Sống Lời Chúa Hôm Nay
- Viết bởi Linh mục Anthony Đinh Minh Tiên, OP
Thứ Tư Tuần 10 TN1, Năm B
Bài đọc: 2 Cor 3:4-11; Mt 5:17-19.
GIỚI THIỆU CHỦ ĐỀ: Giao Ước mới kiện toàn Giao Ước cũ
Tác giả Sách Giáo Sĩ nói về sự cần thiết của thời gian: "Ở dưới bầu trời này, mọi sự đều có lúc, mọi việc đều có thời: một thời để chào đời, một thời để lìa thế; một thời để trồng cây, một thời để nhổ cây; một thời để giết chết, một thời để chữa lành; một thời để phá đổ, một thời để xây dựng" (Eccl 3:1-3).
Thánh Phaolô nói về sự cần thiết của kinh nghiệm: "Cũng như khi tôi còn là trẻ con, tôi nói năng như trẻ con, hiểu biết như trẻ con, suy nghĩ như trẻ con; nhưng khi tôi đã thành người lớn, thì tôi bỏ tất cả những gì là trẻ con" (I Cor 13:11). Khi nhìn lại quãng đời niên thiếu, nhiều người hối hận vì họ không thể nào ngờ mình lại vô tư và thiếu chín chắn như thế; nhưng trong tiến trình trở thành người trưởng thành, họ phải trải qua những kinh nghiệm như vậy.
Cũng thế, khi so sánh hai Giao Ước cũ và mới trong Kế Hoạch Cứu Độ của Thiên Chúa, chúng ta cần để ý đến tiến trình thời gian và kinh nghiệm, vì Thiên Chúa không làm sự gì vô ích. Vì con người không thể tiếp nhận một lúc, nên Ngài phải chuẩn bị mọi sự theo thời gian, mặc dù Ngài không bị lệ thuộc vào thời gian. Vì khả năng con người giới hạn, nên Ngài phải chuẩn bị từ chỗ bất toàn đến chỗ hoàn hảo, mặc dù Ngài có uy quyền để thực hiện cái hoàn hảo ngay. Trong tiến trình trở nên hoàn hảo: phải có cái cũ thì mới có cái mới, và cái mới làm hoàn hảo cái cũ; nếu không có cái cũ thì cũng chẳng có cái mới.
Các Bài Đọc hôm nay là những ví dụ của tiến trình trở nên hoàn hảo. Trong Bài Đọc I, khi thánh Phaolô bị chất vấn bởi những người Do-thái thủ cựu, Ngài so sánh cho họ thấy sự hoàn hảo của giao ước mới trên giao ước cũ, và kết luận: vì giao ước mới hoàn hảo hơn giao ước cũ; nên vinh quang có được do việc phục vụ giao ước mới cũng lớn hơn vinh quang có được do việc phục vụ giao ước cũ. Trong Phúc Âm, khi nhiều người thuộc phái Pharisees nghĩ Chúa Giêsu đến để dạy dân chúng phá bỏ Lề Luật, nên Ngài tuyên bố: "Anh em đừng tưởng Thầy đến để bãi bỏ Luật Moses hoặc lời các ngôn sứ. Thầy đến không phải là để bãi bỏ, nhưng là để kiện toàn."
KHAI TRIỂN BÀI ĐỌC:
1/ Bài đọc I: Giao ước mới hoàn hảo hơn giao ước cũ.
1.1/ Tranh chấp giữa hai giao ước cũ và mới: Giống như Chúa Giêsu, thánh Phaolô cũng đã từng có kinh nghiệm về sự tranh chấp giữa Lề Luật của Moses và những giáo huấn của Đức Kitô. Theo kinh nghiệm bản thân, ông đã từng nhiệt thành bắt bớ các tín hữu theo đạo mới, vì ông cho lối sống của họ là hoàn toàn ngược lại với Lề Luật và truyền thống; cho đến khi Đức Kitô tỏ uy quyền của Ngài trên đường đi Damascus. Kinh nghiệm này giúp ông yêu thương và thông cảm với những người Do-thái khó chấp nhận giáo huấn của Đức Kitô; mặc dù họ không ngừng bắt bớ ông như họ đã từng bắt bớ Chúa Giêsu.
Trong trình thuật hôm nay, ông chia sẻ kinh nghiệm của ông về hai Giao Ước với họ như sau: "Không phải vì tự chúng tôi, chúng tôi có khả năng để nghĩ rằng mình làm được gì, nhưng khả năng của chúng tôi là do ơn Thiên Chúa, Đấng ban cho chúng tôi khả năng phục vụ Giao Ước Mới, không phải Giao Ước căn cứ trên chữ viết, nhưng dựa vào Thánh Thần. Vì chữ viết thì giết chết, còn Thánh Thần mới ban sự sống."
(1) Giao Ước cũ: Giao ước căn cứ trên chữ viết là Giao Ước Thiên Chúa làm với dân trên núi Sinai. Trong Giao ước này, Ngài đã ban cho họ Thập Giới viết trên đá qua tay ông Moses, và căn dặn họ như sau:
Coi đây, hôm nay tôi đưa ra cho anh em chọn: hoặc là được sống, được hạnh phúc, hoặc là phải chết, bị tai hoạ. Hôm nay tôi truyền cho anh em phải yêu mến Đức Chúa, Thiên Chúa của anh em, đi theo đường lối của Người, và tuân giữ các mệnh lệnh, thánh chỉ, quyết định của Người, để anh em được sống, được thêm đông đúc, và Đức Chúa, Thiên Chúa của anh em, chúc phúc cho anh em trong miền đất anh em sắp vào chiếm hữu. Nhưng nếu anh em trở lòng và không vâng nghe, lại bị lôi cuốn và sụp xuống lạy các thần khác và phụng thờ chúng, thì hôm nay tôi báo cho anh em biết: chắc chắn anh em sẽ bị diệt vong, sẽ không được sống lâu trên đất mà anh em sắp sang qua sông Jordan để vào chiếm hữu. (Deut 30:15-18)
Mặc dù đã được căn dặn kỹ càng như thế, nhưng không một ai trong Israel có thể tự hào mình không bao giờ vi phạm Thập Giới; và hậu quả là tất cả đều phải chết như lời Thiên Chúa báo trước. Nhưng Thiên Chúa không muốn con người phải chết, đó là lý do tại sao Ngài thiết lập với con người một giao ước mới.
(2) Giao Ước mới: Tiên tri Jeremiah đã tiên báo về giao ước này như sau:
Này sẽ đến những ngày - sấm ngôn của Đức Chúa - Ta sẽ lập với nhà Israel và nhà Judah một giao ước mới, không giống như giao ước Ta đã lập với cha ông chúng, ngày Ta cầm tay dẫn họ ra khỏi đất Ai-cập; chính chúng đã huỷ bỏ giao ước của Ta, mặc dầu Ta là Chúa Tể của chúng - sấm ngôn của Đức Chúa. Nhưng đây là giao ước Ta sẽ lập với nhà Israel sau những ngày đó - sấm ngôn của Đức Chúa. Ta sẽ ghi vào lòng dạ chúng, sẽ khắc vào tâm khảm chúng Lề Luật của Ta. Ta sẽ là Thiên Chúa của chúng, còn chúng sẽ là dân của Ta. Chúng sẽ không còn phải dạy bảo nhau, kẻ này nói với người kia: "Hãy học cho biết Đức Chúa," vì hết thảy chúng, từ người nhỏ đến người lớn, sẽ biết Ta - sấm ngôn của Đức Chúa. Ta sẽ tha thứ tội ác cho chúng và không còn nhớ đến lỗi lầm của chúng nữa. Israel sẽ tồn tại mãi. (Jer 31:31-34)
1.2/ Vinh quang của việc phục vụ Thánh Thần: Phaolô cũng so sánh vinh quang có được do sự phục vụ giữa hai Giao ước, và kết luận như sau: "Nếu việc phục vụ Lề Luật - thứ Lề Luật chỉ đưa đến sự chết và được khắc ghi từng chữ trên những bia đá - mà được vinh quang đến nỗi dân Israel không thể nhìn mặt ông Moses được, vì mặt ông chói lọi vinh quang - dù đó chỉ là vinh quang chóng qua - thì việc phục vụ Thánh Thần lại không được vinh quang hơn sao?"
2/ Phúc Âm: Thầy đến không phải là để bãi bỏ, nhưng là để kiện toàn.
2.1/ Chúa Giêsu đến để kiện toàn Lề Luật: Nhiều Kinh-sư nghĩ, khi Chúa Giêsu chỉ trích họ về việc rửa tay và giữ ngày Sabbath, là Ngài muốn hủy bỏ tất cả Lề Luật và truyền thống của tổ tiên. Thực ra, Ngài chỉ phê bình thói giả hình và khinh thường Lề Luật của họ. Trong trình thuật hôm nay, Chúa Giêsu muốn làm sáng tỏ điều này với các môn đệ: "Anh em đừng tưởng Thầy đến để bãi bỏ Luật Moses hoặc lời các ngôn sứ. Thầy đến không phải là để bãi bỏ, nhưng là để kiện toàn. Vì, Thầy bảo thật anh em, trước khi trời đất qua đi, thì một chấm một phết trong Lề Luật cũng sẽ không qua đi, cho đến khi mọi sự được hoàn thành."
2.2/ Sự quan trọng của Lề Luật: Khi nói "giao ước mới hoàn hảo hơn giao ước cũ," cả Chúa Giêsu và thánh Phaolô không bao giờ có ý muốn nói Lề Luật Thiên Chúa ban qua Moses trở thành vô hiệu. Các tín hữu vẫn phải giữ Lề Luật của Thiên Chúa như Chúa Giêsu dạy: "Vậy ai bãi bỏ dù chỉ là một trong những điều răn nhỏ nhất ấy, và dạy người ta làm như thế, thì sẽ bị gọi là kẻ nhỏ nhất trong Nước Trời. Còn ai tuân hành và dạy làm như thế, thì sẽ được gọi là lớn trong Nước Trời."
ÁP DỤNG TRONG CUỘC SỐNG:
- Hai thái cực cần tránh: có những người không thích thay đổi, họ muốn giữ tỉ mỉ từng chi tiết của Lề Luật và truyền thống; ngược lại, có những người dễ dàng thay đổi như chong chóng, họ phê bình và đả kích tất cả những gì trong quá khứ.
- Người khôn ngoan là người phải biết suy xét và so sánh cẩn thận, để nhận ra những gì của quá khứ là tốt cần giữ lại, những gì là xấu cần bỏ đi; đồng thời biết nhận ra những cái hay đẹp của hiện tại để học hỏi và áp dụng.
Linh mục Anthony Đinh Minh Tiên, OP
- Viết bởi Linh mục Anthony Đinh Minh Tiên, OP
Thứ Ba Tuần 10 TN1, Năm lẻ
Bài đọc: 2 Cor 1:18-22; Mt 5:13-16.
GIỚI THIỆU CHỦ ĐỀ: Con người được trang bị để làm vinh danh Thiên Chúa.
Trong việc giao tiếp, danh giá của một người ảnh hưởng đến những gì họ nói và làm; ví dụ, khán giả thường tin vào danh giá của diễn giả, trước khi họ có thể tin vào những gì diễn giả nói. Nhưng danh giá là những gì diễn giả có được, chỉ sau một thời gian chứng minh cho khán giả biết mình là người có thể tin cậy được. Ngược lại, nếu khán giả nghi ngờ danh giá của diễn giả, họ sẽ không tin hay không thèm nghe, những gì diễn giả trình bày. Trong việc rao giảng Tin Mừng cũng thế, nhà rao giảng cần thiết lập danh giá của mình trước khi rao giảng Tin Mừng cho khán giả. Nếu nhà rao giảng có một cuộc sống bê bối hay gian dối, ông không thể làm cho người khác tin vào Tin Mừng ông rao giảng, vì “lời nói lung lay, gương bày lôi cuốn.”
Các Bài Đọc hôm nay tập trung trong việc Thiên Chúa đã trang bị cho con người đầy đủ để họ có thể làm chứng cho Ngài. Trong Bài Đọc I, thánh Phaolô xác nhận rõ ràng Đức Kitô đã làm cho tất cả những lời hứa của Thiên Chúa thành hiện thực. Phaolô và các môn đệ của ông noi gương Đức Kitô để sống và làm chứng cho sự thật này. Trong Phúc Âm, Chúa Giêsu nói với các môn đệ: anh em là muối để ướp và là ánh sáng để soi sáng cho thế gian. Ánh sáng của anh em phải chiếu giãi trước mặt thiên hạ, để họ thấy những công việc tốt đẹp anh em làm, mà tôn vinh Cha của anh em, Đấng ngự trên trời.
KHAI TRIỂN BÀI ĐỌC:
1/ Bài đọc I: Quả thật, mọi lời hứa của Thiên Chúa đều là “có” nơi Người.
