bận tâm lo lắng
đến nỗi để chín mươi chín con trên núi mà đi tìm con bị mất (c. 12).
Không phải vì coi thường chín mươi chín con không bị lạc,
nhưng vì người mục tử không muốn mất con nào.
Con chiên lạc lại có chỗ đứng đặc biệt trong trái tim mục tử.
Chúng ta ai cũng có kinh nghiệm về chuyện tìm lại được điều đã mất.
Khi mất thì đứng ngồi không yên,
khi tìm thấy thì bình an và niềm vui òa vỡ.
Người mục tử lo âu, vất vả tìm kiếm con chiên lạc,
nhưng khi tìm được rồi thì niềm vui là vô bờ.
Có thể nói còn vui hơn chuyện chín mươi chín con không bị lạc (c. 13).
Dường như người ta bắt đầu quý một điều từ khi mất điều đó.
Có khi một người bắt đầu hiện diện từ khi người ấy vắng mặt và mất đi.
Cha không muốn cho một ai trong những kẻ bé mọn này phải hư mất (c. 14).
Cha muốn cho mọi người được cứu độ và không muốn mất một ai (1 Tm 2, 4).
Mùa Vọng là thời gian chúng ta nhìn lại những người bé mọn quanh ta,
những người từ lâu đã bỏ nhà thờ, những người mất lòng tin vào Chúa.
Mỗi người chúng ta phải là mục tử cho nhau, chăm sóc nhau, quý nhau,
khởi đi từ những người trong gia đình, trong nhóm bạn thân quen.
Chúng ta quý nhau vì Thiên Chúa quý từng người chúng ta.
Chúng ta chẳng thể mừng Lễ Giáng sinh nếu còn một người đang lạc ở đâu đó.
Nếu chịu mất công đi tìm về, chúng ta mới được hưởng niềm vui trọn vẹn.
Cầu nguyện:
Lạy Chúa Giêsu,
Khi làm người, Chúa đã nhận trái đất này làm quê hương.
Chúa đã ban nó cho chúng con như một quà tặng tuyệt vời.
Nếu rừng không còn xanh, dòng suối không còn sạch,
và bầu trời vắng tiếng chim,
thì đó là lỗi của chúng con.
Lạy Chúa Giêsu,
Chúa đã đến làm người để tôn vinh phận người,
vậy mà thế giới vẫn có một tỷ người đói,
bao trẻ sơ sinh bị giết mỗi ngày khi chưa chào đời,
bao kẻ sống không ra người, nhân phẩm bị chà đạp.
Đó là lỗi của chúng con.
Lạy Chúa Giêsu,
Chúa đến đem bình an cho người Chúa thương,
vậy mà trái đất của chúng con chưa một ngày an bình.
Chiến tranh, khủng bố, xung đột, có mặt khắp nơi.
Người ta cứ tìm cách giết nhau bằng thứ vũ khí tối tân hơn mãi.
Đó là lỗi của chúng con.
Lạy Chúa Giêsu ở Belem,
Chúa đã cứu độ và chữa lành thế giới bằng tình yêu khiêm hạ,
nhưng bất công, ích kỷ và dối trá vẫn thống trị địa cầu.
Chúa đến đem ánh sáng, nhưng bóng tối vẫn tràn lan.
Chúa đến đem tự do, nhưng con người vẫn bị trói buộc.
Đó là lỗi của chúng con.
Vì lỗi của chúng con, chương trình cứu độ của Chúa bị chậm lại,
và giấc mơ của Chúa sau hai ngàn năm vẫn chưa thành tựu.
Mỗi lần đến gần máng cỏ Belem,
xin cho chúng con nghe được lời thì thầm gọi mời của Chúa
để yêu trái đất lạnh giá này hơn,
và xây dựng nó thành mái ấm cho mọi người.
Suy Niệm 2: Giêsu Thiên Chúa an ủi
(TGM Giuse Ngô Quang Kiệt)
Con chiên lạc. Lạc lõng. Lạc loài. Lạc lối. Hay lầm lạc? Ta cảm thấy lạc lõng khi phải sống nơi xứ lạ quê người, không người thân thiết. Ta như lạc loài không ở đúng nơi, đúng thời, đúng người ta phải ở với. Ta lạc lối vì không biết đường. Vì bị mê hoặc khiến quên lối về. Vì bị sa vào cạm bẫy không thể thoát ra. Ta lầm lạc khi tâm hồn mê muội không có ánh sáng chân lý.
Con chiên lạc ở trạng thái nào cũng cần được tìm về. Về đúng mái nhà của mình. Về đúng con đường của mình. Được ấp ủ chăm sóc trong vòng tay của người cha người mẹ thân thương. Nhưng con chiên không biết đường về, không đủ sức đứng dậy đi về. Nó yếu mệt. Chung quanh chỉ là bóng tối. Tuyệt vọng chờ chết.
Chúa Giêsu là người chăn chiên tốt lành đi tìm con chiên. Người là Thiên Chúa hùng dũng quang lâm. Người thắng vượt mọi gian nan khốn khó. San phẳng đồi cao. Lấp đầy thung lũng. Phá tan bóng tối. Chiến thắng lớn nhất là chiến thắng cơn thịnh nộ. Sức mạnh lớn nhất là lòng thương xót, tha thứ.
Lòng thương xót biểu lộ trong sự ngọt ngào, niềm an ủi. Hãy chiêm ngắm Người tha thiết đi tìm con chiên bé bỏng. Tìm được rồi Người bồng bế trên tay. Xem xét vết thương. Vỗ về an ủi. Và cảm động xiết bao Người vác con chiên gầy gò bé nhỏ đói khát và bẩn thỉu trên vai. Con chiên đang lạnh lẽo được hơi ấm của Người ấp ủ. Con chiên đang run sợ được sức mạnh của Người đỡ nâng. Con chiên đang yếu mệt được bờ vai của Người làm nơi nương tựa.
Tin mừng lớn lao của thời đại hôm nay là Tin mừng về Lòng Thương Xót của Thiên Chúa. Nhân loại hôm nay buồn phiền cần được an ủi. Lầm lạc cần được đưa về. Thương tích cần được băng bó. Yếu đuối cần được nâng đỡ. Tội lỗi cần được tha thứ. Tất cả tìm thấy giải đáp nơi Lòng Thương Xót của Thiên Chúa.
Lạy Chúa chúng con bất lực không thể đứng lên để trở về với Chúa. Xin Chúa hãy đến tìm chúng con. Băng bó vết thương. An ủi buồn phiền. Và đưa chúng con về. Chúng con trông đợi Chúa. Lạy Chúa, xin hãy đến cứu chúng con.
Suy Niệm 3: Phải tha thứ luôn luôn
(‘Suy Niệm Phúc Âm Hằng Ngày’)
Sống ở trên đời, ai cũng mong ước mình gặp được nhiều sung túc, hạnh phúc và nhất là gặp được nhiều may mắn thành công. Ai cũng muốn là mình gặp được mối tình thông cảm cho đến đỉnh cao của tiền tài, danh vọng. Ai cũng sợ thất bại, sợ gian khổ cùng cực cất đầu không lên được với những người xung quanh. Dù rằng ai cũng tự an ủi mình bằng câu: "Thất bại là mẹ thành công". Ðau khổ nhiều, con người mới thấy giá trị đích thực của hạnh phúc. Có gian nan vất vả nhiều, con người mới cảm thấy giá trị của đau khổ, mới đánh giá chính xác về sự thành công từ những nhẫn nhục, chịu đựng, âm thầm làm việc sau bao nhiêu ngày tháng. Nếu như con người từ nhỏ đến lớn sống hoàn hảo như một vị thánh, người ấy chưa chắc đã cảm thấy mình hạnh phúc nếu không phải là người đặc biệt Thiên Chúa gìn giữ. Vì thế theo thông thường chúng ta không ai thoát khỏi những lầm lỗi, không khía cạnh này thì vướng mắc khía cạnh khác, không nặng thì nhẹ, không phải khuyết điểm lầm lỗi nặng hay nhẹ, cố tình hay vô tình nhưng quan trọng là chúng ta có nhận ra được khuyết điểm sai lỗi của chính mình hay không? Và khi nhận ra được khuyết điểm sai lỗi ấy, chúng ta có sửa đổi, rút kinh nghiệm cho lần sau hay không?