1.1/ Đức Kitô là mọi tiếng “có” của Thiên Chúa: Thánh Phaolô xác quyết Đức Kitô hoàn thành những gì Thiên Chúa hứa với con người qua các Tổ-phụ và Tiên-tri: “Quả thật, mọi lời hứa của Thiên Chúa đều là “có” nơi Người. Vì thế, cũng nhờ Người mà chúng ta hô lên “Amen” để tôn vinh Thiên Chúa.” Một vài ví dụ dẫn chứng điều này: lời Thiên Chúa hứa ban cho Abraham một giòng dõi đông như sao trên trời và như cát ngoài bãi biển, lời hứa ban Đấng Thiên Sai qua các tiên tri, lời hứa ban ơn cứu độ cho tất cả mọi dân tộc … Tiếng “Amen” mà chúng ta thường thưa sau đoạn kết của các kinh nguyện: “chúng con cầu xin nhờ Đức Kitô, Chúa chúng con. Amen” có nghĩa “chớ gì được như thế.” Vì Đức Kitô là nguồn mạch mọi ơn lành, chúng ta xin những điều đó nhân danh Ngài, và ước mong Thiên Chúa sẽ ban những điều chúng ta xin.
Ngược lại với Thiên Chúa, con người không luôn luôn giữ những gì mình hứa. Vì thế, con người phải bắt chước Đức Kitô để luôn luôn biết nói, sống, và làm chứng cho sự thật. Thánh Phaolô phân giải với các tín hữu Corintô: “Xin Thiên Chúa trung thành chứng giám cho chúng tôi! Lời chúng tôi nói với anh em chẳng phải vừa là “có” vừa là “không.” Vì Đức Giêsu Kitô, Con Thiên Chúa, Đấng mà chúng tôi, là Sylvano, Timothy, và tôi, rao giảng cho anh em, đã không vừa là “có” vừa là “không,” nhưng nơi Người chỉ toàn là “có.”" Khi con người trung thành giữ những gì Đức Kitô dạy, họ làm chứng cho Ngài và cho Thiên Chúa.
1.2/ Thánh Thần là bảo chứng mọi tiếng “có” của Thiên Chúa: Thiên Chúa không những sai Đức Kitô để thực hiện những gì Ngài hứa với con người, mà còn gởi Thánh Thần của Ngài tới để giúp con người có sức để hoàn thành những gì Ngài đòi hỏi. Ví dụ, Đức Kitô đã chết để phục hồi sự sống cho con người; nhưng để có sự sống này, Thiên Chúa đòi con người phải tin vào Đức Kitô và giữ những điều răn Ngài dạy. Điều kiện này không phải dễ làm với sức con người; vì thế, Thiên Chúa, qua lời cầu xin của Đức Kitô, đã gởi Thánh Thần xuống cho các tín hữu. Thánh Phaolô xác nhận điều này: “Đấng củng cố chúng tôi cùng với anh em trong Đức Kitô và đã xức dầu cho chúng ta, Đấng ấy là Thiên Chúa. Chính Người cũng đã đóng ấn tín trên chúng ta và đổ Thánh Thần vào lòng chúng ta làm bảo chứng.” Bảo chứng hay tiền đặt cọc (arrabon) bảo đảm lời hứa của một người là thật. Khi Thiên Chúa gởi Thánh Thần, Ngài bảo đảm ơn cứu độ là của chúng ta, nếu chúng ta chịu theo sự hướng dẫn của Thánh Thần; nhưng nếu chúng ta không theo sự hướng dẫn của Ngài (như một người không chịu trả tiền nhà mỗi tháng), chúng ta sẽ không đạt tới ơn cứu độ.
2/ Phúc Âm: Ánh sáng của anh em phải chiếu giãi trước mặt thiên hạ.
2.1/ Hai biểu tượng: Để dẫn chứng điều Thiên Chúa đã ban mọi ơn lành đầy đủ cho con người để họ có thể làm vinh danh Thiên Chúa, Đức Kitô dùng hai hình ảnh để cắt nghĩa cho các môn đệ:
(1) Muối: Hai công dụng chính của muối là ướp mặn thịt cá cho khỏi hư và thêm gia vị cho thực phẩm. Muối không giữ vị mặn cho mình, nhưng được dùng cho các thực phẩm khác. Chúa Giêsu tuyên bố: “Chính anh em là muối cho đời.” Muối không ướp mặn là muối vô dụng, như lời Chúa cảnh cáo: “Nhưng muối mà nhạt đi, thì lấy gì muối nó cho mặn lại? Nó đã thành vô dụng, thì chỉ còn việc quăng ra ngoài cho người ta chà đạp thôi.”
Một trong những điều chúng ta có thể so sánh với muối là tình yêu. Giống như muối đến từ biển, tình yêu đến từ Thiên Chúa vì Ngài là tình yêu. Con người không phải là nguồn tình yêu, nhưng nhận được tình yêu từ Thiên Chúa, qua Đức Kitô. Con người không giữ tình yêu để chỉ yêu mình, nhưng là để yêu thương Thiên Chúa và tha nhân. Nếu con người không biết yêu thương, con người không thể đạt đích điểm của cuộc đời, và cũng không thể làm vinh danh Thiên Chúa.
(2) Ánh sáng: Hai công dụng chính của ánh sáng là soi sáng và sưởi ấm. Ánh sáng không giữ sự sáng cho mình, nhưng để soi sáng cho người khác. Chúa Giêsu tuyên bố: “Chính anh em là ánh sáng cho trần gian. Một thành xây trên núi không tài nào che giấu được.” Ánh sáng không chiếu soi, sẽ trở thành vô ích như lời Chúa răn dạy: “Cũng chẳng có ai thắp đèn rồi lại để dưới cái thùng, nhưng đặt trên đế, và đèn soi chiếu cho mọi người trong nhà.”
Một trong những điều chúng ta có thể so sánh với ánh sáng là sự thật hay cuộc sống ăn ngay ở lành theo lề luật Thiên Chúa dạy. Như ánh sáng đến từ nguồn sáng là mặt trời, sự thật đến từ Đức Kitô, Lời của Thiên Chúa. Con người không phải là nguồn sáng, hay sự thật, nhưng nhận được sự thật từ Đức Kitô. Con người không giữ sự thật cho mình, nhưng sau khi biết sự thật, con người loan truyền sự thật cho người khác; sống và làm chứng cho sự thật để người khác nhận ra Thiên Chúa. Con người không biết sự thật không thể đạt đích điểm của cuộc đời, và không thể làm vinh danh Thiên Chúa.
2.2/ Bổn phận làm vinh danh Thiên Chúa: Sau khi được Thiên Chúa trang bị tất cả những điều cần thiết, con người có bổn phận làm vinh danh Thiên Chúa, như lời Chúa Giêsu dạy: “Ánh sáng của anh em phải chiếu giãi trước mặt thiên hạ, để họ thấy những công việc tốt đẹp anh em làm, mà tôn vinh Cha của anh em, Đấng ngự trên trời.”
ÁP DỤNG TRONG CUỘC SỐNG:
- Đức Kitô là tiếng “có” và “Amen” của Thiên Chúa. Chúng ta cũng phải noi gương Đức Kitô để luôn nói, sống, và làm chứng cho sự thật.
- Thánh Thần là tình yêu và sự thật. Trước khi có thể loan truyền và làm chứng cho Thiên Chúa, chúng ta phải được thấm nhuần tình yêu và sự thật của Ngài.
- Chúng ta được trang bị đầy đủ là để làm vinh danh Thiên Chúa. Hãy làm cho mọi người nhận biết Thiên Chúa là Chúa duy nhất và yêu thương con người.
Linh mục Anthony Đinh Minh Tiên, OP
- Viết bởi Linh mục Anthony Đinh Minh Tiên, OP
Thứ Hai Tuần 10 TN1, Năm B
Bài đọc: 2 Cor 1:1-7; Mt 5:1-12.
GIỚI THIỆU CHỦ ĐỀ: Nghịch lý giữa Thiên Chúa và con người.
Con người đi tìm vinh quang sang giầu, Chúa dạy: Phúc cho những ai có tâm hồn nghèo khó. Con người dùng mọi khôn ngoan mánh lới để vượt khỏi người khác, Chúa dạy: Phúc cho những ai hiền lành. Con người trốn tránh đau khổ và dùng mọi cách để thoát khỏi buồn sầu, Chúa dạy: Phúc cho những ai sầu khổ.
Bay mối phúc là những điều dạy của một nhà cách mạng trên tất cả các nhà cách mạng; chúng là một thách đố lớn lao cho những ai tin vào Chúa Giêsu. Phải chăng Chúa Giêsu quá lý tưởng? Phải chăng những lời dạy của Chúa Giêsu cung cấp cơ hội cho những nhà tư bản bóc lột dân nghèo và để cho những bất công xã hội tha hồ xảy ra? Hai ví dụ giúp chúng ta nhận định vấn đề: (1) Mẹ Têrêxa, tuy có rất nhiều người ngưỡng mộ, nhưng cũng có nhiều người chỉ trích là lấy của nhà giàu bóc lột người nghèo để giúp đỡ người nghèo. Tại sao Mẹ không lên tiếng chống bất công và cải tổ xã hội để đừng có hai giai cấp giầu và nghèo nữa? Một phản ứng như thế sẽ trị tuyệt gốc sự phân chia giữa gai giai cấp và loại bỏ các bất công xã hội! (2) Chúa Giêsu, tuy có dư uy quyền để đáp ứng nguyện vọng của người Do-thái trông đợi nơi Đấng Thiên Sai; nhưng lại chọn làm một Đấng Thiên Sai hiền lành và đau khổ để chuộc tội cho con người! Ma quỉ đã từng cám dỗ Ngài trong sa mạc hãy làm những điều mà con người khao khát: Hãy biến đá thành bánh ăn! Hãy làm phép lạ như gieo mình xuống vực thẳm! Hãy cho con người những vinh quang sang giầu! Nếu Ngài làm như thế, con người sẽ tin vào Ngài. Chúng ta có bao giờ tự hỏi: Nếu Chúa Giêsu làm như thế, có bao nhiêu người tin Chúa đến bây giờ?
Các Bài Đọc hôm nay cung cấp cho chúng ta những chất liệu để suy tư. Trong Bài Đọc I, thánh Phaolô cho chúng ta hai lý do để chịu đựng đau khổ: để được Thiên Chúa an ủi, và để chúng ta an ủi những ai cần được chúng ta an ủi. Trong Phúc Âm thánh Mathew, Chúa Giêsu cho con người biết Tám Mối Phúc trong cuộc đời; những điều này hoàn toàn ngược lại với những gì mà con người thường hay suy nghĩ.
KHAI TRIỂN BÀI ĐỌC:
1/ Bài đọc I: Tại sao con người phải chịu đựng gian khổ.
1.1/ Chịu đựng gian khổ là cho hai mục đích: Sau khi chào thăm các tín hữu ở Corintô, thánh Phaolô tuyên xưng: "Chúc tụng Thiên Chúa là Thân Phụ Đức Giêsu Kitô, Chúa chúng ta. Người là Cha giàu lòng từ bi lân ái, và là Thiên Chúa hằng sẵn sàng nâng đỡ ủi an." Tại sao một Thiên Chúa uy quyền và giàu lòng thương xót như thế, đã không ban cho con cái những gì họ ưa thích; lại còn bắt họ phải trải qua những gian nan, thử thách, đau khổ? Thánh Phaolô liệt kê hai lý do chính:
(1) Để Thiên Chúa có cơ hội nâng đỡ và ủi an chúng ta: Một điều trước tiên chúng ta cần hiểu rõ: Thiên Chúa không ác tâm đến độ bắt con người chịu gian khổ để Ngài có cơ hội an ủi con người; nhưng Ngài để những gian khổ xảy ra vì những thay đổi trong trời đất hay vì sự lạm dụng tự do của con người. Thứ đến, không có điều gì quan trọng hơn trong cuộc đời cho bằng mối liên hệ giữa con người với Thiên Chúa: Phải yêu mến Thiên Chúa trên hết mọi sự; và đau khổ là cơ hội hết sức thuận tiện để con người phát triển mối liên hệ này. Thánh Phaolô quả quyết: "Người luôn nâng đỡ ủi an chúng ta trong mọi cơn gian nan thử thách." Tình yêu thường phát triển trong hoàn cảnh túng thiếu và đau khổ; và rất ít khi phát triển lúc con người sung sướng hạnh phúc.
(2) Để chúng ta biết nâng đỡ và ủi an nhau: Điều răn thứ hai là yêu người: Đau khổ không những giúp chúng ta phát triển mối liên hệ với Thiên Chúa, mà còn chuẩn bị cho chúng ta có cơ hội yêu tha nhân như thánh Phaolô nói: "để sau khi đã được Thiên Chúa nâng đỡ, chính chúng ta cũng biết an ủi những ai lâm cảnh gian nan khốn khó." Tục ngữ Việt-nam có câu "Có đau mắt thì mới biết thương người mù." Câu này có ý muốn nói mặc dù ai bị đau mắt, người ấy sẽ cảm thấy rất khó chịu; nhưng không thể so sánh với người bị mù, vì họ hoàn toàn quờ quạng trong đêm tối. Cũng thế, khi chúng ta đã trải qua những gian nan thử thách; ví dụ: đói khát, chúng ta biết phải đau khổ thế nào; vì thế, khi chúng ta nhìn thấy một người mẹ bồng con ăn xin, chúng ta dễ thông cảm và giúp đỡ cho mẹ con bà.