Trong bài Tin Mừng hôm nay, Chúa Giêsu nói với các môn đệ rằng: "Nếu ai trong các ngươi có một trăm con chiên mà bị lạc mất một con thì người đó không bỏ chín mươi chín con trên núi để đi tìm con chiên lạc ấy sao?" Ðó là điều an ủi cho chúng ta, vì khi lầm lỗi, con người thường ít khi tha thứ hoặc có tha thứ cho nhau thì vẫn có thành kiến không tốt về người đó, nghĩa là chúng ta có ý nghĩ không tốt, bớt sự niềm nở tự nhiên trước đó.
Từ thái độ đó thường làm cho người có lỗi mang một tâm trạng tự ti mặc cảm, vì dù sao đi nữa thì trong tâm trạng đó con người cũng không có cái nhìn hồn nhiên, vui vẻ lạc quan yêu đời như trước khi họ chưa lầm lỗi. Khi đã sống trong tình trạng nghi kỵ lẫn nhau, nhìn nhau không thân thiện, chúng ta sẽ mắc vào một câu nói của một triết gia nọ: "Tha nhân là hỏa ngục của tôi". Ai cũng nhìn nhau bằng cặp mắt hận thù, ganh tị, hững hờ, chê bai lẫn nhau. Bao nhiêu cặp mắt hận thù, ganh tị, hững hờ, chê bai lẫn nhau. Bao nhiêu cặp mắt hình như cứ soi mói vào chúng ta, xét xem để rồi bắt lỗi chúng ta thì chẳng hỏa ngục là gì? Có bị như thế chúng ta mới cảm nghiệm được tình yêu bao la dung thứ của Thiên Chúa đối với chúng ta hôm nay: "Người chăn chiên sẽ bỏ chín mươi chín con trên núi để đi tìm con chiên lạc, khi tìm được rồi người chăn chiên sẽ vui mừng vì con chiên đó hơn chín mươi chín con chiên không bị lạc".
Thiên Chúa đã dạy chúng ta không những phải tha thứ cho nhau bảy lần mà là bảy mươi lần bảy, nghĩa là phải tha thứ luôn luôn. Và trong một đoạn Tin Mừng khác Chúa Giêsu nói: "Nếu trong một ngày người anh em con phạm đến con bảy lần và bảy lần người ấy đến nói với con rằng tôi hối hận thì con cũng phải tha cho nó". Khi thấy điều đó khó thực hiện được nên người môn đệ của Chúa đã thưa: "Xin Thầy ban thêm lòng tin cho chúng con". Ðó là Lời Chúa nhắn nhủ dạy bảo chúng ta, còn đối với Thiên Chúa Ngài càng phải khoan dung tha thứ hơn, yêu thương chúng ta nhiều hơn nữa bằng một tình thương tha thứ vô cùng.
Trong dụ ngôn "Người Con Hoang Ðàng Trở Về" sau những tháng ngày ăn chơi trác táng thì bấy giờ nó suy nghĩ và thành tâm ăn năn thống hối trở về để xin cha tha thứ. Nhưng khi nhìn thấy con từ đàng xa, chưa kịp nghe con nói lên lời xin lỗi thì người cha đã bảo gia nhân đem áo mặc cho cậu, lấy nhẫn đeo vào tay cậu. Qua những cử chỉ yêu thương mặn nồng như thế đã nói lên tình thương của cha vẫn luôn luôn yêu thương con cái và người cha vẫn coi cậu như người con trong nhà. Vì thế, ông nói với gia nhân hãy làm thịt con bê béo để mừng con đã chết nay được sống lại. Tình thương của người cha bao la đã bỏ qua tất cả mọi lỗi lầm của đứa con hoang đàng trở về.
Trong đoạn Tin Mừng nói về một người mắc nợ ông vua như sau: Có một người mắc nợ ông vua kia đến mười ngàn nén bạc nhưng anh không có gì để trả nợ. Chủ ra lệnh bán anh và vợ con cùng tất cả gia sản anh để trả nợ. Anh liền sấp mình xuống dưới chân chủ mà van lơn: "Xin vui lòng cho tôi khất một kỳ hạn rồi tôi sẽ trả cho ngài tất cả". Người chủ động lòng thương trả tự do và tha nợ cho anh ta. Khi ra về anh ta gặp một người bạn mắc nợ anh ta một trăm nén bạc, anh ta tóm lấy bóp cổ người ấy mà nói:Hãy trả nợ cho ta, khi ấy người bạn sấp mình dưới chân và nói: Cho tôi khất một kỳ hạn. Nhưng anh ta không nghe, bắt người bạn đó tống giam vào ngục cho đến khi trả xong nợ. Người xung quanh thấy cảnh tượng thương tâm đó thuật lại với người chủ và người chủ đã bắt trao anh cho lý hình hành hạ cho đến khi trả hết nợ một ngàn nén bạc của anh.
Chúng ta đôi khi cũng thế, lòng Chúa khoan dung yêu thương, tha thứ cho chúng ta không biết bao nhiêu, vậy mà đối với anh em ta lại xét nét, chê bai, xử tệ, không tha thứ cho nhau dù chỉ là những lầm lỗi không đáng kể gì trước mặt Chúa là người Cha đầy tình thương dung thứ.
Lạy Chúa, xin cho mỗi người chúng con cảm nhận được lòng khoan dung tha thứ của Thiên Chúa để chúng con đáp lại tình thương nhỏ bé của chúng con đối với Ngài. Xin Chúa cho chúng con biết tha thứ cho nhau không những bảy lần nhưng là bảy mươi lần bảy, nghĩa là tha thứ cho nhau luôn luôn trong suốt cuộc sống. Amen.
Suy Niệm 4: Chiên lạc
Một nhà truyền giáo trong vùng Thái bình dương có kể lại sự kiện như sau: Ngày nọ có một người đàn bà bước vào lều của Ngìa với đôi bàn tay nắm chặt cát ướt. Bà hỏi ngài:
- Cha có biết cái gì trong tay con không?
Vị linh mục đáp:
- Hình như chị đang cầm cát trong tay thì phải?
Người đàn bà lại hỏi tiếp:
- Cha có biết tại sao con mang cát ấy đến đây không?
Nhà truyền giáo lắc đầu.
Người đàn bà liền giải thích:
- Thưa cha, đây là tội lỗi của con, tội con nhiều như cát biển, làm sao con có thể được tha thứ?
Lúc bấy giờ vị linh mục mới an ủi:
- Có phải chị lấy cát từ bờ biển không, vậy chị hãy quay trở lại bờ biển và giống như các em bé vẫn thường làm, chị hãy xây một núi cát, rồi chị ngồi đó và ngắm những đợt sóng biển, sóng biển sẽ vỗ vào bờ và cuốn đi ngọn núi cát của chị. Ơn tha thứ của Chúa cũng giống như thế, lòng nhân từ của Ngài bao la như đại dương, chị hãy thành tâm thống hối và Chúa sẽ tha thứ cho chị.
Một lần nữa, Giáo Hội lại tha thiết kêu gọi chúng ta quay trở về với Chúa. Với hình ảnh người mục tử bỏ 99 con chiên khỏe mạnh về tìm một con chiên lạc, trước hết Chúa Giêsu muốn nói với chúng ta về lòng nhân từ bao la của Thiên Chúa đối với con người. Chúng ta chỉ có thể tin tưởng quay về với Chúa, nếu chúng ta ý thức được tình yêu và lòng tha thứ của Ngài.
Tuy nhiên, con người chỉ có thể cảm nhận được lòng tha thứ của Thiên Chúa khi biết tha thứ cho anh em mình mà thôi. Đó là điều Chúa Giêsu muôn nêu bật trong Tin Mừng hôm nay. Thật thế, dụ ngôn người mục tử bỏ 99 con chiên khỏe mạnh để tìm một con chiên lạc được nhắm trước tiên đến những người biệt phái. Họ khó chịu khi thấy Chúa Giêsu kết thân với những người tội lỗi. Đề ra những khoản luật nghiêm nhặt về sự thanh tẩy, đặc biệt là thanh tẩy trước khi ăn, những biệt phái đã loại trừ nhiều tội nhân và những người thu thuế. Qua cử chỉ này, Ngài không những muốn nói với các tội nhân rằng Thiên Chúa yêu thương họ, Thiên Chúa đi tìm kiếm họ, Thiên Chúa tha thứ cho họ, nhưng Ngài còn mời gọi chính những người biệt phái, tức là những kẻ tự cho mình là lành thánh cũng phải hoán cải. Hoán cải trong quan niệm của họ về lòng nhân từ của Thiên Chúa, nhất là hoán cải trong cái nhìn của họ đối với người tội lỗi. Con người chỉ cảm nhận được tình yêu Thiên Chúa khi họ biết cảm thông và tha thứ cho tha nhân. Điều đó cũng có nghĩa là lòng nhân từ của Thiên Chúa không hề làm cho con người ra vong thân, nhưng biến nó trở thành người hơn, có trách nhiệm và dấn thân hơn. Con người chỉ thực sự thống hối khi nó biết thực thi lòng nhân ái với tha nhân.