1.2/ Thánh Phaolô chịu đựng gian khổ cho các tín hữu ở Corintô: Cuộc đời thánh Phaolô là một ví dụ tuyệt vời để dẫn chứng lý do tại sao Chúa để cho con người chịu đau khổ. Trước khi trở lại, Phaolô là một người nhiệt thành đến độ quá khích: Ngài không dung thứ cho những ai sống ngược lại với Lề Luật và truyền thống. Sau biến cố trên đường đi Damascus, Phaolô đã dần dần thay đổi hoàn toàn, vì Chúa Giêsu muốn Phaolô chịu đau khổ cho việc rao giảng và bành trướng Tin Mừng. Phaolô phải chịu nhiều hiểu lầm, đánh đòn, bắt bớ, tù đày... nhưng thánh nhân vẫn can đảm tiến tới, vì Chúa Giêsu luôn đồng hành và an ủi Ngài. Những điều này giúp Phaolô nhận ra tình thương của Thiên Chúa và giúp ngài đại lượng hơn trong việc giảng dạy và giúp đỡ các tín hữu.
2/ Phúc Âm: Bay mối phúc thật
2.1/ "Phúc thay ai có tâm hồn nghèo khó, vì Nước Trời là của họ." Đây là một lời dạy không dễ hiểu, chúng ta cần xem xét bằng những ví dụ thực tế để hiểu Chúa Giêsu thực sự muốn nói gì: Nghèo khó là có phúc? Người nghèo khó không đủ của ăn nên sinh tật ăn cắp làm ô danh Chúa? Người nghèo khó quá đay nghiến Thiên Chúa vì đã bỏ rơi mình? Nhiều người ví sống trong nghèo khó, thiếu thốn như là sống trong hỏa ngục! Ngược lại, có phải giàu có là vô phúc? Người giàu có lấy của Thiên Chúa ban để giúp cho việc mở mang Nước Chúa như bà Lydia giúp Phaolô có nơi ăn ở để rao giảng Tin Mừng?
Nói chung, nghèo khó giúp con người biết trông cậy nơi Thiên Chúa, giàu có làm con người tin tưởng nơi quyền năng và sức lực của mình, nên dễ bỏ quên Thiên Chúa. Khi con người đã có đầy đủ mọi sự trên trần gian, họ sẽ không màng tới việc tìm kiếm Nước Trời; trong khi những người nghèo có hoàn cảnh thuận tiện hơn để tìm Nước Trời và tin tưởng nơi Thiên Chúa.Ví dụ: Ở Việt-nam, các nhà thờ lúc nào cũng đầy người; họ vẫn sống và có thời giờ cho Thiên Chúa, tuy rằng họ nghèo khó. Bên Âu Mỹ, các nhà thờ chỉ còn lại những người già; họ lo kiếm tiền cho cuộc sống đến nỗi không còn giờ cho Thiên Chúa. Ở Việt-nam, ơn gọi làm tu sĩ và linh mục nhiều đến nỗi các chủng viện và dòng tu không có chỗ để nhận; bên Âu Mỹ, ơn gọi làm linh mục và tu sĩ khan hiếm đến độ các dòng tu phải đóng cửa, và hầu hết các dòng tu và giáo phận phải qua Việt-nam hay Phi Châu để tuyển mộ ơn gọi.
2.2/ "Phúc thay ai sầu khổ, vì họ sẽ được Thiên Chúa ủi an." Một vị thánh đã nói: Thiên Chúa thương ai càng nhiều, Ngài càng gởi nhiều đau khổ đến cho người ấy. Vì thế, chẳng thà chịu đau khổ để được Thiên Chúa an ủi yêu thương; hơn là sống trong hạnh phúc mà không cảm nhận được tình thương Thiên Chúa.
ÁP DỤNG TRONG CUỘC SỐNG:
- Của cải của chúng ta ở đâu, lòng trí của chúng ta sẽ ở đó. Nếu Nước Trời là kho tàng mà chúng ta ước ao, chúng ta hãy sống theo Mối Phúc Thứ Nhất như Chúa Giêsu dạy.
- Chúa thương ai càng nhiều, Ngài càng gởi nhiều đau khổ cho kẻ ấy; vì họ sẽ được Ngài an ủi, và họ sẽ biết ủi an những ai đồng cảnh ngộ. Nếu chúng ta mong được mến Chúa yêu người, đừng kêu ca khi Chúa gởi đau khổ tới như Mối Phúc Thứ Ba mà Chúa dạy.
Linh mục Anthony Đinh Minh Tiên, OP
- Viết bởi Linh mục Anthony Đinh Minh Tiên, OP
Chúa Nhật Lễ Mình Máu Chúa, Năm B
Bài đọc: Exo 24:3-8; Heb 9:11-15; Mk 14:12-16, 22-26.
GIỚI THIỆU CHỦ ĐỀ: Chúa Giêsu hy sinh Mình và Máu Người cho chúng ta được sống.
Mỗi năm, tại các quốc gia trên thế giới, người ta thường có một ngày đặc biệt (Memorial Day) để tưởng nhớ các chiến sĩ đã bỏ mình vì chính nghĩa. Đây là những con người đã hy sinh bản thân bằng cách đổ máu, để bảo vệ tổ quốc và dân lành khỏi kẻ thù. Ngày Lễ Mình và Máu Thánh Chúa hôm nay, chúng ta cũng dành để tưởng niệm Đức Kitô, không những đã hy sinh thân mình và đổ máu cứu con người khỏi chết, cho con người được sống đời đời, mà còn muốn ở với con người mọi ngày cho đến tận thế, qua việc thiết lập Bí-tích Thánh Thể. Ngài có thể làm những chuyện này vì Ngài có uy quyền và Ngài yêu thương con người.
Các Bài Đọc hôm nay tường thuật tình yêu Thiên Chúa qua các việc Ngài làm để cứu chuộc con người. Trong Bài Đọc I, vì con người không ngừng xúc phạm đến Thiên Chúa, nên để được tha tội, con người cần dâng các súc vật. Máu của các súc vật đổ ra để cho con người khỏi chết và được sống. Trong Bài Đọc II, tác giả Thư Do-thái so sánh lễ vượt qua và giao ước Sinai được thực hiện qua ông Moses, với lễ vượt qua và giao ước mới, được thực hiện qua Đức Kitô. Ngài là Bánh Không Men và Chiên Vượt Qua của giao ước mới, sẵn sàng hy sinh để chết thay cho con người, và làm cho họ được sống muôn đời. Trong Phúc Âm, Chúa Giêsu sai các môn đệ vào thành Jerusalem để chuẩn bị Lễ Vượt Qua. Đang khi dùng bữa, Ngài đã thiết lập Bí-tích Thánh Thể, để hiến Mình và Máu cho con người được sống cả đời này và đời sau. Ngài cũng truyền cho các môn đệ phải làm những điều đó thường xuyên để tưởng nhớ đến Ngài.
KHAI TRIỂN BÀI ĐỌC:
1/ Bài đọc I: Giao ước Sinai được chứng thực bằng máu của chiên bò.
1.1/ Thiên Chúa thiết lập giao ước trên núi Sinai với dân người: Trước khi tiến vào Đất Hứa, Thiên Chúa muốn thiết lập với dân người một giao ước. Vì con người không thể chịu nổi khi Thiên Chúa muốn nói với họ; nên họ đã xin Thiên Chúa nói với họ qua ông Moses. Sau khi đã nhận chỉ thị của Thiên Chúa, ông Moses xuống thuật lại cho dân mọi lời của Đức Chúa và mọi điều luật. Toàn dân đồng thanh đáp: "Mọi lời Đức Chúa đã phán, chúng tôi sẽ thi hành." Giao ước là một thỏa thuận của hai bên chính thức ký kết một số điều để bảo vệ nhau. Theo giao ước Sinai, Thiên Chúa hứa sẽ bảo vệ dân, và dân hứa sẽ thi hành mọi điều luật của Ngài.
"Ông Moses chép lại mọi lời của Đức Chúa. Sáng hôm sau, ông dậy sớm, lập một bàn thờ dưới chân núi và dựng mười hai trụ đá cho mười hai chi tộc Israel. Rồi ông sai các thanh niên trong dân Israel dâng những lễ toàn thiêu, và ngả bò làm hy lễ kỳ an tế Đức Chúa. Ông Moses lấy một nửa phần máu, đổ vào những cái chậu, còn nửa kia thì rảy lên bàn thờ. Ông lấy cuốn sách giao ước đọc cho dân nghe. Họ thưa: "Tất cả những gì Đức Chúa đã phán, chúng tôi sẽ thi hành và tuân theo.""
1.2/ Giao ước được ký kết bằng máu chiên bò: "Bấy giờ, ông Moses lấy máu rảy lên dân và nói: "Đây là máu giao ước Đức Chúa đã lập với anh em, dựa trên những lời này."" Người Do-thái quan niệm: "máu là sự sống." Khi giao ước được ký kết bằng máu, họ lấy sự sống mà thề với Thiên Chúa là họ sẽ giữ Lề Luật của Ngài; nhưng họ đã vi phạm giao ước nhiều lần sau khi đã ký kết với Thiên Chúa. Để được tha thứ, Thiên Chúa truyền cho họ phải sát tế các súc vật để lấy máu làm của lễ hy sinh đền tội cho họ, như Sách Levi viết: "vì mạng sống của xác thịt thì ở trong máu, và Ta, Ta đã ban máu cho các ngươi, trên bàn thờ, để cử hành lễ xá tội cho mạng sống các ngươi. Thật vậy, máu xá tội được vì nó là mạng sống. Vì thế, Ta đã bảo con cái Israel: Không một ai trong các ngươi được ăn huyết, ngoại kiều sống giữa các ngươi cũng không được ăn huyết." (Lev 17:11-12).
2/ Bài đọc II: Người đã vào cung thánh không phải với máu súc vật, nhưng với Máu của Mình.
2.1/ Máu của giao ước cũ và máu của giao ước mới: Máu của giao ước cũ chỉ là hình ảnh và phải được kiện toàn bằng Máu của giao ước mới. Tác giả Thư Do-thái đã so sánh một cách chi tiết hai giao ước cũ và mới, rồi đưa đến kết luận như sau: Giao ước mới hoàn hảo hơn giao ước cũ: "Nhưng Đức Kitô đã đến làm Thượng Tế đem phúc lộc của thế giới tương lai. Để vào cung thánh, Người đã đi qua một cái lều lớn hơn và hoàn hảo hơn, không do bàn tay con người làm nên, nghĩa là không thuộc về thế giới thọ tạo này. Người đã vào cung thánh không phải với máu các con dê, con bò, nhưng với chính máu của mình, Người vào chỉ một lần thôi, và đã lãnh được ơn cứu chuộc vĩnh viễn cho chúng ta." Đức Kitô là Thượng Tế cao trọng hơn tất cả các thượng tế, vì các lý do sau:
(1) Ngài không phải dâng lễ đền tội cho mình vì Ngài không có tội; trong khi các thượng tế khác phải dâng lễ đền tội cho mình trước khi dâng lễ đền tội cho người khác.
(2) Ngài tự nguyện hy sinh chính Mình để làm của lễ đền tội cho con người, và chỉ cần một lần là đủ. Từ nay, con người không cần phải dâng lễ vật chiên bò mỗi khi phạm tội nữa.
(3) Các Thượng Tế mỗi năm chỉ được vào trong Nơi Cực Thánh của Đền Thờ (nơi Thiên Chúa hiện diện) một lần trong Ngày Xá Tội, Đức Kitô vào một cung thánh hoàn hảo hơn trên trời, và Ngài luôn luôn ngự bên hữu Thiên Chúa để chuyển cầu cho con người. Khi chịu chết, Đức Kitô đã xé tan bức màn ngăn cách giữa hai nơi thánh và cực thánh trong Đền Thờ; vì thế, tất cả mọi người đều có thể đến trực tiếp với Thiên Chúa qua Đức Kitô bất cứ lúc nào.
(4) Máu của Đức Kitô không thể so sánh với máu của chiên bò: "Vậy nếu máu các con dê, con bò, nếu nước tro của xác bò cái, đem rảy lên mình những kẻ nhiễm uế còn thánh hoá được họ, nghĩa là cho thân xác họ trở nên trong sạch, thì máu của Đức Kitô càng hiệu lực hơn biết mấy. Nhờ Thánh Thần hằng hữu thúc đẩy, Đức Kitô đã tự hiến tế như lễ vật vẹn toàn dâng lên Thiên Chúa. Máu của Người thanh tẩy lương tâm chúng ta khỏi những việc đưa tới sự chết, để chúng ta xứng đáng phụng thờ Thiên Chúa hằng sống." Thứ nhất, Máu của Đức Kitô đổ ra là máu tình nguyện, "làm theo ý Thiên Chúa;" chứ không phải máu của các súc vật bị bắt phải đền tội. Thứ hai, Máu của Đức Kitô là Máu của Con Thiên Chúa. Sau cùng, Máu của Đức Kitô đổ ra không những có sức thanh tẩy tội lỗi, còn có sức thánh hóa và thông ban cho con người sức sống thần linh.