Mỗi lần bước ra khỏi tòa giải tội ai trong chúng ta cũng cảm thấy như trút được một gánh nặng và tìm được bình an và niềm vui. Quả thực, như đại dương, lòng nhân từ Chúa sẽ xóa sạch tội lỗi chúng ta. Tuy nhiên để được tắm gội trong đại dương của lòng nhân từ ấy, chúng ta được mời gọi sống lòng nhân từ đối với tha nhân. “Con hãy về và đừng phạm tội nữa”. Lời Chúa Giêsu nói với người phụ nữ ngoại tình cũng được lặp lại cho mỗi người chúng ta. Bước ra khỏi tòa giải tội là được sai đi để thể hiện lòng nhân từ với tha nhân. Và đó là món quà cao đẹp và ý nghĩa mà chúng ta có thể gửi cho nhau trong mùa vọng này.
Suy Niệm 5: Đón rước Đấng Cứu Thế là đón kẻ bé mọn
“Anh em nghĩ sao? Ai có một trăm con chiên mà có một con đi lạc, lại không để chín mươi chín con kia trên núi mà đi tìm con chiên lạc sao? Và nếu may mà tìm được, thì Thầy bảo thật anh em, người ấy vui mừng vì con chiên đó, hơn chín mươi chín con không bị lạc. Cũng vậy, Cha anh em, Đấng ngự trên trời, không muốn cho một ai trong những kẻ bé mọn này phải hư mất. (Mt. 18, 12-14)
Nếu người ta đọc lại đầu chương 18 Tin mừng theo thánh Mát-thêu, người ta thấy rằng dụ ngôn chiên lạc được tiếp sau câu hỏi của các môn đệ: “Thưa Thầy, ai là người lớn nhất trong nước trời?” (18, 1). Đức Giêsu không trả lời ngay mà lần lượt trả lời theo ba nhịp độ sau:
1) Câu 2-5: Theo kiểu các ngôn sứ xưa, Đức Giêsu trả lời trước hết bằng một cử chỉ tượng trưng: “Người gọi một em bé đến, đặt giữa các ông và bảo: Thầy bảo thật anh em: nếu anh em không trở lại nên như trẻ em, thì chẳng sẽ được vào nước trời” (c. 3). Qua cử chỉ này, Đức Giêsu đảo lộn thứ bậc theo quan niệm của môn đệ. Tiếp theo, Người tự giới thiệu mình như trẻ nhỏ trước mặt Chúa Cha, môn đệ cũng phải trở nên nhỏ bé như em này, thì mới là người lớn nhất trong tình yêu của Chúa Cha.
2) Câu 6-9: Vì thánh ý của Chúa Cha là muốn cho mỗi người lớn lên trong tình yêu của Ngài, cho nên điều quan trọng là phải chăm lo săn sóc những bé nhỏ này, bằng cách tránh mọi gương mù và mọi khinh thường có thể làm chúng sa ngã.
3) Câu 10-14: Dụ ngôn chiên lạc nói đến kẻ bé mọn và gương mù (c. 6) hay cảm thấy bị khinh bỉ (c. 10) và hậu quả là dần dần xa cộng đồng vì cộng đồng không tiếp nhận nó vào cuộc sống cụ thể hằng ngày, và ngăn cản nó lớn lên trong tình yêu của Chúa Cha. Chính ra mỗi phần tử trong cộng đồng đều được đón nhận thánh ý của Chúa Cha đã muốn cho tất cả đều lớn lên trong tình yêu của Ngài, để không còn thấy mình bị xa lạc nữa, nhưng luôn luôn được đón tiếp, được tôn trọng như một nhân vị độc nhất.
Chúng ta cũng theo gương các môn đệ, cần thiết phải thanh tẩy óc địa vị của mình. Chúng ta có luôn luôn ý thức mình phải hoạt động theo tiếng gọi của Chúa Cha để thi hành trách nhiệm, mà Ngài đã trao phó cho chúng ta với danh nghĩa là môn đệ của Chúa Con và là phần tử của nước trời không?
Trong đời sống thực tế cụ thể hằng ngày, chúng ta có biết tránh mọi gương mù, gương xấu cho những kẻ bé mọn không? Có giúp chúng khám phá và lớn lên trong tình yêu của Chúa Cha không?
Hãy nhớ rằng Đức Giêsu đã tự đồng hóa mình với những kẻ bé mọn: “Ai tiếp đón một em nhỏ như thế này vì danh Thầy, là tiếp đón chính Thầy” (c. 5).
J. M.R
Suy Niệm 6: Tất cả vì tình yêu
Đức Giêsu thường làm những chuyện gây “sốc” cho những người xung quanh. Vì thế, người đương thời với Ngài và đôi khi cả chính chúng ta cũng có lối suy nghĩ rằng: Ngài chuyên làm những chuyện ngược đời, nghịch lý và khó hiểu ... !
Quả thật, nếu xét theo kiểu con người thì Đức Giêsu có rất nhiều những khuyết điểm. Những khuyết điểm đó là:
Ngài kém trí nhớ. Khi cả một đời tội lỗi ngập đầu, đến giờ chết xin Ngài tha thứ tội lỗi thì lại cho họ lên Thiên Đàng trước nhất: "Tôi bảo thật với anh, hôm nay, anh sẽ được ở với tôi trên Thiên Đàng" (Lc 23, 42-43).
Ngài cũng là một người không giỏi luận lý. Có đời thủa nào lại bày cho chủ tiệc đi mời những người nghèo nhất đến dự tiệc cưới của con mình: “ ... hãy mời những người nghèo khó, tàn tật, què quặt, đui mù. Họ không có gì để đáp lễ, và như thế, ông mới thật có phúc ... ” (Lc 14, 12-14).
Ngài còn là một người không biết tổ chức công việc. Người làm đầu tiên cũng như người làm giờ chót, tất cả đều được một đồng! (x. Mt 20, 1-16).
Trong mối liên hệ, bạn số một của Ngài lại là những người tội lỗi (x. Mt 9, 11. 12-13; Lc 15, 2; 19, 2.5.7.9 ... )
Hôm nay, Tin Mừng cũng thuật lại một sự nghịch lý đó ngang qua việc Đức Giêsu bỏ 99 con chiên lại để đi tìm một con chiên lạc. Điều này chứng tỏ Ngài không biết tính toán, là người dốt toán hạng chót ... !
Nếu chúng ta đứng về phía những người làm kinh tế, hẳn chúng ta sẽ kết luận Đức Giêsu là kẻ điên khùng vì những điều bất thường trên!
Tuy nhiên, Đức Giêsu muốn dùng những nghịch lý đó để làm sáng tỏ chân lý. Chân lý đó chính là: Thiên Chúa giàu lòng thương xót. Ngài cho mưa xuống trên kẻ dữ cũng như người lành. Ngài đến để cứu những gì đã mất. Ngài yêu thương đặc biệt những người tội lỗi ... .
Thật vậy, vì yêu thương, Đức Giêsu không để ý đến quá khứ tội lỗi của con người. Cũng vì yêu thương, Ngài đã chấp nhận chuộc những kẻ tội lỗi bằng tình yêu và cái chết.
Sứ điệp Lời Chúa hôm nay mời gọi chúng ta hãy có cái nhìn như Chúa, hành xử như Chúa. Hãy tin tưởng cậy trông vào lòng thương xót của Thiên Chúa như Maria Mađalêna, Phaolô, Augustinô, Charles de Foucauld ... . Thiên Chúa không kết án con người vì tội lỗi quá khứ của họ. Nhưng Thiên Chúa nhìn vào thực tại của chúng ta như chúng ta là ... trong giây phút hiện tại này.
Mùa Vọng là Mùa mời gọi chúng ta quay về với lòng thương xót của Thiên Chúa bằng thái độ sám hối để được Đức Giêsu “vác lên vai, đưa về nhà”.
Mặt khác, Mùa Vọng cũng mời gọi chúng ta noi gương Đức Giêsu để “đem yêu thương vào nơi oán thù, đem thứ tha vào nơi lăng nhục, đem an bình vào nơi tranh chấp, đem chân lý vào chốn lỗi lầm ... ”.
Lạy Chúa Giêsu, hình ảnh Chúa đi tìm con chiên lạc, khi tìm được, Chúa đã vác lên vai và yêu thương chúng đặc biệt, điều này đã khích lệ chúng con rất nhiều, bởi vì mỗi người chúng con đều cần đến sự tha thứ của Chúa như con chiên lạc khi xưa. Amen.
Ngọc Biển SSP
Suy Niệm 7: Chúa yêu thương mọi người, dù là tội lỗi
(TGM Giuse Nguyễn Năng)
Sứ điệp: Chúa yêu thương tất cả mọi người, dù đó là kẻ lầm lạc tội lỗi. Càng lầm lạc tội lỗi lại càng được Thiên Chúa xót thương hơn, bởi vì Người không muốn cho một ai bị hư mất.
Cầu nguyện: Lạy Chúa là Cha chúng con, trái tim của một người cha bao giờ cũng đầy lòng thương xót, Cha còn thương xót chúng con gấp bội. Cha tạo dựng nên con, mong mỏi con từng ngày lớn lên và bước đi trên đường hạnh phúc. Nhưng đời con đã nhiều lúc lầm đường lạc lối, tội lỗi ngập tràn. Tuy nhiên, Cha đã không trừng phạt con, không xua đuổi con, không thất vọng về con, không bỏ mặc con chết trong núi rừng hoang vắng mãi mãi xa lìa tình Cha. Cha đã lên đường tìm con. Lịch sử cứu độ là lịch sử những tháng ngày Cha dày công vất vả đi tìm con. Biến cố Giáng sinh là lúc Cha hy sinh Con của Cha để đi tìm nhân loại trở về. Con Cha đã rong ruổi trên khắp các nẻo đường Palettina, và ngày nay vẫn chưa ngừng những bước chân rong ruổi trên khắp các nẻo đường thế giới để đi tìm mỗi người chúng con trở về. Tình thương của Cha quá bao la đến độ dù chỉ một mình con đi lạc, Con Cha vẫn xuống thế làm người tìm con, tha thứ cho con, cứu độ con.
Cha tìm con, thế mà con cứ mê mải chạy trốn Cha, cứ ương ngạnh lao mình vào chỗ chết. Hôm nay, con dâng lên Cha lời cảm tạ tình thương trìu mến Cha dành cho con, và xin Cha tha thứ cho sự vô tâm cứng lòng của con. Xin Cha giúp con quay về với Cha, ngoan ngoãn nằm trong vòng tay Cha. Và dù con tội lỗi ngập tràn, Cha không thất vọng về con, thì xin Cha cũng đừng để con thất vọng về chính mình, trái lại, xin cho con luôn tin tưởng để làm lại cuộc đời. Amen.
Ghi nhớ: ”Chúa không muốn những kẻ bé nhỏ phải hư đi”.
Suy Niệm 8: Thiên Chúa là người mục tử
(Lm Nguyễn Vinh Sơn SCJ)
Câu chuyện
Ở Phi châu, có một bộ tộc khá kì lạ. Họ không bao giờ đếm, không ai biết tí gì về toán học. Có người hỏi một người dân bản địa có bao nhiêu cừu.
Anh đáp: “Không biết. ”
“Vậy nếu lỡ mất một hai con, làm sao anh biết”.
Câu trả lời thật ý nhị: “Không phải tôi mất một con số, mà mất một bộ mặt”.
Suy niệm
Kinh Thánh nói rất nhiều hình ảnh Thiên Chúa là người mục tử: Thánh Vịnh ca ngợi Thiên Chúa là người mục tử của dân (x. Tv 22; 79,2; 94,7), Ngôn sứ Isaia còn nhấn mạnh hình ảnh mục tử Giavê: ”Như mục tử, Chúa chăn giữ đoàn chiên của Chúa, tập trung cả đoàn dưới cánh tay. Lũ chiên con, Người ấp ủ vào lòng, bầy chiên mẹ, cũng tận tình dẫn dắt ” (Is 40,11). Ngôn sứ Giêrêmia đã loan báo Vua của Giuđa sẽ mang trách nhiệm người mục tử (x. Gr 2,8; 10,21). Thiên Chúa sẽ cho dân người những người mục tử mới với sự khôn ngoan (x. Gr 3,15; 23,1-4; Ed 34; Gcr 11,4-17). Êdêkien còn loan báo chỉ có một vị vua mới là mục tử (x. Ed 37,24).
Chúa Giêsu nhấn mạnh: Ngài là mục tử nhân lành hiến thân cho đoàn chiên (x. Ga 10,1-18. 27-30). Ngài còn nhận chính Ngài là người mục tử cho Israel - một đoàn chiên bị bỏ rơi (x. Mt 9,36; Mc 6,34). Ngài khẳng định sứ vụ mục tử của Ngài là tìm kiếm những con chiên lạc (x. Mt 10,6; Lc 15,4-7 ; Mt 18,12-13), điều đó biểu lộ Thiên Chúa luôn nhân hiền, bao dung, xót thương những con người tội lỗi sa ngã.
Ngài cũng mời gọi tất cả các mục tử trong cộng đoàn thi hành sứ vụ tìm kiếm những con chiên lạc khi dẫn đưa những kẻ lầm đường lạc lối trở về, vì Ngài không muốn bất cứ kẻ bé mọn nào trong cộng đoàn bị hư mất: “Chớ khinh một ai trong những kẻ bé mọn” (Mt 18,10) và ý của Cha trên trời là: “Không muốn một ai trong những kẻ bé mọn phải hư mất” (Mt 18,14). Cho nên người mục tử dành tình thương và cảm thông cho những thành viên lầm đường lạc lối.
Giáo hội là hiện thân của Ðức Giêsu và mỗi người chúng ta là chi thể của Ngài. Cho nên, chúng ta cũng được mời gọi yêu thương, tiếp nối sứ mệnh mục tử nhân lành của Ðức Giêsu Kitô khi giúp những anh em lầm lỗi trở về với Chúa.
Ý lực sống
“Ta sẽ đi tìm; con nào đi lạc, Ta sẽ đưa về; con nào bị thương, Ta sẽ băng bó; con nào bệnh tật, Ta sẽ làm cho mạnh” (Ed 34,16).
Suy Niệm 9: Dụ ngôn con chiên lạc
(Lm Giuse Đinh Lập Liễm)
1. Kinh thánh nói rất nhiều hình ảnh Thiên Chúa là Mục tử. Thánh vịnh ca ngợi Thiên Chúa là mục tử của Dân: “Chúa là mục tử tôi, tôi không thiếu gì” (Tv 22,1).
Tiên tri Isaia còn nhấn mạnh hình ảnh mục tử Giavê: “Như mục tử, Chúa chăn giữ đoàn chiên Chúa, tập trung cả đoàn dưới cánh tay. Lũ chiên con, Người ấp ủ vào lòng, bầy chiên mẹ, cũng tận tình dẫn dắt” (Is 40,11). Tiên tri Giêrêmia đã loan báo Vua Giuđa sẽ mang trách nhiệm người mục tử (Gr 3,15).
2. Đức Giêsu là hiện thân của Chúa Cha nên Ngài cũng xưng mình là mục tử: “Ta là mục tử nhân lành”(Ga 10,1-18, 27-28). Ngài là mục tử nhân lành hiến thân cho đoàn chiên. Ngài còn nhận chính Ngài mà mục tử cho Israel – một đàn chiên bị bỏ rơi (x. Mt 9,36). Ngài khẳng định sứ vụ mục tử của Ngài là tìm kiếm những con chiên lạc (Mt 10,6), điều đó biểu lộ Thiên Chúa luôn nhân hiền, bao dung, xót thương những con người tội lỗi sa ngã.
3. Ngài cũng mời gọi tất cả các mục tử trong cộng đoàn thi hành sứ vụ tìm kiếm những con chiên lạc khi dẫn đưa những kẻ lầm đường lạc lối trở về, vì Ngài không muốn bất cứ kẻ mọn hèn nào trong cộng đoàn bị hư mất: “Chớ khinh một ai trong những kẻ bé mọn” và ý Cha trên trời là: “Không muốn một ai trong những kẻ bé mọn phải hư mất” (Mt 18,14).