2.2/ Công dụng của máu:
(1) Thanh tẩy: Máu của thân thể luân chuyển để lọc bỏ các chất dơ trong các phần của thân thể. Máu của giao ước cũ là máu của súc vật đổ ra để thanh tẩy tội lỗi cho con người. Máu của giao ước mới thanh tẩy tội lỗi cho con người một lần là đủ: "Bởi vậy, Người là trung gian của một giao ước Mới, lấy cái chết của mình mà chuộc tội lỗi người ta đã phạm trong thời giao ước cũ. "
(2) Nuôi sống: Máu là biểu tượng của sự sống vì máu luân chuyển và nuôi dưỡng mọi phần của thân thể. Máu các súc vật đổ ra để chết thay cho con người. Máu Đức Kitô đổ ra để chết thay cho con người và khôi phục lại sự sống đời đời cho con người: "Máu Đức Kitô đem lại cho những ai được Thiên Chúa kêu gọi quyền lãnh nhận gia nghiệp vĩnh cửu Thiên Chúa đã hứa."
(3) Liên kết: Máu liên kết các phần của thân thể với nhau. Trong Cựu Ước, ngày lễ Xá Tội (Yon Kippur) được mệnh danh là "at-one-ment = trở thành một," để liên kết con người với Thiên Chúa và với nhau. Trong Tân Ước, máu của Đức Kitô liên kết chúng ta, những chi thể của một thân thể là Giáo Hội, với Đức Kitô là Đầu.
3/ Phúc Âm: "Đây là máu Thầy, máu giao ước mới, đổ ra vì muôn người."
3.1/ Lễ Vượt Qua của Đức Kitô: có bối cảnh lịch sử từ Lễ Vượt Qua của người Do-thái. Trong biến cố Vượt Qua này, Thiên Chúa giải thoát dân tộc Do-thái khỏi làm nô lệ cho người Ai-cập, và đem họ vào vùng Đất Hứa tràn trề sữa và mật. Chúa Giêsu cũng ví Cuộc Thương Khó của Người như một vượt qua: "khi biết đã đến giờ Người sắp sửa từ giã cuộc đời này để về với Thiên Chúa" (Jn 13:1). Trong Lễ Vượt Qua cũ, bánh không men và chiên vượt qua là hai thứ không thể thiếu để mừng lễ: máu chiên dùng để bôi trên cửa nhà, để thiên thần vượt qua mà không vào sát hại như sát hại các con đầu lòng của người Ai-cập.
3.2/ Chúa Giêsu thiết lập Bí-tích Thánh Thể: Trong Lễ Vượt Qua mới, bánh không men chính là Mình Chúa Giêsu, như trình thuật kể: "Đang bữa ăn, Đức Giêsu cầm lấy bánh, dâng lời chúc tụng, rồi bẻ ra, trao cho các ông và nói: "Anh em hãy cầm lấy, đây là mình Thầy." Chiên Vượt qua mới là máu của Đức Kitô: "Và Người cầm chén rượu, dâng lời tạ ơn, rồi trao cho các ông, và tất cả đều uống chén này. Người bảo các ông: "Đây là máu Thầy, máu giao ước, đổ ra vì muôn người."
Trong Cuộc Vượt Qua mới, Đức Kitô cũng giải thoát con người khỏi làm nô lệ cho tội lỗi và sự chết bằng chính Mình và Máu của Ngài. Sau khi ăn Lễ Vượt Qua, người Do-thái phải lên đường bắt đầu cuộc hành trình qua Biển Đỏ. Chúa Giêsu và các môn đệ cũng thế, sau khi đã thiết lập Bí-tích Thánh Thể, Chúa Giêsu và các môn đệ hát thánh vịnh, Sau đó, Đức Giêsu và các môn đệ ra núi Olive để cầu nguyện và chịu thử thách.
Cuộc sống của mỗi người cũng thế, sau khi đã lãnh nhận thần lương của Bí-tích Thánh Thể, chúng ta cũng phải vào cuộc đời để đương đầu với những khó khăn và thử thách hằng ngày của cuộc sống như: bệnh tật; học hành và công ăn việc làm; bất đồng, hiểu lầm, chia rẽ, và hận thù đến từ các mối liên hệ với tha nhân, cộng thêm vào những lo lắng tương lai... Chính sự sống thần linh nhận được từ Bí-tích Thánh Thể sẽ giúp chúng ta có đủ sức mạnh và nghị lực, để vượt qua tất cả các khó khăn này. Nếu không năng lãnh nhận thần lương, làm sao chúng ta tìm được sức mạnh để vượt qua các khó khăn của cuộc sống?
ÁP DỤNG TRONG CUỘC SỐNG:
- Bí-tích Thánh Thể là Bí-tích tình yêu. Vì yêu nên Đức Kitô đã lập ra để ở lại với con người mỗi ngày cho đến tận thế. Chúng ta cần năng lãnh nhận Bí-tích này để xin Ngài gia tăng tình yêu cho chúng ta.
- Bí-tích Thánh Thể là Bí-tích đem lại sự sống. Chúng ta không chỉ sống cách thể lý; nhưng phải sống đời sống thiêng liêng. Bí-tích Thánh Thể cung cấp sức mạnh tinh thần, để chúng ta có nghị lực vui sống và vượt qua các khó khăn mỗi ngày.
- Bí-tích Thánh Thể là Bí-tích hiệp nhất. Bí-tích này liên kết con người với Thiên Chúa và với nhau. Để có thể chung sống hài hòa, chúng ta cần năng lãnh nhận Bí-tích này.
Linh mục Anthony Đinh Minh Tiên, OP
- Viết bởi Giêrônimô Nguyễn Văn Nội.
GIAO ƯỚC TÌNH YÊU!'' CHÚA NHẬT X THƯỜNG NIÊN NĂM B
LỄ MÌNH MÁU THÁNH CHÚA KITÔ (07/06/2015)
[Xh 24,38; Dt 9,1115; Mc 14, 1216.2226]
I. DẪN VÀO PHỤNG VỤ
Bao lâu các công ty, xí nghiệp chưa ký kết được các hợp đồng làm ăn buôn bán thì
các công ty, xí nghiệp ấy còn bị đe dọa bởi tình trạng thiếu việc làm sẽ dẫn tới việc
đóng cửa. Bao lâu các nước trong một vùng chưa ký kết được với nhau những hiệp
ước an ninh, hòa bình thì bấy lâu các nước ấy còn bị đe dọa bởi xung đột và chiến
tranh. Bao lâu loài người chưa có được một giao ước với Thiên Chúa thì loài người
còn sống trong vô vọng. Nhưng Thiên Chúa đã đi bước trước trong việc thiết lập
giao ước tình yêu với loài người khi Người cứu Ítraen khỏi cảnh nô lệ Aicập và
ký kết với họ giao ước Xinai. Đó là giao ước cũ và là hình bóng của một giao ước
mới mà Thiên Chúa đã ký kết mấy ngàn năm sau với toàn nhân loại nơi Con Một
Yêu Dấu của Người. Giao ước cũ được ký kết bằng/nhờ máu chiên bò. Còn giao
ước mới được ký kết bằng/nhờ Máu Châu Báu của Chúa Giêsu Kitô, Con Một
Thiên Chúa đã đổ ra trên thập giá. Chúng ta mừng Lễ Mình Máu Thánh Chúa trong
tâm tình cảm tạ tri ân khi hiện tại hóa Giao Ước Tình Yêu ở núi Xinai và đồi Golgotha!
II. LẮNG NGHE LỜI CHÚA TRONG BA BÀI THÁNH KINH
2.1 Trong bài đọc 1 (Xh 24,38): Đây là máu Giao Ước Thiên Chúa đã lập với
anh em.
3 Ngày từ núi Xinai xuống, ông Môsê thuật lại cho dân mọi lời của Đức Chúa và
mọi điều luật. Toàn dân đồng thanh đáp: "Mọi lời Đức Chúa đã phán, chúng tôi sẽ
thi hành." 4 Ông Môsê chép lại mọi lời của Đức Chúa. Sáng hôm sau, ông dậy sớm,
lập một bàn thờ dưới chân núi và dựng mười hai trụ đá cho mười hai chi tộc Ítraen.
5 Rồi ông sai các thanh niên trong dân Ítraen dâng những lễ toàn thiêu, và ngả bò
làm hy lễ kỳ an tế Đức Chúa. 6 Ông Môsê lấy một nửa phần máu, đổ vào những cái
chậu, còn nửa kia thì rảy lên bàn thờ. 7 Ông lấy cuốn sách giao ước đọc cho dân
nghe. Họ thưa: "Tất cả những gì Đức Chúa đã phán, chúng tôi sẽ thi hành và tuân
theo." 8 Bấy giờ, ông Môsê lấy máu rảy lên dân và nói: "Đây là máu giao ước Đức
Chúa đã lập với anh em, dựa trên những lời này."
2.2 Trong bài đọc 2 (Dt 9,1115): Máu của Đức Kitô thanh tẩy lương tâm
chúng ta.
11 Thưa anh em, Đức Kitô đã đến làm Thượng Tế đem phúc lộc của thế giới tương
lai. Để vào cung thánh, Người đã đi qua một cái lều lớn hơn và hoàn hảo hơn, không
do bàn tay con người làm nên, nghĩa là không thuộc về thế giới thọ tạo này. 12 Người
đã vào cung thánh không phải với máu các con dê, con bò, nhưng với chính máu của
mình, Người vào chỉ một lần thôi, và đã lãnh được ơn cứu chuộc vĩnh viễn cho
chúng ta. 13 Vậy nếu máu các con dê, con bò, nếu nước tro của xác bò cái, đem rảy
lên mình những kẻ nhiễm uế còn thánh hoá được họ, nghĩa là cho thân xác họ trở
nên trong sạch, 14 thì máu của Đức Kitô càng hiệu lực hơn biết mấy. Nhờ Thánh
Thần hằng hữu thúc đẩy, Đức Kitô đã tự hiến tế như lễ vật vẹn toàn dâng lên Thiên
Chúa. Máu của Người thanh tẩy lương tâm chúng ta khỏi những việc đưa tới sự
chết, để chúng ta xứng đáng phụng thờ Thiên Chúa hằng sống. 15 Bởi vậy, Người là
trung gian của một Giao Ước Mới, lấy cái chết của mình mà chuộc tội lỗi người ta
đã phạm trong thời giao ước cũ, và đem lại cho những ai được Thiên Chúa kêu gọi
quyền lãnh nhận gia nghiệp vĩnh cửu Thiên Chúa đã hứa.
2.3 Trong bài Tin Mừng(Mc 14,1216.2226): Đây là Mình Thầy. Đây là Máu
Thầy,
12 Hôm ấy nhằm ngày thứ nhất trong tuần Bánh không men, là ngày sát tế chiên
Vượt Qua, các môn đệ thưa với Đức Giêsu: "Thầy muốn chúng con đi dọn cho
Thầy ăn lễ Vượt Qua ở đâu?"
13 Người sai hai môn đệ đi, và dặn họ: "Các anh đi vào
thành, và sẽ có một người mang vò nước đón gặp các anh. Cứ đi theo người đó.
14 Người đó vào nhà nào, các anh hãy thưa với chủ nhà: Thầy nhắn: "Cái phòng dành
cho tôi ăn lễ Vượt Qua với các môn đệ của tôi ở đâu? 15 Và ông ấy sẽ chỉ cho các
anh một phòng rộng rãi trên lầu, đã được chuẩn bị sẵn sàng: và ở đó, các anh hãy
dọn tiệc cho chúng ta." 16 Hai môn đệ ra đi. Vào đến thành, các ông thấy mọi sự y
như Người đã nói. Và các ông dọn tiệc Vượt Qua.
22 Cũng đang bữa ăn, Đức Giêsu cầm lấy bánh, dâng lời chúc tụng, rồi bẻ ra, trao
cho các ông và nói: "Anh em hãy cầm lấy, đây là mình Thầy." 23 Và Người cầm chén
rượu, dâng lời tạ ơn, rồi trao cho các ông, và tất cả đều uống chén này. 24 Người bảo
các ông: "Đây là máu Thầy, máu Giao Ước, đổ ra vì muôn người. 25 Thầy bảo thật
anh em: chẳng bao giờ Thầy còn uống sản phẩm của cây nho nữa, cho đến ngày
Thầy uống thứ rượu mới trong Nước Thiên Chúa." 26 Hát thánh vịnh xong, Đức Giê
su và các môn đệ ra núi Ôliu.
III. KHÁM PHÁ CHÂN DUNG VÀ SỨ ĐIỆP CỦA THIÊN CHÚA TRONG
BA BÀI THÁNH KINH
3.1 Chân Dung của Thiên Chúa
1o) Bài đọc 1 (Xh 24,38): là một đoạn văn hết sức quan trọng của Cựu Ước vì cho
chúng ta biết Thiên Chúa của Ítraen (và của hết mọi dân, mọi nước) là Đấng Thiên
Chúa nào. Đó là Thiên Chúa của Tình Yêu và của Giao Ước. Vì yêu thương, Người
đã chọn Ítraen làm dân riêng và đã ban cho họ các điều luật để họ cứ đó mà sống
và sẽ được hạnh phúc. Vì đã ký kết Giao ước với Ítraen, Người sẽ trung tín thực
hiện mọi lời hứa với dân riêng của Người và với cả nhân loại. 2o) Bài đọc 2 (Dt 9,1115): Thánh Phaolô trình bày Chúa Giêsu vừa là Vị Thượng
Tế của Thiên Chúa, vừa là Của Lễ của Giao Ước Mới giữa Thiên Chúa và nhân loại.