4. Năm Thánh Lòng Chúa Thương Xót kết thúc nhưng hẳn bạn vẫn chưa quên khẩu hiệu “Misericordes Sicut Pater” (Thương xót như Chúa Cha) cùng với biểu tượng Đức Giêsu vác trên vai một con người trông như đang vác con chiên, hai con người nhưng chỉ có ba con mắt. Đó là “ánh mắt đầy yêu thương của Chúa” đã giúp Giakêu, Matthêu, Madalena đổi đời, đã đánh động tâm hồn của Phêrô và bao người lầm đường lạc lối được ơn hoán cải. Ánh mắt bộc lộ tấm lòng thương xót của Chúa Cha trên trời “không muốn một ai phải hư mất”. Chúng ta cũng phải nhìn nhau bằng “con mắt thứ ba”, nhìn nhau bằng cái nhìn của Chúa, cái nhìn yêu thương tha thứ, cái nhìn cảm thông, quảng đại, và từ ánh mắt đó, chúng ta sẵn sàng bằng hành động dấn thân phục vụ (5 phút Lời Chúa).
5. Trong dụ ngôn có một chi tiết làm chúng ta thắc mắc: “Để 99 con trên núi mà đi tìm con chiên lạc”! Ta sẽ không thể hiểu được những câu này nếu ta chỉ suy nghĩ theo luận lý tính toán vụ lợi. Trái lại ta sẽ hiểu rất dễ nếu suy nghĩ theo lý lẽ của con tim, như Blaise Pascal nói: “Con tim có lý lẽ của nó” như: một người mẹ lạc con, phải chăng bà để các đứa con khác ở nhà và tất cả đi tìm đứa bị lạc.
Người mục tử bỏ 99 con chiên lành để đi tìm con chiên lạc không phải vì lý do kinh tế vì một con không đáng giá gì, nhưng chỉ vì tình thương thôi.
6. Thiên Chúa luôn sẵn sàng tha thứ cho chúng ta, những người lầm lỗi; nhưng Ngài chỉ có thể tha thứ khi chúng ta thật lòng sám hối. Người trộm lành suốt một đời lầm lỡ, thế mà chỉ trong giây phút cuối cùng, tỏ lòng sám hối ăn năn đủ để trở nên một vị thánh. Kẻ trộm trở nên thánh không phải vì là người tội lỗi, nhưng vì người trộm nhận biết mình là kẻ có tội.
Nếu Thiên Chúa đã tỏ lòng nhân hậu và tha thứ cho ta, thì Ngài muốn chúng ta cũng hãy tha thứ cho nhau như người cha nhân hậu xin anh cả tha thứ cho đứa em lầm lỗi.
7. Chúng ta cũng phải bắt chước Chúa mà thay đổi cách nhận định và thái độ cư xử đối với tội nhân. Nghĩa là đừng quá quan trọng hóa nết xấu, lỗi lầm của anh em, đừng nuôi lòng thích thú khi thấy anh em sa ngã, lỡ lầm, đừng giả đò thương hại khi đưa lỗi lầm của anh em ra mà bàn tán và đừng bao giờ tỏ vẻ khinh khi, ruồng bỏ anh em bằng lời ăn tiếng nói, bằng cử chỉ ánh mắt, nhưng hãy bắt chước Chúa biết thông cảm với nỗi khổ tâm của anh em, biết thao thức lo lắng giúp anh em sửa mình, biết tôn trọng, bênh vực anh em, và biết cầu nguyện cho anh em.
8. Truyện: Tình mẹ tha thứ.
Ở Batna, có một gia đình nằm vào địa điểm hẻo lành, gồm bà mẹ với các con, mà thằng con lớn phản bội vô số kể, tên là Sidi Melkassen, ưa a tùng với côn đồ du đãng, bị mẹ khiển trách hằng ngày. Mất tự do, thằng đó bực tức, nhất định hai mẹ con không đội trời chung. Liền bắt mẹ đem giam cầm vào một nhà cô tịch tăm tối. Lấy sợi xích lớn mà xiềng hai chân mẹ nó lại, đoạn đục vào tường gắn móc khóa lại và giữ chìa khóa trong túi. Đành lòng đóng cửa lại trước những tiếng kêu la, khóc lóc, van nài của mẹ.
Trên ba năm trời tù túng, nóng nực, lạnh lẽo, không mền, không chiếu, bữa no bữa đói, người mẹ than khóc đã khô nước mắt, kêu không ai nghe, buồn không một lời an ủi.
Chiều nọ, một nàng dâu thảo giật được chìa khóa và mở cửa, tháo xiềng giải thoát cho người mẹ vô phúc. Bà đi ra giữa thanh thiên bạch nhật, không còn hình tượng người nữa, ai nấy đều thương hại. Việc này thấu đến tai nhà chức trách, thằng con bất hiếu bị bắt và kêu án sáu tháng tù ở. Ai nấy đều ca tụng công lý. Chỉ có bà mẹ quên tội của con, cất tiếng lên vừa than khóc vừa xin tòa đừng tống giam con mình tội nghiệp.
Ôi, Tình mẹ bao la!
Suy Niệm 10: Tìm con chiên lạc
(Lm Carôlô Hồ Bắc Xái)
A. Hạt giống ...
Ta cần lưu ý tới văn mạch của đoạn Tin Mừng này là Mt chương 18 trong đó Mt gom chung những lời Chúa Giêsu dạy về nếp sống trong cộng đoàn Giáo Hội: phải phục vụ nhau (cc 1-4), đừng làm cớ cho anh chị em mình vấp ngã (cc 5-11), tìm cứu những anh chị em lầm lạc (đoạn này), sửa lỗi cho nhau (cc 15-18) v. v.
Trong một tập thể nhiều người, dĩ nhiên có người lầm lạc. Nếu không thương nhau thì tập thể sẽ bỏ mặc kẻ lầm lạc đó. Còn nếu thương nhau thực thì phải tiếc vì một người anh chị em mình bị lạc và do đó cố gắng tìm về.
Do đó, có thể nói rằng tập thể nào không tiếc xót một thành viên trong tập thể bị lầm lạc và không tận tình tìm cứu thành viên đó thì không phải là một tập thể yêu thương, không phải là tập thể có tính Giáo Hội.
B ... nẩy mầm.
1. Người ta chỉ cố sức tìm lại cái bị mất khi người ta thấy cái đó có giá trị. Người mục tử mới lặn lội đi tìm con chiên lạc vì vẫn coi con chiên đó là quý mặc dù nó đi lạc. Đối với Thiên Chúa, người nào cũng có giá trị, cho dù người đó là tội nhân. Bởi thế Ngài vẫn yêu thương, vẫn quý chuộng và lặn lội tìm cứu: “Con người đến để tìm cứu những gì hư mất” (Lc 19,10). Khi tôi không tìm cứu người lầm lạc trong cộng đoàn của tôi là tôi không còn coi người đó là anh chị em mình nữa, nhưng coi đó là đồ bỏ.
2. “Để 99 con trên núi mà đi tìm con chiên lạc” ... “Vui mừng vì con chiên đó hơn là vì 99 con không bị lạc”. Ta sẽ không thể hiểu được những câu này nếu ta chỉ suy nghĩ theo luận lý tính toán vụ lợi. Trái lại ta sẽ hiểu rất dễ nếu suy nghĩ theo lý lẽ của con tim. Như một người mẹ lạc con, phải chăng bà để các đứa con khác ở nhà và tất tả đi tìm đứa bị lạc!
3. Việc để 99 con chiên kia trên núi để đi tìm con chiên lạc chứng tỏ trong tình cảnh đó trong đầu người mục tử không còn nghĩ gì khác, và trong lòng ông cũng không còn tâm tình gì khác ngoài nỗi lo lắng cho con chiên lạc: nó rất khổ, nó đói khát, nó phải gặp biết bao nguy hiểm ... Càng thương nó, người mục tử càng thấy lòng mình như bị kim châm, lửa đốt ...
4. Một trong những ý của bài đọc Cựu Ước: “Ngài chăn dắt đoàn chiên Ngài như một mục tử. Ngài ẵm những con chiên trên cánh tay, ôm ấp chúng vào lòng, và nhẹ tay dẫn dắt những chiên mẹ”.
Nhiều khi tôi quen sống trái ngược với tâm tình của Chúa. Tôi vô tâm, bám vào khẩu hiệu “thiểu số phục tùng đa số”. Do đó có những cá nhân bơ vơ lạc lõng giữa công đoàn, họ trở thành vô danh giữa đám đông vô tình, chẳng ai ngó ngàng dìu họ về với nếp sống cộng đoàn.