Người đã dùng chính Máu mình mà đền tội nhân loại và thanh tẩy các tâm hồn, làm
cho con người nên trong trắng tinh tuyền đẹp lòng Thiên Chúa. Máu xúc vật và nghi
lễ của Cựu Ước chỉ là hình bóng của Hy Lễ Thập Giá của Con Một Thiên Chúa là
Chúa Giêsu Kitô!
3o) Bài Tin Mừng (Mc 14,12.2226): là tường thuật của Phúc Âm Máccô về Bữa
Ăn Tối cuối cùng của Chúa Giêsu với các Tông đồ. Trong bữa ăn lịch sử ấy. Chúa
Giêsu đã công bố một điều tuyệt diệu và hết sức bất ngờ: "Anh em hãy cầm lấy
bánh này mà ăn vì đây là Mình Thầy sẽ bị giao nộp vì anh em; anh em hãy cầm lấy
chén rượu này mà uống vì đây là Máu Thầy, Máu Giao ước đổ ra vì muôn người." Đức Giêsu đã trở thành lương thực cho các môn đệ được sống. Người đã chuộc tội
chúng sinh bằng chính Máu và Mạng Sống của mình để Giao ước giữa Thiên Chúa
và nhân loại được lặp lại và được nâng lên một tầm cao mới.
3.2 Sứ điệp của Lời Chúa
Sứ điệp của Lời Chúa hôm nay là: Thiên Chúa đã yêu thương và tuyển chọn chúng
ta làm dân riêng của Người và đã ký kết với chúng ta một Giao Ước Tình Yêu
bằng/nhờ hy tế thập giá của Con Một Người là Chúa Giêsu Kitô, Đấng đã đổ hết
Máu mình ra để cứu chuộc chúng ta. Chúng ta là dân của Giao Ước Tình Yêu nên
có nghĩa vụ thi hành mọi lời Đức Chúa đã phán.
IV. SỐNG VỚI CHÚA VÀ THỰC THI SỨ ĐIỆP CỦA LỜI CHÚA HÔM NAY
4.1 Sống với Thiên Chúa là Cha, Con và Thánh Thần (Chúa Ba Ngôi) Đấng đã ký
kết Giao Ước Tình Yêu với loài người để loài người được sống trong tình nghĩa với
Người. 4.2 Thực thi sứ điệp Lời Chúa hôm nay là đáp lại sự Chọn Lựa và Tình Yêu của
Thiên Chúa, là tuân giữ các điều khoản của Giao Ước Tình Yêu, bằng những cách
cụ thể như:
(1o) Luôn có tâm tình và lời kinh cảm tạ về
(a) Sự chọn lựa yêu thương và vô vị lợi của Thiên Chúa,
(b) Hy Lễ Thập Giá mà Chúa Giêsu đã dâng lên Chúa Cha để đền tội và cứu vớt
chúng ta.
(2o) Chỉ phụng thờ một mình Thiên Chúa mà thôi và tuân giữ các giới răn yêu
thương và công bình trong đời sống cá nhân và xã hội. V. CẦU NGUYỆN CHO HỘI THÁNH VÀ THẾ GIỚI
[Xin đề nghị một trong hai cách cầu nguyện dưới đây:]
* Lời nguyện giáo dân:
5.1 «Đây là máu giao ước Đức Chúa đã lập với anh em.» Chúng ta hiệp lời cầu
nguyện cho ngày càng có nhiều người đón nhận giao ước của Thiên Chúa với loài
người nơi Con Một Thiên Chúa là Đức Giêsu Kitô. Hát: Chúa ơi, xin nghe lời chúng con nguyện cầu!
5.2 «Đức Kitô đã đến làm Thượng Tế đem phúc lộc của thế giới tương lai.»
Chúng ta hiệp lời cầu nguyện cho tất cả mọi người được hưởng phúc lộc mà Chúa
Kitô đã đem lại cho những kẻ tin, bằng cuộc sống và cái chết thập giá của Người.
Hát: Chúa ơi, xin nghe lời chúng con nguyện cầu!
5.3 «Anh em hãy cầm lấy, đây là mình Thầy. Đây là máu Thầy, máu Giao Ước, đổ
ra vì muôn người.» Chúng ta hiệp lời cầu nguyện cho tất cả các Kitô hữu biết
siêng năng và trận trọng lãnh nhận Mình Máu Chúa để được kết hợp với Chúa Giê
su Kitô trong Lễ Tế Tạ Ơn và Chuộc Tội.
Hát: Chúa ơi, xin nghe lời chúng con nguyện cầu!
5.4 «Nhờ Thánh Thần hằng hữu thúc đẩy, Đức Kitô đã tự hiến tế như lễ vật vẹn
toàn dâng lên Thiên Chúa.» Chúng ta hiệp lời cầu nguyện cho chính chúng ta biết
dâng hiến đời mình như của lễ Tạ Ơn theo gương Chúa Giêsu Kitô! Hát: Chúa ơi, xin nghe lời chúng con nguyện cầu!
* Hoặc lời cầu nguyện tự phát sau đây:
1. Lạy Thiên Chúa là Cha, chúng con cảm tạ, ngợi khen và chúc tụng Cha vì Cha
đã ký kết giao ước tình yêu với Ítraen và nhân loại, để chúng con trở thành Dân
Giao Ước và được làm hòa cùng Cha là Đấng mà chúng con hằng xúc phạm. Chúng
con nguyện thi hành và tuân theo mọi lời Cha đã phán dậy!
2. Lạy Chúa Giêsu Thánh Thể, chúng con cảm tạ, ngợi khen và chúc tụng Chúa
vì Chúa đã hiến mình làm Của Lễ Đền Tội cho chúng con được giao hòa với Thiên
Chúa. Chúa còn biến mình thành bánh và rượu nuôi dưỡng chúng con trong Bí Tích
Thánh Thể. Chúng con nguyện sẽ siêng năng và sốt sáng đến với Thánh Thể Chúa!
3. Lạy Chúa Thánh Thần, chúng con cảm tạ, ngợi khen và chúc tụng Chúa vì
Chúa luôn hiện diện và cùng hoạt động với Chúa Cha và Chúa Con trong lễ ký kết
giao ước Xinai và Golgotha. Chúng con nguyện sống dưới sự hướng dẫn và thúc
đẩy của Chúa để trở thành hiến tế đẹp lòng Thiên Chúa, theo gương Chúa Giêsu
Kitô!
Giêrônimô Nguyễn Văn Nội.
- Viết bởi Linh mục Anthony Đinh Minh Tiên, OP
Thứ Bảy Tuần 9 TN1, Năm B
Bài đọc: Tob 12:1, 5-15, 20; Mk 12:38-44.
GIỚI THIỆU CHỦ ĐỀ: Làm thế nào để sống mối liên hệ với Thiên Chúa?
Trong tương quan giữa người với người, mối liên hệ nào cũng đòi phải có hai chiều: chiều cho đi và chiều nhận lại; thì mới thăng bằng và tiến triển được. Trong mối tương quan giữa Thiên Chúa và con người cũng thế, Thiên Chúa sẽ yêu thương, chúc lành, bảo vệ ... nếu con người yêu thương Thiên Chúa, và tuân giữ những gì Ngài dạy. Ngược lại, nếu con người không yêu thương và ăn ở theo đường lối của Thiên Chúa, Ngài sẽ để mặc họ cho kẻ thù tha hồ tấn công tứ phía.
Các Bài Đọc hôm nay mở mắt cho chúng ta phải luôn biết sống đúng đắn mối liên hệ với Thiên Chúa. Trong Bài Đọc I, thiên sứ Gabriel sau cùng đã mặc khải cho cha con ông Tobit về căn tính và sứ vụ của ngài được Thiên Chúa trao phó. Đồng thời, thiên sứ cũng mặc khải hai bổn phận quan trọng con người phải chu toàn: (1) phải luôn khen ngợi và chúc tụng danh Chúa, (2) phải luôn ăn ngay ở lành hết mọi ngày trong cuộc sống. Nếu con người chu toàn bổn phận của mình, Thiên Chúa sẽ sai sứ thần bảo vệ và ban muôn ơn lành cho con người. Trong Phúc Âm, Chúa Giêsu cảnh cáo con người khi làm các việc thờ phượng và khi đóng góp vào nhà thờ. Mục đích của việc thờ phượng là làm thăng hoa mối liên hệ giữa con người với Thiên Chúa, chứ không phải vì bất kỳ lý do nào khác. Mục đích của việc đóng góp là trả lại cho Thiên Chúa những ơn lành Ngài đã đổ xuống trên con người, chứ không phải chỉ là cho đi của dư thừa.
KHAI TRIỂN BÀI ĐỌC:
1/ Bài đọc I: Hãy chúc tụng Thiên Chúa về những điều tốt lành Người đã làm cho cha con ông.
1.1/ Bổn phận của con người đối với Thiên Chúa:
(1) Phải luôn ngợi khen Thiên Chúa: Thiên sứ Raphael kín đáo gọi hai cha con lại và nói: "Hãy chúc tụng Thiên Chúa và tuyên xưng Người trước toàn thể sinh linh, về những điều tốt lành Người đã làm cho cha con ông. Hãy chúc tụng và ca ngợi danh Người! Những việc Thiên Chúa đã làm, hãy long trọng tỏ cho mọi người biết. Đừng ngần ngại xưng tụng Người! Giữ kín bí mật của vua là điều tốt đẹp; nhưng công trình của Thiên Chúa, thì phải tỏ bày và long trọng xưng tụng." Việc làm của Thiên Chúa khác với việc làm của vua chúa, Ngài chẳng cần chi phải giữ bí mật cả, nhưng muốn cho càng nhiều người biết tới càng tốt.
(2) Phải luôn cố gắng ăn ngay ở lành: Hãy làm điều lành thì cha con ông sẽ không gặp điều dữ. "Cầu nguyện kèm theo đời sống chân thật, bố thí đi đôi với đời sống công chính, thì tốt hơn có của mà ở bất công; làm phúc bố thí thì đẹp hơn là tích trữ vàng bạc. Việc bố thí cứu cho khỏi chết và tẩy sạch mọi tội lỗi. Những người làm phúc bố thí sẽ được sống lâu. Những ai phạm tội ăn ở bất công là kẻ thù của chính mình."
1.2/ Thiên sứ Raphael là khí cụ Thiên Chúa dùng để ban ơn cho cha con ông Tobit và cô Sarah: Thiên sứ nói: "Tôi sẽ tỏ cho ông và con ông biết tất cả sự thật, không giấu diếm chi."
(1) Thiên Chúa có mắt, có tai: Mắt và tai của Thiên Chúa là các thiên-sứ của Ngài; không một điều gì con người nói hay làm mà Thiên Chúa không biết. Chính thiên-sứ Raphael mặc khải cho cha con ông Tobit: "Hãy biết rằng khi ông và cô Sarah cầu nguyện, chính tôi đã tiến dâng những lời cầu nguyện đó lên trước nhan vinh hiển của Đức Chúa, để xin Chúa nhớ đến hai người; tôi cũng làm như vậy khi ông chôn cất người chết. Và khi ông không ngại trỗi dậy, bỏ dở bữa ăn để đi chôn cất người chết, bấy giờ tôi được sai đến bên ông để thử thách ông."
(2) Thiên Chúa có tay để chữa lành: "Thiên Chúa cũng sai tôi chữa lành cho ông và cô Sarah, con dâu ông. Tôi đây là Raphael, một trong bảy thiên sứ luôn hầu cận và vào chầu trước nhan vinh hiển của Đức Chúa."
2/ Phúc Âm: Bà góa này rút từ cái túng thiếu của mình để bỏ vào đó tất cả những gì bà có để nuôi sống mình.
2.1/ Những điều con người cần đề phòng khi làm việc thờ phượng: Mục đích của việc thờ phượng là đưa con người tới Thiên Chúa. Vì thế, phải tránh tất cả những gì chia trí, làm ngăn cản con người không hoàn toàn kết hợp với Thiên Chúa. Một số các chia trí được Chúa Giêsu liệt kê:
(1) Thói thích phô trương quần áo: "Anh em phải coi chừng những ông kinh sư ưa dạo quanh, xúng xính trong bộ áo thụng." Điều này có thể được áp dụng cho cả các linh mục và giáo dân thời nay: có nhiều người chú trọng đến quần áo bên ngoài hơn những chuẩn bị trong tâm hồn để gặp gỡ Chúa.