Lạy Chúa, về một khiá cạnh nào đó, con cũng lại là một con chiên lạc. Vì ham vui, vì dại dột, vì cố ý… con đã tách rời khỏi bầu khí của cộng đoàn. Con trở nên lạc lõng bơ vơ giữa cộng đoàn đông người. Nhưng Chúa hằng lưu tâm tới mỗi cá nhân. Xin Chúa thương dắt con về với cộng đoàn.
5. “Người chăn chiên để 99 con kia trên núi mà đi tìm con chiên lạc” (Mt 18,12)
Đã có lần tôi cảm thấy ngao ngán khi phải đến thánh đường. Tất cả những sinh hoạt tôn giáo đối với tôi chỉ mất thời gian và vô nghĩa. Chúa ở đâu? Tôi chẳng cần biết nữa. Và tôi tự giải thoát bằng đam mê học tập, lo toan kiếm sống và chạy theo những thú vui… Cuộc sống vẫn trôi, vẫn vui.
Rồi một ngày, trên đường đến trường, tôi gặp đám tang của một bạn trẻ. Sau quan tài, bà mẹ được hai người dìu bước, khóc nức nở… Cảnh tượng ấy làm tôi hết sức xúc động. Nhìn gương mặt tươi trẻ của anh trong khuôn ảnh, tôi tự hỏi: Cuộc sống chỉ có thế thôi sao? Bạn ấy sẽ đi về đâu? Còn tôi? Chẳng lẽ cuộc sống lại kết liễu dễ dàng như vậy sao? Tôi cảm thấy băn khoăn, trống rỗng. Chẳng biết phải làm gì nữa, tôi lại tìm đến Chúa… Nhìn lên thập giá, Chúa Giêsu đang dang tay, đầu gục xuống, như mong mỏi, chờ đợi tôi từ lâu. Trong thinh lặng, tôi đã nhận ra chính Ngài đã kiếm tìm tôi qua sự kiện bất ngờ ấy.
Lạy Chúa, xin cho con luôn cảm nhận được tình Ngài luôn dõi bước theo con, kiếm tìm con, chờ đợi con, dẫu có những lúc con đã quên Ngài (Epphata).
Suy Niệm 11: Tình yêu của Thiên Chúa
(Lm Giuse Đinh Tất Quý)
Đây là câu chuyện về tình yêu của Thiên Chúa. Qua câu chuyện này chúng ta thấy được một ít nét về tình yêu của Ngài.
1. Tình yêu của Thiên Chúa là một tình yêu hết sức quảng đại.
Truyền thống Do Thái kể rằng: Để dạy cho Môisen bài học về sự yêu thương mà ông sẽ phải đem ra áp dụng với đoàn dân Chúa trao sau này, thì một hôm lúc ông còn đang lẩn trốn trong sa mạc, Chúa đã cho ông gặp một người chăn chiên. Ông đã sống trọn ngày với người chăn chiên này và giúp anh ta vắt sữa. Chiều đến, ông thấy anh ta đổ thứ sữa tốt ấy vào trong một cái bát lớn, đặt nó trên một hòn đá cách đó không xa. Môisen hỏi thì anh trả lời:
- Đó là sữa dành cho Thiên Chúa. Người chăn chiên trả lời.
Môisen tự cho mình có bổn phận phải giải thích cho thanh niên biết rằng, Thiên Chúa là Thần Linh. Người không uống sữa. Người thanh niên không muốn tin điều này cho nên sau một hồi tranh luận, Môisen gợi ý để cho anh đến núp sau bụi cây và rình xem Thiên Chúa có đến uống sữa của anh ta không ... Đêm đó, người chăn chiên núp sau một bụi cây, dưới ánh trăng, anh nhìn thấy một chú chồn tơ đến liếm một cách thèm thuồng bát sữa của anh. Xong chú chồn chạy biến vào sa mạc.
Sáng hôm sau, Môisen gặp lại người chăn chiên trong trạng thái sa sút tinh thần. Môisen hỏi anh:
- Hình như anh có điều gì không ổn?
Người chăn chiên chậm rãi trả lời:
- Ông quả có lý! Thiên Chúa là Thần Linh, Người không thèm sữa của tôi.
Ngạc nhiên, Môisen nói lớn:
- Bây giờ anh đã biết Thiên Chúa hơn rồi! Đáng lý ra anh phải hài lòng và vui lên mới phải chứ!
- Vâng, anh ta đáp - Tuy nhiên, cách tốt nhất để cho tôi biểu lộ tình yêu đối với Ngài đã bị mất.
Lúc đó, được Chúa soi sáng, Môisen đã chợt hiểu. Ông rút lui vào nơi thanh vắng. Ông cầu nguyện thâu đêm. Đêm đó, Thiên Chúa hiện ra với ông và nói:
- Môisen, ngươi đã lầm! Ta là Thần Linh. Điều này rất đúng nhưng không phải vì thế mà Ta đã không ưa thích đón nhận bát sữa của người chăn chiên dâng lên cho Ta để tỏ lòng thương mến Ta. Tuy nhiên, bởi vì Ta không cần dùng sữa, Ta đã chia sẻ bát sữa ấy với chú chồn tham ăn kia!
Vâng! Tình yêu của Chúa là thế.
2. Tình yêu của Thiên Chúa là một tình yêu chở đợi và tha thứ:
Trong một nhà thờ ở Tây Ban Nha, người ta tôn kính một cây Thánh Giá cổ xưa mà cánh tay phải của Chúa tách rời khỏi đinh. Cây Thánh Giá này có lịch sử như sau:
Ngày nọ, một tội nhân “gạo cội” đến xưng thú tội mình dưới cây Thánh Giá này với tất cả dấu hiệu của một sự thống hối chân thật. Cha giải tội do dự ban phép tha tội cho ông ta vì các tội của ông ta nhiều và nặng. Tội nhân nài xin sự tha thứ.
- Tôi ban phép giải tội cho ông, vị linh mục nói, tuy nhiên, ông không được tái phạm nữa nhé!
Tội nhân xin hứa và giữ được một thời gian. Nhưng rồi, vì yếu đuối ông lại sã ngã lại. Lòng thống hối thúc đẩy ông đến toà giải tội. Vị linh mục bảo ông:
- Lần này thì tôi không ban phép giải tội cho ông đâu!
- Con thống hối, - tội nhân đáp lời vị linh mục - con rất chân thành khi đoan hứa với cha, nhưng con yếu đuối! Xin hãy tha thứ cho con!
Cha giải tôi tha thứ và nói thêm:
- Đây là lần cuối cùng đó nhé!
Một thời gian khá lâu sau đó, một phần theo thói quen, một phần vì yếu đuối, ông lại rơi vào vòng tội lỗi.
- Bây giờ thì dứt khoát! –vị linh mục bảo - ông luôn rơi lại trong cùng một tội lỗi. Sự thống hối của ông không chân thành.
- Thưa Cha, con rất chân thành thống hối. Con sa ngã vì con yếu đuối. Con thẳng thắn, chân thực, nhưng con bệnh hoạn.
- Không, không còn sự tha thứ cho ông nữa.
Vào chính lúc đó người ta nghe có tiếng người khóc và có tiếng động phát xuất từ cây Thánh Giá: một cánh tay rời khỏi đinh, giơ lên và vạch trên đầu tội nhân dấu hiệu sự tha thứ, đồng thời có một tiếng nói: “Ngươi, ngươi có đổ máu ngươi ra cho người này đâu!”
Lạy Chúa Giêsu,
sau hơn 30 năm sống dưới mái nhà ở Nazareth,
Chúa đã thành một người chín chắn và trưởng thành, sẵn sàng lãnh nhận sứ mạng Cha giao.
Bầu khí yêu thương đã góp phần không nhỏ
trong việc hình thành nhân cách của Chúa.
Chúa đã học nơi thánh Giuse sự lao động miệt mài, sự mau mắn thi hành Thánh ý Thiên Chúa,
sự âm thầm chu toàn trách nhiệm đối với gia đình.
Chúa đã học nơi mẹ Maria sự tế nhị và phục vụ,
sự buông mình sống trong lòng tin phó thác
và nhất là một đời sống cầu nguyện thâm trầm.
Xin nhìn đến gia đình chúng con.
Xin biến nó thành nơi sản sinh những con người tốt, biết yêu thương
và tha thứ, biết cầu nguyện và phục vụ. Amen.
Suy Niệm 12: Chúa không muốn những kẻ nhỏ phải hư mất
(Lm. Micae Võ Thành Nhân)
Chúa là chủ chăn của chúng ta, chúng ta là những con chiên trong đàn chiên của Chúa. Chúa bồng ẵm chúng ta trên đôi tay của Chúa: “ Người chăn dắt đàn chiên Người như mục tử. Người ẵm những con chiên trên cánh tay, ấp ủ chúng vào lòng, và nhẹ tay dẫn dắt những chiên mẹ” (Is 40, 11). Nghĩa là Chúa thương chúng ta và Chúa rất nhẹ nhàng dẫn dắt chúng ta khi đi theo Chúa, nhất là khi chúng ta yếu đuối phạm lỗi.
Trên con đường theo Chúa, ngày ngày Chúa dẫn chúng ta đến các đồng cỏ xanh tươi để chúng ta có của ăn no thỏa nuôi thân, Chúa dẫn chúng ta đến dòng suối mát để chúng ta không bị khát, và khi chúng ta cháng chường mỏi mệt, Chúa đưa chúng ta đến các triền đồi có bóng mát lồng lộng gió cho chúng ta nghỉ ngơi, lúc chiều về màn đêm buông xuống, Chúa dẫn chúng ta về chuồng trại để chúng ta được an giấc, để Chúa bảo vệ chúng ta. Thế nhưng, chúng ta lại không muốn đi theo Chúa cho đàng hoàng tử tế, mà chúng ta lại trốn Chúa, tự tách ra khỏi đàn chiên, chẳng những một mình chúng ta mà chúng ta còn rũ rê, lôi kéo thêm những người khác cùng đi với chúng ta nữa. Chúng ta tưởng rằng những đồi bắp, những ruộng lúa, các con suối có lẽ sẽ thỏa mãn cho những dục vọngthèm khát thấp hèn của chúng ta hơn, mới lạ hơn, cho nên chúng ta thích ăn bắp, ăn lúa, ăn cỏ dại, ăn cỏ héo tàn hơn là ăn trong đồng cỏ xanh màu mỡ. Chúng ta thích uống rượu, bia, chất độc hơn là uống nước suối mát trong. Chúng ta thích chui vào nằm nghỉ trong các bụi rậm đầy rắn rít bò cọp thú dữ hơn là nơi các triền đồi thông thoáng gió mát để Chúa thấy mà ra tay bảo vệ, che chở kịp thời khi chúng ta gặp nguy hiểm, bị kẻ thù tấn công. Buổi tối, chúng ta không chịu về bên Chúa để Chúa gìn giữ chúng ta, mà thích lang thang nằm ở đầu đường xó chợ lõa lồ, lạnh lẽo. Thật sự lúc này chúng ta đã bỏ đàn chiên của Chúa, chúng ta đã đi lạc mất rồi. Chúng ta đã phạm tội. Nhưng Chúa lại thương chúng ta, đi tìm chúng ta. Chúa chẳng biết chúng ta ở vào một phương trời nào trong cái vũ trụ mênh mông bao la này. Chắc Chúa thất vọng lắm, nhưng vì thương chúng ta, vì Chúa có trái tim từ tâm nhân hậu, nên vũ trụ này tuy bao la lúc này lại trở thành nhỏ bé để rồi Chúa tiếp tục tìm kiếm chúng ta. Khi tìm được rồi, Chúa không đánh đập, không quát nạt, không trách móc, không dẫn chúng ta về bằng cách kéo lê, kéo lết chúng ta đi mà Chúa ôm chúng ta vào lòng, vác chúng ta trên vai về với Chúa: ” Khi ấy Chúa Giê-su phán cùng các môn đệ rằng: Các con nghĩ sao? Nếu ai có một trăm con chiên mà lạc mất một con, thì người đó lại không bỏ chín mươi chín con trên núi, để đi tìm con chiên lạc sao? Nếu người đó tìm được, thì quả thật, Thầy bảo các con, người đó sẽ vui mừng vì con chiên đó hơn chín mươi chín con chiên không thất lạc. Cũng vậy, Cha các con ở trên trời không muốn để một trong những kẻ bé nhỏ này phải hư đi” (Mt 18, 12 – 14).Chúa vui mừng vô cùng vì Chúa cứu được chúng ta. Vì vậy, chúng ta hãy để cho Chúa dẫn lối cuộc đời chúng ta đi.
Lạy Chúa, Chúa hứa là Chúa sẽ đến thăm viếng chúng con, xin Chúa cho chúng trong những ngày cùng với toàn thể Giáo Hội sống trong tâm tình Mùa Vọng này, chúng con biết san bằng những núi đồi tội lỗi chúng con khi chúng con đi xưng tôi. Chúng con lấp những đầy thung lũng thiếu sót trong bổn phận bằng cách lo làm các nhân đức để khi Chúa đến, chúng con sẽ gặp được Chúa. Amen.
Suy Niệm 13: Kẻ bé nhỏ nhất cũng được cứu
(Emmanuel Nguyễn Thanh Hiền, OSB)
Qua Lời Tổng Nguyện của Thứ Ba Tuần 2 Mùa Vọng hôm nay, các nhà phụng vụ muốn chúng ta ý thức rằng: Chúa đã hứa gửi đến cho toàn thể loài người một Đấng Cứu Tinh, xin Chúa cho chúng ta được vui mừng hoan hỷ chờ đón ngày giáng sinh vinh hiển của Người.
Vui mừng hoan hỷ chờ đón ngày giáng sinh vinh hiển của Chúa, trong niềm tin tưởng phó thác, tìm nương ẩn nơi Chúa, như trong bài đọc một của giờ Kinh Sách, ngôn sứ Isaia cho thấy: Ngày ấy, Đức Chúa sẽ chiến thắng: Đang khi, thành phố biểu tượng cho thế giới tội lỗi bị sụp đổ, thì những kẻ hèn yếu, khiêm tốn được cứu thoát khỏi cơn thịnh nộ. Họ dâng lên Thiên Chúa lời tạ ơn vì Người đã nên chốn ẩn thân cho họ. Lạy Đức Chúa, Ngài là Thiên Chúa của con, con suy tôn Ngài, con xưng tụng danh Ngài. Ngài đã thực hiện bao kỳ công. Ngài là chốn dung thân cho người hèn yếu, là nơi nương náu cho kẻ khó nghèo.
Vui mừng hoan hỷ chờ đón ngày giáng sinh vinh hiển của Chúa, trong niềm trông cậy vững vàng vào lời Chúa hứa, như trong bài đọc hai của giờ Kinh Sách, Hiến Chế Tín Lý Ánh Sáng Muôn Dân của Công Đồng Vaticanô II nói: Cuộc phục hồi mà chúng ta đang mong đợi theo lời hứa, đã khởi sự nơi Đức Kitô, được triển khai, khi Thánh Thần được cử đến, và đang tiếp diễn trong Hội Thánh nhờ Thánh Thần... Chúng ta nóng lòng mong đợi Đức Giêsu Kitô đến cứu chúng ta: Người sẽ biến đổi thân xác yếu hèn của chúng ta nên giống thân xác vinh hiển của Người. Chúng ta hãy sống chừng mực, công chính và đạo đức ở thế gian này, vì chúng ta trông chờ ngày hồng phúc vẫn hằng mong đợi, ngày Thiên Chúa xuất hiện vinh quang.
Vui mừng hoan hỷ chờ đón ngày giáng sinh vinh hiển của Chúa, trong niềm hy vọng được phục hồi, được Chúa khoan hồng khi Người ngự đến xét xử trần gian, như trong bài đọc một của Thánh Lễ, ngôn sứ Isaia cho thấy: Thiên Chúa phán: Hãy an ủi, an ủi dân Ta: Hãy ngọt ngào khuyên bảo Giêrusalem, và hô lên cho Thành: thời phục dịch của Thành đã mãn, tội của Thành đã đền xong, vì Thành đã bị tay Đức Chúa giáng phạt gấp hai lần tội phạm. Trong bài Đáp Ca, Thánh Vịnh 95, vịnh gia đã cho thấy: Kìa Thiên Chúa chúng ta quang lâm hùng dũng. Trời vui lên, đất hãy nhảy mừng, biển gầm vang cùng muôn hải vật, ruộng đồng cùng hoa trái, nào hoan hỷ. Hỡi cây cối rừng xanh, hãy reo mừng trước tôn nhan Chúa, vì Người ngự đến, Người ngự đến xét xử trần gian. Người xét xử địa cầu theo đường công chính, xét xử muôn dân theo chân lý của Người.