(2) Thói thích được chào hỏi, khen ngợi: Có những người "thích được người ta chào hỏi ở những nơi công cộng." Nhiệm vụ của tư tế là đưa con người đến với Thiên Chúa. Sau khi hoàn thành nhiệm vụ, ông vẫn chỉ là người đầy tớ vô dụng của Thiên Chúa: ông hoàn thành bổn phận đã được Thiên Chúa trao cho ông để làm (Lk 17:10). Thói quen này có thể ngăn cản các ngôn sứ nói lời của Thiên Chúa, mà chú trọng đến nói những gì để người khác khen và vỗ tay tán thưởng.
(3) Thói thích được danh dự: "Họ ưa chiếm ghế danh dự trong hội đường, thích ngồi cỗ nhất trong đám tiệc." Con người háo danh thường thích được điều này. Người sứ giả của Thiên Chúa được khuyến khích làm ngược lại, vì: "Ai nâng mình lên sẽ bị hạ xuống."
(4) Lợi dụng việc đạo đức để kiếm tiền: "Họ nuốt hết tài sản của các bà goá, lại còn làm bộ đọc kinh cầu nguyện lâu giờ. Những người ấy sẽ bị kết án nghiêm khắc hơn." Việc lạm dụng các Bí-tích để kiếm lợi nhuận cho cá nhân đã từng xảy ra, và bị kết án nặng nề trong thời Phục Hưng.
2.2/ Khi cho đi, không phải chỉ cho của dư thừa: Đa số người Việt-nam chúng ta quan niệm không đúng về việc bỏ tiền vào nhà thờ, ví dụ hôm nay cho chúng ta một cái nhìn đúng đắn về bổn phận đóng góp vào Nhà Chúa. Đức Giêsu ngồi đối diện với thùng tiền dâng cúng cho Đền Thờ. Người quan sát xem đám đông bỏ tiền vào đó ra sao:
(1) Phải đóng góp bằng của cần dùng:
+ Người giầu: Chúa nhìn thấy có lắm người giàu có bỏ thật nhiều tiền, nhưng Chúa không khen họ khi Ngài nói: "Quả vậy, mọi người đều rút từ tiền dư bạc thừa của họ mà đem bỏ vào đó."
+ Có một bà goá nghèo: Bà đến bỏ vào đó hai đồng tiền kẽm, trị giá một phần tư đồng xu Rôma. Đức Giêsu liền nói với các môn đệ: "Thầy bảo thật anh em: bà goá nghèo này đã bỏ vào thùng nhiều hơn ai hết; vì bà này rút từ cái túng thiếu của mình mà bỏ vào đó tất cả tài sản, tất cả những gì bà có để nuôi sống mình."
(2) Phải tin nơi sự quan phòng của Thiên Chúa: Luật Do-thái nói rõ, dân chúng phải đóng góp 10% những gì họ thu thập được; ví dụ, nếu một tuần thu thập được 400 đồng, tiền bỏ vào nhà thờ sẽ phải là 40 đồng, nhưng rất ít người thời nay có được thói quen này. Một điều con người cần tập là tin tưởng nơi sự quan phòng của Thiên Chúa: Nếu con người bác ái cho đi, Thiên Chúa nhân từ sẽ rộng lượng cho lại; nhưng nếu con người cứ bo bo giữ của, làm sao họ có kinh nghiệm sự quan phòng kỳ diệu của Thiên Chúa?
ÁP DỤNG TRONG CUỘC SỐNG:
- Chúng ta không chỉ thờ phượng Thiên Chúa bằng những lời ca ngợi; nhưng còn phải tỏ tình yêu chân thành bằng việc giữ các điều răn của Ngài.
- Khi làm việc thờ phượng, chúng ta phải chú trọng đến chiều kích tâm linh. Đừng để bị chia trí và lôi cuốn vì người khác hay vì những lợi nhuận vật chất.
Linh mục Anthony Đinh Minh Tiên, OP
- Viết bởi Linh mục Anthony Đinh Minh Tiên, OP
Thứ Sáu Tuần 9 TN, Năm B
Bài đọc: Tob 11:5-15; Mk 12:35-37.
GIỚI THIỆU CHỦ ĐỀ: Sự cần thiết của thời gian.
Con người bị lệ thuộc vào thời gian; Thiên Chúa làm chủ thời gian. Con người khi làm bất cứ việc gì đều muốn có kết quả ngay; nhưng Thiên Chúa đòi con người phải chờ đợi. Trong thực tế, làm việc gì cũng cần phải có thời gian, trước khi nhìn thấy kết quả: trồng cấy, học hành, đầu tư ... Trong việc tập luyện nhân đức cũng thế: thời gian cần để thử luyện đức tin để phân biệt đức tin vững vàng với đức tin yếu kém; thời gian cần để chứng minh đâu là tình yêu chung thủy với tình yêu qua đường; thời gian cần để đào tạo sự kiên trì và trung thành, thay vì những nông nổi và cảm xúc nhất thời.
Bắt đầu Sách Tobit, chúng ta đã đặt hai câu hỏi: "Thiên Chúa có thấy những việc lành con người làm hay không?" và "Tại sao người lành phải đau khổ?" Lý do của hai câu hỏi là vì ông Tobit luôn cố gắng ăn ở theo sự thật: cho con đi mời người nghèo về để cùng ăn uống chung, chôn xác kẻ chết; nhưng ông vẫn bị mù và bị châm biếm bởi vợ! Trình thuật trong Bài Đọc I hôm nay cho thấy kết quả của những cố gắng của ông Tobit: ông được khỏi mù, ông lấy được tiền đã gởi người khác, ông đã lấy được vợ cho con ông và đã chữa cô ta khỏi ách nô lệ của quỉ Asmodeus. Điều này chứng minh: Tất cả mọi chuyện tốt đẹp xảy ra cho những ai cố gắng ăn ở theo sự thật và vững lòng trông cậy nơi Thiên Chúa. Điều quan trọng là phải kiên trì và trung thành, chứ không được đòi hỏi phải có kết quả ngay.
Trong Phúc Âm, vì con người lệ thuộc thời gian, nên đa số không hiểu: làm sao Đức Kitô có thể trở thành Chúa Thượng của vua David được, vì Ngài có sau David cả 1,500 năm? Nhưng Chúa Giêsu muốn con người phải suy nghĩ khi Ngài trích dẫn lời Thánh Vịnh 110:1 này để tìm hiểu đâu là sự thật, vì lời Kinh Thánh không thay đổi, và chính vua David đã nói như vậy. Họ chỉ còn một cách hiểu là chấp nhận mặc khải của Đức Kitô: "Trước khi Abraham có, Ta đã có, vì Ta Hằng Hữu." Chỉ khi Chúa Giêsu nhập thể, Ngài mới có sau David, khi xét theo gia phả con người mà thôi.
KHAI TRIỂN BÀI ĐỌC:
1/ Bài đọc I: Được con chữa khỏi mù, lấy được vợ cho con, và đòi được nợ.
1.1/ Thiên-sứ Raphael hướng dẫn Tobia chữa ông Tobit khỏi mù:
(1) Tình cha con: Đức tin của ông Tobit và những việc lành của ông đã ảnh hưởng rất lớn trên đức tin và cách hành xử của Tobia con ông. Chúng ta có thể đan cử ít ví dụ: Tobia tuyệt đối vâng lời cha và thiên sứ; cậu lấy Sarah không phải vì tình dục nhưng vì tình yêu chân thành; cậu luôn lo lắng đến bệnh tình của cha. Đây phải là gương sáng cho những người cha trong gia đình: Nếu các ông muốn con cái kính sợ Thiên Chúa, các ông hãy kính sợ Thiên Chúa trước. Nếu các ông muốn con cái ăn ngay ở lành, hãy làm trước và tạo cơ hội cho các con ăn ngay ở lành.
Kế hoạch chữa mắt cho ông Tobit đã nằm trong kế hoạch của Thiên Chúa, khi Ngài gởi thiên sứ Raphael đến cho gia đình. Trước khi về đến nhà, thiên sứ Raphael nói lời chỉ dẫn cho Tôbia trước khi cậu đến gần cha: "Tôi biết là mắt cha em sẽ mở ra. Hãy tra mật cá vào mắt ông. Thuốc sẽ làm cho các sẹo trắng teo lại và bay ra khỏi mắt ông. Cha em sẽ thấy lại được, sẽ nhìn thấy ánh sáng."
Khi được vợ cho biết Tobia đang tiến về nhà, ông Tobit đứng lên, chân đi loạng quạng bước qua cửa sân mà ra. Tobia đi về phía ông, tay cầm mật cá; cậu thổi vào mắt ông. Cậu giữ chặt lấy ông và nói: "Thưa cha, xin cha cứ tin tưởng!" Cậu bôi thuốc cho ông và để thuốc ngấm. Rồi cậu lấy hai tay bóc vẩy ra khỏi khoé mắt ông. Ông ôm choàng lấy cổ cậu, vừa khóc vừa nói: "Con ơi, cha đã thấy con! Con là ánh sáng cho đôi mắt cha!"
(2) Tình mẹ con: Bà Anna chắc chắn thương con, vì bà Anna luôn ngồi, ngó trước ngó sau con đường mà con bà đã ra đi. Bà cũng lo cho gia đình khi phải bươn chải ra ngoài kiếm đồng tiền về lo cho gia đình khi chồng bị mù. Bà chỉ có một khuyết điểm là đã không kiên nhẫn và không cầm được tính nóng giận, khi nghi ngờ sự quan phòng của Thiên Chúa và chất vấn về thái độ "quá đạo đức" của chồng mình. Nếu chồng con của Bà nghe lời Bà, và quay lưng lại với Thiên Chúa, làm sao Bà hưởng được những kết quả tốt đẹp như hôm nay. Vì thế, các bà mẹ trong gia đình đừng đay nghiến chồng khi thấy các ông "quá đạo đức;" nhưng hãy lo lắng nhiều khi các ông không đạo đức và không sống theo sự thật Thiên Chúa dạy.
Thấy cậu đang đến, bà bảo cha cậu: "Này con ông đang đến với người bạn đồng hành của nó!" Rồi Bà Anna chạy đến ôm choàng lấy cổ con và nói: "Con ơi, mẹ lại thấy con! Từ nay, mẹ có chết cũng được!" Rồi bà khóc oà lên.
1.2/ Tobia báo cho cha biết mọi điều ông muốn được thành công: Tobia hoan hỷ bước vào nhà, miệng vang lời chúc tụng Thiên Chúa. Tobia kể cho cha cậu biết là cuộc hành trình của cậu đã thành công, cậu đã mang bạc về, đã cưới vợ là cô Sarah, con gái ông Raguel như thế nào, và hiện giờ cô sắp tới, đang tiến gần đến cửa thành Nineveh. Khi nghe con tường thuật kết quả chuyến đi, ông Tobit lớn tiếng chúc tụng Thiên Chúa: "Chúc tụng Thiên Chúa! Chúc tụng Danh cao trọng của Người. Chúc tụng mọi thiên sứ thánh thiện của Người! Ước gì Danh cao trọng của Người che chở chúng ta! Chúc tụng mọi thiên sứ đến muôn đời! Vì tôi đã bị Người đánh phạt, nhưng nay lại được thấy Tobia, con tôi!"
2/ Phúc Âm: Sao các kinh sư lại nói Đấng Kitô là con vua David?
Thiên Chúa hằng hữu, Ngài không lệ thuộc vào thời gian; nhưng trong Kế Hoạch Cứu Độ, Ngài muốn cho Con của Ngài nhập thể. Khi Chúa Giêsu nhập thể, Ngài chịu lệ thuộc vào thời gian. Một cách giúp chúng ta có thể hiểu câu hỏi này, là cách cắt nghĩa theo hai bản tính:
(1) Theo nhân tính: Đức Kitô là con vua David vì Ngài xuất thân từ giòng dõi của David, như Matthew đã cẩn thận chép lại (Mt 1:1-18).
(2) Theo thiên tính: Ngài luôn hiện hữu và cao trọng hơn vua David, vì "chính vua David được Thánh Thần soi sáng đã nói: Đức Chúa (Chúa Cha) phán cùng Chúa Thượng tôi (Đức Kitô): bên hữu Cha đây, Con lên ngự trị, để rồi bao địch thù, Cha sẽ đặt dưới chân Con." Chúa Giêsu muốn chứng minh thiên tính của Người bằng cách trưng dẫn lời Thánh Vịnh 110:1 này. Ngài mời gọi đám đông suy nghĩ: "Chính vua David gọi Đấng Kitô là Chúa Thượng, thì Đấng Kitô lại là con vua ấy thế nào được?" Đám đông phải đi tới kết luận như Gioan Tẩy Giả: Người đến sau tôi nhưng Người có trước tôi và cao trọng hơn tôi; phần tôi, tôi không xứng đáng cởi giây giầy cho Người (Jn 1:15, 27).
ÁP DỤNG TRONG CUỘC SỐNG:
- Con người chúng ta không đủ khôn ngoan để thắc mắc sự quan phòng của Thiên Chúa. Khi nào không hiểu được những biến cố xảy ra trong cuộc đời, hãy biết khiêm nhường xin Thiên Chúa soi sáng để có thể hiểu được.