Câu Tung Hô Tin Mừng, mà các nhà phụng vụ đã chọn cho ngày lễ hôm nay là: Ngày của Chúa gần kề; kìa Người ngự đến cứu chúng ta. Trong bài Tin Mừng, Đức Giêsu nói: Thiên Chúa không muốn những kẻ bé nhỏ phải hư vong. Chúa sẽ ngự đến giải cứu chúng ta, Chúa không muốn để kẻ bé mọn nhất phải hư mất, Chúa muốn cứu độ hết thảy mọi người. Trong Hội Thánh, đức tin dạy chúng ta biết được ý nghĩa của cuộc sống trần gian, đang khi chúng ta hoàn tất công trình Chúa Cha đã uỷ thác cho ở đời này, với niềm hy vọng đạt tới quê trời. Như thế, thời đại cuối cùng đã đến với chúng ta. Cuộc canh tân trên thế giới đã được xác định cách dứt khoát, và trong thực tế, đã khởi sự ngay ở đời này một cách nào đó. Quả thật, Hội Thánh ở trần gian này tỏa chiếu một sự thánh thiện đích thực, tuy chưa hoàn hảo, vẫn đang rên siết và quằn quại như sắp sinh nở, và mong đợi ngày Thiên Chúa mặc khải vinh quang của con cái Người. Chúa quyết tìm cho kỳ được con chiên đã bị mất, ước gì chúng ta đừng để mình bị lạc mất ơn cứu độ của Chúa. Chúa đã hứa gửi đến cho toàn thể loài người một Đấng Cứu Tinh, Ước gì chúng ta biết vui mừng hoan hỷ chờ đón ngày giáng sinh vinh hiển của Người. Ước gì được như thế!
- Viết bởi Lc 1, 26-38
Xin Vâng.
Thứ Hai tuần 2 mùa vọng. – ĐỨC MẸ VÔ NHIỄM NGUYÊN TỘI. Lễ trọng. Lễ HỌ. Cầu cho giáo dân.
"Chào Trinh Nữ đầy ân sủng, Chúa ở cùng Trinh Nữ".
* Ngay từ giây phút đầu tiên trong đời, Đức Maria đã được gìn giữ khỏi vương bất cứ tội lỗi nào, nhờ ân sủng do cái chết của Con mình. Như vậy, tín điều Đức Maria vô nhiễm nguyên tội được đặt căn bản trên đặc ân làm Mẹ Thiên Chúa.
Đức Maria vô nhiễm nguyên tội, cũng như được cất lên trời là hình ảnh tiên báo Hội Thánh. Thiên Chúa muốn cho Hội Thánh không tỳ ố, không vết nhăn, hoặc bất cứ một khuyết điểm nào.
- Viết bởi : Lc 3, 1-6
Dọn đường cho Chúa.
CHÚA NHẬT 2 MÙA VỌNG năm C.
"Mọi người sẽ thấy ơn cứu độ của Thiên Chúa".
Lời Chúa: Lc 3, 1-6
Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo Thánh Luca.
Ðời hoàng đế Tibêriô năm thứ mười lăm, Phongxiô Philatô làm toàn quyền xứ Giuđêa, Hêrôđê làm thủ hiến xứ Galilêa, còn em là Philipphê làm thủ hiến xứ Ituria và Tracônitêđê; Lysania làm thủ hiến xứ Abilêna; Anna và Caipha làm thượng tế; có lời Chúa đã kêu gọi Gioan, con Giacaria, trong hoang địa.
- Viết bởi Mt 9,35 - 10,1. 6-8
Lúa chín đầy đồng, thợ gặt thì ít.
Thứ Bảy đầu tháng, tuần 1 mùa vọng. – Thánh Amrôxiô, giám mục, tiến sĩ Hội Thánh. Lễ nhớ.
"Thấy đoàn lũ dân chúng, Người động lòng xót thương họ".
* Thánh Amrôxiô chào đời ở Trêvêrô khoảng năm 340 trong một gia đình người Rôma. Thánh nhân theo học ở Rôma và bắt đầu sự nghiệp hiển hách ở Xiếcmiô.
Năm 374, lúc đang ở Milanô, thánh nhân bất ngờ được bầu làm giám mục và được tấn phong ngày 7 tháng 12. Người trung thành thi hành bổn phận, nổi bật nhất về lòng bác ái đối với mọi người. Đối với các tín hữu, người vừa là mục tử, vừa là tôn sư. Người đã can đảm bênh vực các quyền của Hội Thánh, người vừa viết lách, vừa hoạt động để bênh vực giáo lý đức tin chân thật, chống lại những người theo phái Ariô.
Người qua đời thứ bảy tuần thánh, ngày 07 tháng 04 năm 397.
- Viết bởi Mt 9, 27-31
Chữa lành 2 người mù.
Thứ Sáu đầu tháng, tuần 1 mùa vọng.
"Tin vào Chúa Giêsu, hai người mù được chữa lành".
LỜI CHÚA: Mt 9, 27-31
Khi ấy, Chúa Giêsu đi ngang qua, có hai người mù chạy theo Chúa và kêu lớn tiếng rằng: "Hỡi Con vua Đavít, xin thương chúng tôi".
Khi Chúa tới nhà, những người mù tiến lại gần Chúa. Chúa Giêsu phán bảo họ: "Các ngươi có tin rằng Ta có thể làm việc ấy không?" Họ thưa: "Lạy Thầy, có". Bấy giờ Chúa sờ vào mắt họ và phán: "Các ngươi tin thế nào, thì hãy được như vậy". Mắt họ liền mở ra, nhưng Chúa Giêsu truyền cho họ rằng: "Coi chừng, đừng cho ai biết". Nhưng vừa ra đi, họ liền đồn tiếng Người trong khắp miền ấy.
- Viết bởi Mt 7, 21. 24-27
Người khôn ngoan thực sự.
Thứ Năm đầu tháng, tuần 1 mùa vọng.
"Ai thực hiện ý Chúa Cha, sẽ được vào nước trời".
LỜI CHÚA: Mt 7, 21. 24-27
Khi ấy, Chúa Giêsu phán cùng các môn đệ rằng: "Không phải tất cả những ai nói với Ta, 'Lạy Chúa, lạy Chúa!', là được vào nước trời, nhưng chỉ có người thực hiện ý Cha Ta ở trên trời, kẻ ấy mới được vào nước trời.
- Viết bởi Mt 15, 29-37
Hóa bánh ra nhiều lần 2.
Thứ Tư tuần 1 mùa vọng.
"Chúa Giêsu chữa nhiều người và hoá bánh ra nhiều".
LỜI CHÚA: Mt 15, 29-37
Khi ấy, Chúa Giêsu đến gần biển Galilêa, và Người lên ngồi trên núi; dân chúng lũ lượt đến cùng Người, đem theo kẻ câm, mù, què, liệt và nhiều người khác, và đặt họ dưới chân Người. Người đã chữa lành họ. Dân chúng kinh ngạc nhìn thấy kẻ câm nói được, người què bước đi, người đui lại thấy, và họ tôn vinh Thiên Chúa Israel.
- Viết bởi Mc 16, 15-20
Rao giảng cho mọi dân tộc.
Thứ Ba tuần 1 mùa vọng – THÁNH PHANXICÔ XAVIÊ linh mục. Bổn mạng các xứ truyền giáo. Lễ kính.
"Các con hãy đi khắp thế gian, rao giảng Tin Mừng".
* Thánh Phanxicô chào đời tại Tây Ban Nha năm 1506. Khi đang học văn chương ở Pa-ri, người nhập đoàn với thánh I-nha-xi-ô. Người chịu chức linh mục ở Rôma năm 1537 và chăm lo thực hành việc bác ái. Năm 1541, người lên đường sang phương Đông. Trong mười năm, người can đảm loan báo Tin Mừng cho người Ấn Độ và Nhật Bản, giúp cho nhiều người hoán cải mà đón nhận đức tin. Người qua đời năm 1552 ở đảo Xanxian, cửa ngõ vào Trung Quốc.
- 02/12 Niềm tin đích thực
- 01/12 Tỉnh thức và cầu nguyện luôn.
- 30/11 Ngư phủ lưới người.
- 29/11 Nhận ra tiếng Chúa qua các biến cố.
- 28/11 Giờ cứu rỗi gần đến
- 27/11 Làm chứng về Chúa
- 26/11 Gắn bó với Chúa từng giây phút.
- 25/11 Làm chứng cho Chúa.
- 24/11 Vua Giêsu.
- 23/11 Chúa Giêsu xác định rõ ràng về sự sống lại.