- Chúng ta không bao giờ được xin Thiên Chúa đối xử công bằng theo như những gì chúng ta làm cho Ngài; vì nếu Ngài đối xử công bằng, chúng ta đã không còn có mặt trong thế gian này, vì tội lỗi chúng ta luôn nhiều hơn công phúc.
- Chúng ta hãy kiên nhẫn chờ đợi cho tới khi nhìn thấy kết quả. Đừng kêu trách, than khóc, và nhất là, từ bỏ lối sống "ăn ngay ở lành" mà Thiên Chúa đã dạy bảo.
Linh mục Anthony Đinh Minh Tiên, OP
- Viết bởi Linh mục Anthony Đinh Minh Tiên, OP
Thứ Năm Tuần 9 TN1, Năm B
Bài đọc: Tob 6:11, 7:1, 9-14, 8:4-7; Mk 12:28-34.
GIỚI THIỆU CHỦ ĐỀ: Con người phải chân thành yêu thương Thiên Chúa và tha nhân.
Để có thể sống hạnh phúc trong cuộc đời và đạt được đích điểm mà Thiên Chúa đã dự phóng, con người cần phải làm theo những gì Ngài dạy: đó là phải yêu thương Thiên Chúa trên hết mọi sự, và chân thành yêu thương nhau.
Các Bài Đọc hôm nay nói lên sự quan trọng tối hậu của tình yêu chân thành với Thiên Chúa và với tha nhân trong cuộc đời. Trong Bài Đọc I, Tobia nói lên mục đích của mình khi cưới Sarah: "Không phải vì tình dục, mà con lấy em con đây, nhưng vì tình yêu chân thành. Xin Chúa đoái thương con và em con cho chúng con được chung sống bên nhau đến tuổi già." Thiên Chúa đã chúc lành cho cuộc hôn nhân của đôi trẻ. Trong Phúc Âm, khi được hỏi đâu là giới răn quan trọng nhất, Chúa Giêsu đã trả lời rõ ràng: "Điều răn đứng đầu là: Nghe đây, hỡi Israel, Đức Chúa, Thiên Chúa chúng ta, là Đức Chúa duy nhất. Ngươi phải yêu mến Đức Chúa, Thiên Chúa của ngươi, hết lòng, hết linh hồn, hết trí khôn và hết sức lực ngươi. Điều răn thứ hai là: Ngươi phải yêu người thân cận như chính mình. Chẳng có điều răn nào khác lớn hơn các điều răn đó."
KHAI TRIỂN BÀI ĐỌC:
1/ Bài đọc I: Không phải vì tình dục mà con lấy em con đây, nhưng vì tình yêu chân thành.
1.1/ Thiên Chúa quan phòng cho cuộc hôn nhân giữa Tobia và Sarah: Hôm qua, chúng ta đã nghe những lời cầu nguyện của ông Tobit và cô Sarah. Hôm nay, chúng ta chứng kiến những gì họ than khóc biến thành vui mừng theo sự quan phòng của Thiên Chúa. Ngài gởi thiên-sứ Raphael đến như một người bạn đồng hành của Tobia, để hướng dẫn cậu làm theo tất cả kế họach của Thiên Chúa cho gia đình cậu và gia đình cô Sarah. Một biến cố quan trọng, nhưng bị các Bài Đọc bỏ qua là biến cố giết con cá để lấy tim, gan, và mật cá: Tim và gan cá để trừ quỉ Asmodeus đã giết 7 đời chồng của Sarah, và mật cá để chữa mắt cho ông Tobit khỏi mù.
Thiên sứ Raphael nói với cậu Tôbia: "Đêm nay, chúng ta phải trọ nhà ông Raguel. Ông này là bà con của em và có cô con gái tên là Sarah." Khi vào tới Ecbatana, thiên sứ dẫn cậu tới nhà ông Raguel. Thấy ông đang ngồi ở cửa sân, họ chào ông trước. Ông đáp: "Chào các anh! Chúc các anh mạnh khỏe!" Rồi ông dẫn họ vào nhà. Tắm rửa xong, họ vào bàn để dùng bữa. Cậu Tôbia nói với thiên sứ Raphael: "Anh Azarias, xin anh nói với ông Raguel gả cô em gái Sarah cho em!" Nghe lời ấy, ông Raguel bảo cậu thanh niên: "Này cháu, cháu cứ ăn uống qua đêm nay cho thoải mái, vì ngoài cháu ra, không ai có quyền cưới Sarah, con gái của chú, cũng như chú đây không có quyền gả cho người đàn ông nào khác ngoài cháu, vì cháu là người bà con gần nhất của chú. Nhưng này cháu, nhất định chú phải cho cháu biết sự thật: Chú đã gả nó cho bảy người trong số anh em của chúng ta, nhưng họ đều chết cả, ngay trong đêm họ đến gần nó. Vậy bây giờ, này cháu, cháu cứ ăn uống đi, rồi Đức Chúa sẽ xếp đặt cho chúng con.
1.2/ Lời cầu nguyện của đôi tân hôn trong đêm đầu tiên: Khi thân nhân đã ra khỏi phòng và đóng cửa lại, Tôbia ngồi dậy, ra khỏi giường và nói với Sarah: "Đứng lên, em! Chúng ta hãy cầu nguyện, nài xin Đức Chúa để Người xót thương và ban ơn cứu độ cho chúng ta!" Cô đứng lên, rồi cả hai bắt đầu cầu nguyện và nài xin cho mình được cứu độ. Tôbia bắt đầu như sau: "Lạy Thiên Chúa của tổ tiên chúng con. Xin chúc tụng Chúa, xin chúc tụng Thánh Danh đến muôn thuở muôn đời! Các tầng trời và toàn thể công trình của Chúa phải chúc tụng Chúa đến muôn thuở muôn đời! Chính Chúa đã dựng nên ông Adam, dựng nên cho ông một người trợ thủ và nâng đỡ là bà Eve, vợ ông. Và dòng dõi loài người đã sinh ra từ hai ông bà. Chính Chúa đã nói: "Con người ở một mình thì không tốt. Ta sẽ làm cho nó một người trợ thủ giống như nó. Giờ đây, không phải vì lòng dục, mà con lấy em con đây, nhưng vì lòng chân thành. Xin Chúa đoái thương con và em con cho chúng con được chung sống bên nhau đến tuổi già."
Sở dĩ Tobia thắng được quỉ Asmodeus là vì thiên sứ Raphael đã bày mưu cho cậu lấy tim và gan cá đốt trước cửa phòng Sarah, khiến quỉ phải chạy trốn sang Ai-cập và bị Raphael bắt trói lại (Tob 8:2-3).
2/ Phúc Âm: Yêu mến Thiên Chúa và thương yêu tha nhân là hai giới răn quan trọng nhất.
2.1/ Đâu là giới răn quan trọng nhất? Con người khôn ngoan không chỉ bằng lòng với nhiều kiến thức, nhưng mong đạt tới trọng tâm của vấn đề. Ông Kinh-sư, sau khi đã nghe Đức Giêsu đối đáp rất hay với những người thuộc nhóm Sadducees, ông đến gần Người và hỏi: "Thưa Thầy, trong mọi điều răn, điều răn nào đứng đầu?"
Đức Giêsu trả lời: "Điều răn đứng đầu là: Nghe đây, hỡi Israel, Đức Chúa, Thiên Chúa chúng ta, là Đức Chúa duy nhất. Ngươi phải yêu mến Đức Chúa, Thiên Chúa của ngươi, hết lòng, hết linh hồn, hết trí khôn và hết sức lực ngươi. Điều răn thứ hai là: Ngươi phải yêu người thân cận như chính mình. Chẳng có điều răn nào khác lớn hơn các điều răn đó." Hay nói một cách ngắn gọn và dễ nhớ hơn: "Mến Chúa và yêu người." Tất cả Lề Luật đều đặt căn bản trên hai giới răn này.
2.2/ Ông Kinh-sư đồng ý với Chúa Giêsu: Ông Kinh-sư nói với Đức Giêsu: "Thưa Thầy, hay lắm, Thầy nói rất đúng. Thiên Chúa là Đấng duy nhất, ngoài Người ra không có Đấng nào khác. Yêu mến Thiên Chúa hết lòng, hết trí khôn, hết sức lực, và yêu người thân cận như chính mình, là điều quý hơn mọi lễ toàn thiêu và hy lễ." Lời khen ngợi của ông Kinh-sư không thêm gì cho Chúa Giêsu; nhưng chứng tỏ ông đã nhận ra chân lý của cuộc đời. Ông nhấn mạnh đến con người chỉ có một Thiên Chúa duy nhất và con người phải thờ phượng Ngài hết lòng, hết trí khôn, và hết sứ lực; vì Ngài dựng nên con người, quan phòng mọi sự trong trời đất, và quyết định vận mạng đời sau của con người. Ông cũng nhấn mạnh đến sự cao quí của tình yêu hơn mọi lễ toàn thiêu và hy lễ. Điều này, các ngôn sứ và Sách Thánh Vịnh cũng đã từng nhắc đi nhắc lại; chẳng hạn: "Máu chiên bò Chúa không ưng, của lễ toàn thiêu Chúa không nhận, thì này con đến để làm theo ý Cha" (Psa 40:6). Hay như lời tiên tri Hosea: "Vì Ta muốn tình yêu chứ không cần hy lễ, thích được các ngươi nhận biết hơn là được của lễ toàn thiêu" (Hos 6:6).
Đức Giêsu thấy ông ta trả lời khôn ngoan như vậy, thì bảo: "Ông không còn xa Nước Thiên Chúa đâu!" Khi một người tìm ra chìa khóa của cuộc đời và sống như thế, thì người đó đã bắt đầu sống cuộc sống trong Nước Trời, dẫu rằng vẫn còn ở đời này; vì cuộc sống đời sau chỉ là cuộc nối dài và làm hoàn hảo tình yêu mà người đó đã có với Thiên Chúa và với tha nhân.
ÁP DỤNG TRONG CUỘC SỐNG:
- Chúng ta phải năng xét lại giới răn thứ nhất và đối chiếu cuộc đời của chúng ta với đòi hỏi của giới răn này; để xem chúng ta có thực sự yêu mến Thiên Chúa trên hết mọi sự chưa?
- Một đòi hỏi của giao ước hôn nhân là tình yêu chân thành và vững bền mà hai vợ chồng dành cho nhau; chứ không phải thứ đòi hỏi chóng qua của tình dục. Trước khi tiến tới đời sống gia đình, con người cần phân biệt rõ ràng hai thứ tình yêu này để khỏi bị gẫy cánh giữa đường.
- Mọi sự trong cuộc đời này rồi cũng qua đi hết; chỉ còn tình yêu là tồn tại. Chúng ta hãy dành mọi thời gian và nỗ lực để phát triển tình yêu của chúng ta với Thiên Chúa và với tha nhân.
Linh mục Anthony Đinh Minh Tiên, OP
- Viết bởi Linh mục Anthony Đinh Minh Tiên, OP
Thứ Tư Tuần 9 TN1, Năm lẻ
Bài đọc: Tob 3:1-11, 16; Mk 12:18-27.
GIỚI THIỆU CHỦ ĐỀ: Có sự sống lại và cuộc sống đời sau.
Niềm tin vào sự sống lại và cuộc sống đời sau là một mặc khải tiệm tiến. Mặc dù đã có tiềm ẩn trong Cựu Ước; nhưng chỉ với mặc khải của Chúa Giêsu và sự sống lại của Ngài, niềm tin này mới rõ ràng và chắc chắn hơn.
Các Bài Đọc hôm nay cho chúng ta thấy sự nhầm lẫn và đau khổ của con người khi không có niềm tin này. Trong Bài Đọc I, cả ông Tobit và cô Sarah đều cầu nguyện xin Thiên Chúa cho họ chết đi, vì không chịu nổi những đau khổ và nhạo báng xảy đến cho họ trong cuộc đời. Trong Phúc Âm, khi những người Sadducees muốn dùng Lề Luật để chứng minh không có sự sống lại, Chúa Giêsu đã mặc khải rõ ràng về có sự sống lại qua lời Thiên Chúa nói với Moses trong Xuất Hành 3:6, và thân xác phục sinh của con người sẽ không còn phải chịu ảnh hưởng của các định luật vật lý nữa, và họ sẽ sống như các thiên thần trên trời.
KHAI TRIỂN BÀI ĐỌC:
1/ Bài đọc I: Sự quan phòng của Thiên Chúa
1.1/ Trường hợp của ông Tobit: Có hai lý do làm ông u sầu: thứ nhất, vì ông phải chứng kiến và chịu quá nhiều những đau khổ: bị cướp phá tàn nhẫn bởi Dân Ngoại, bị lưu đày, bị mù; thứ hai, bị châm biếm bởi kẻ thù, và nhất là chịu mỉa mai từ người vợ của mình. Ông không dám trách Thiên Chúa, vì ông biết đó là hậu quả của việc xúc phạm đến Ngài từ cha ông, và ngay cả từ chính cá nhân ông: "Vâng, các phán quyết của Ngài thì nhiều và chân thật; Ngài đối xử như thế với con vì tội lỗi con, bởi chúng con đã không thi hành mệnh lệnh Ngài và đã chẳng sống theo chân lý trước nhan Ngài."
Vì không có niềm tin vào sự sống lại và cuộc sống đời sau, nên ông Tobit không tìm được một lý do nào để tiếp tục sống giữa bao đau khổ và nhạo cười; nên ông nghĩ chỉ còn một cách: xin Thiên Chúa chấm dứt cuộc đời trên cõi dương gian: "Xin truyền rút sinh khí ra khỏi con, để con biến khỏi mặt đất và trở thành bụi đất. Quả thật, đối với con, chết còn hơn sống, vì con đã nghe những lời nhục mạ dối gian khiến con phải buồn phiền quá đỗi. Lạy Chúa, xin truyền lệnh cho con được giải thoát khỏi số kiếp gian khổ này. Xin để con ra đi vào cõi đời đời. Lạy Chúa, xin đừng ngoảnh mặt không nhìn con. Quả thật, đối với con, thà chết còn hơn là suốt đời phải nhìn thấy bao nhiêu gian khổ, và phải nghe những lời nhục mạ."
1.2/ Trường hợp của cô Sarah: Có hai lý do làm cô u sầu: thứ nhất, cô đã 7 lần lấy chồng, nhưng người chồng nào cũng chết yểu bởi quỉ Asmodeus; thứ hai, cô bị đầy tớ châm biếm là "đồ sát phu!" và nguyền rủa cho cô cũng bị chết theo những người chồng đó. Vì không có niềm tin vào sự sống lại và cuộc sống đời sau, nên cô định lên lầu thắt cổ tự tử; nhưng cô nghĩ đến người cha sẽ phải chịu đau khổ: Người ta sẽ nhục mạ cha cô và châm biếm: "Ông chỉ có một cô con gái yêu quý, thế mà vì bạc phận, cô đã thắt cổ tự tử! Như vậy, tôi sẽ làm cho tuổi già của cha tôi phải buồn phiền đi xuống âm phủ. Nên tốt hơn là tôi đừng thắt cổ tự tử, mà phải cầu xin Chúa cho tôi chết đi, để đời tôi không còn phải nghe những lời nhục mạ nữa." Nghĩ như thế, cô dang hai tay về phía cửa sổ, cầu nguyện rằng: "Chúc tụng Chúa, lạy Thiên Chúa từ nhân! Chúc tụng danh Chúa đến muôn đời, và mọi công trình của Chúa phải chúc tụng Ngài muôn muôn thuở."
Sự quan phòng kỳ diệu của Thiên Chúa: "Ngay lúc ấy, lời cầu xin của hai người là Tobit và Sarah đã được đoái nghe trước nhan vinh hiển của Thiên Chúa."
2/ Phúc Âm: Người không phải là Thiên Chúa của kẻ chết, nhưng là của kẻ sống.
2.1/ Bẫy giăng của những người Sadducees: Đây là những người thuộc nhóm thống trị và giàu có của Do-thái. Chức Thượng-tế thường đến từ nhóm người này. Khác với Pharisees là những người tin cả vào luật bất thành văn và truyền thống, họ chỉ tin vào luật thành văn, và chú trọng ưu tiên cho Bộ Ngũ Thư. Họ không tin có sự sống lại, thiên thần, và các thần khí. Trong trình thuật hôm nay, họ muốn dùng Lề Luật của Moses để chứng minh không có sự sống lại. Theo Sách Đệ Nhị Luật 25:5-6, "Khi có những anh em ở chung với nhau, và một trong những người đó chết mà không có con trai, thì vợ của người chết không được lấy một người xa lạ, ngoài gia đình; một người anh em chồng sẽ đến với nàng, lấy nàng làm vợ và chu toàn bổn phận của một người anh em chồng đối với nàng. Đứa con đầu lòng nàng sinh ra sẽ duy trì tên của người anh em đã chết; như vậy tên của người chết sẽ không bị xoá khỏi Israel."
Dựa trên khoản luật này, họ nghĩ ra một trường hợp không thực tế cho lắm để thử Chúa. Họ hỏi Người: "Thưa Thầy, ông Moses có viết cho chúng ta rằng: "Nếu anh hay em của người nào chết đi, để lại vợ mà không để lại con, thì người ấy phải lấy nàng, để sinh con nối dòng cho anh hay em mình." Vậy có bảy anh em trai. Người thứ nhất lấy vợ, nhưng chết đi mà không để lại một đứa con nối dòng. Người thứ hai lấy bà đó, rồi cũng chết mà không để lại một đứa con nối dòng. Người thứ ba cũng vậy. Cả bảy người đều không để lại một đứa con nối dòng. Sau cùng, người đàn bà cũng chết. Trong ngày sống lại, khi họ sống lại, bà ấy sẽ là vợ của ai trong số họ? Vì bảy người đó đã lấy bà làm vợ."
2.2/ Câu trả lời của Chúa Giêsu: gồm 2 phần chính:
(1) Thân xác phục sinh khác với thân xác trần thế: Thân xác phục sinh sẽ không bị chi phối bởi các định luật vật lý mà con người đang chịu bây giờ; vì thế, "khi người ta từ cõi chết sống lại, thì chẳng còn lấy vợ lấy chồng, nhưng sẽ giống như các thiên thần trên trời." Sách Enoch cũng đã từng nói: "Các anh sẽ có nguồn vui vĩ đại như các thiên thần trên trời." Sách Khải Huyền của Baruch cũng nói: "người công chính sẽ được tạo thành như thiên thần trên trời."
(2) Chúa Giêsu dùng chính những gì người Sadducees tin để chứng minh có sự sống lại: Trong Sách Xuất Hành 3:6, nói về thị kiến từ bụi gai của Moses, mà Chúa Giêsu trưng dẫn hôm nay, Thiên Chúa đã mặc khải cho ông Moses: "Ta là Thiên Chúa của Abraham, Thiên Chúa của Isaac, và Thiên Chúa của Jacob." Chúa Giêsu thêm: "Người không phải là Thiên Chúa của kẻ chết, nhưng là của kẻ sống." Điều này chứng tỏ các Tổ-phụ, Abraham, Isaac, và Jacob, đang sống; vì thế, những người Pharisees đã lầm to khi không tin có sự sống lại.
ÁP DỤNG TRONG CUỘC SỐNG:
- Chúng ta cần cố gắng tìm hiểu cho biết thấu đáo mọi sự để niềm tin của chúng ta được vững chắc. Một sự hiểu biết lờ mờ sẽ dẫn chúng ta đến chỗ khủng hoảng đức tin, và sống phất phơ như liễu trước gió.
- Chúng ta biết chắc Thiên Chúa sẽ công bằng phán xét và trả cho mỗi người tùy theo công phúc và tội họ đã làm khi còn sống ở đời này. Bổn phận của chúng ta là cố gắng chu toàn thánh ý Chúa và sống ngay thật mọi ngày trong cuộc đời.
- Niềm tin vào sự sống lại và cuộc sống đời sau là chân lý căn bản của đức tin Kitô Giáo. Niềm tin này đã từng được mặc khải cách tiềm ẩn trong Cựu Ước, nhưng đã được mặc khải cách minh bạch và rõ ràng bởi Chúa Giêsu và sự phục sinh vinh hiển của Ngài.
Linh mục Anthony Đinh Minh Tiên, OP
- Viết bởi Linh mục Anthony Đinh Minh Tiên, OP
Thứ Ba Tuần 9 TN1, Năm B
Bài đọc: Tob 2:9-14; Mk 12:13-17.
GIỚI THIỆU CHỦ ĐỀ: Của ai trả về cho người ấy.
Để bảo vệ trật tự chung và sống an hòa với mọi người, mỗi người chúng ta đều phải biết khả năng và giới hạn của mình; chẳng hạn, trong hệ thống điều khiển quốc gia, đã có 3 ngành: luật pháp, hành pháp, và tư pháp. Mỗi ngành phải biết quyền năng và giới hạn của mình để đừng dẫm chân lên nhau và gây xáo trộn trật tự. Trong mối liên hệ giữa con người với Thiên Chúa cũng thế, con người phải biết khả năng và giới hạn của mình, để đừng thử thách và can thiệp vào những chuyện của Thiên Chúa.
Các Bài Đọc hôm nay cho chúng ta vài ví dụ để nhận ra sự bất hòa, khi một người vượt quá khả năng và giới hạn của mình. Trong Bài Đọc I, ông Tobit vượt quá giới hạn của mình khi phán đoán vợ mua dê con của phường trộm cắp. Bà Anna, vợ ông, cũng vượt quá giới hạn của mình khi thắc mắc về sự quan phòng của Thiên Chúa, và sự "quá đạo đức" của chồng mình. Trong Phúc Âm, những người thuộc phái Pharisees và phái Herode đã vượt quá khả năng của mình khi đặt câu hỏi và gài bẫy Chúa: "Có nên nộp thuế cho Caesar hay không?"
KHAI TRIỂN BÀI ĐỌC:
1/ Bài đọc I: Tại sao làm việc thiện mà vẫn gặp điều xấu?
1.1/ Ông Tobit bị mù khi ông mới hoàn tất 2 việc thiện: sai con đi mời người nghèo về dùng bữa, và vừa mới chôn xác kẻ chết.
(1) Truyền thống Do-thái và ngay cả Á-Đông đều tin: "Trời cao có mắt!" Ai làm lành sẽ được Thiên Chúa thưởng; ai làm ác sẽ bị Thiên Chúa phạt. Trong thực tế, việc đó không luôn luôn xảy ra vì nhiều khi kẻ dữ vẫn thịnh vượng; trong khi người lành phải chịu đau khổ, như trường hợp của ông Tobit hôm nay; hay như trong trường hợp của ông Job.
(2) Những người không có niềm tin vững chắc sẽ nghi ngờ không biết có Thiên Chúa hay không? Và nếu có, Thiên Chúa có quan tâm đến việc làm của họ không? Chính Bà Anna đặt vấn đề với ông Tobit: "Các việc bố thí của ông ở đâu? Các việc nghĩa của ông đâu cả rồi? Đó, ai cũng biết là ông được bù đắp như thế nào rồi!" Hậu quả nếu không tìm được câu trả lời thích đáng: Con người dễ bị nản chí để không tin và làm theo những gì Thiên Chúa đòi hỏi. Ngược lại, họ sẽ làm những gì mà họ cho rằng đúng. Chúng ta phải chờ đến kết cuộc của Sách Tobit, mới có thể hiểu lý do tại sao người lành phải chịu đau khổ.
1.2/ Hiểu lầm giữa hai vợ chồng: Bà Anna phải làm việc để có tiền chi tiêu trong gia đình. Bà nhận làm những công việc dành cho phụ nữ. Chủ của Bà là người rộng lượng nên "ngày mồng bảy tháng Dytro, nàng xén tấm vải đã dệt xong, rồi giao cho chủ. Tiền công bao nhiêu, họ trả hết cho nàng, lại còn thưởng cho một con dê con để ăn một bữa."
- Ông Tobit đặt câu hỏi về sự hiện diện của con dê: "Con dê nhỏ đó ở đâu ra vậy? Có phải của trộm cắp không? Đem trả lại cho chủ nó đi! Vì chúng ta không có quyền ăn của trộm cắp."
- Bà Anna bảo chồng: "Đó là quà người ta thưởng cho tôi, thêm vào số tiền công!"
- Ông Tobit không tin nàng và cứ bảo nàng phải trả lại cho chủ. Tại sao ông không tin nàng?
+ Dê con là con vật đắt tiền bên Do-thái; nên ông nghĩ Bà có thể là mua lại của trộm cắp.
+ Khi người khác cho quà, người nhận cẩn thận luôn tìm hiểu lý do tại sao; nhiều khi "há miệng ăn rồi mắc nợ." Ông Tobit không muốn vợ mình nhận quà của người lạ.
- Bà Anna tức giận vì chồng ngoan cố không tin, nên nguyền rủa chồng: "Các việc bố thí của ông ở đâu? Các việc nghĩa của ông đâu cả rồi? Đó, ai cũng biết là ông được bù đắp như thế nào rồi!"
Cả hai vợ chồng đều mắc lỗi trong biến cố này: Tobit mắc lỗi vì đã không tin và phán đoán không tốt vợ mình. Bà Anna cảm thấy sự đạo đức của ông đi quá xa nên đã nặng lời với ông và nghi ngờ sự quan phòng của Thiên Chúa.
2/ Phúc Âm: Của Caesar, trả về Caesar; của Thiên Chúa, trả về Thiên Chúa.
2.1/ Câu hỏi gài bẫy Chúa: Lỗi lầm lớn nhất của con người là nghi ngờ và thử thách Chúa. Họ dùng những suy nghĩ và cách hành xử của mình để so sánh và áp đặt trên Thiên Chúa. Nếu họ thấy là tốt đẹp là điều hay, Thiên Chúa cũng phải cho như vậy; nếu họ nghĩ là chuyện không thể làm được, Thiên Chúa cũng phải bó tay. Họ quên đi một điều mà tiên tri Isaiah đã nhắc nhở: Tư tưởng và đường lối của các ngươi không phải là tư tưởng và đường lối của Ta. Như trời cao hơn đất chừng nào, tư tưởng và đường lối của Ta cũng cao hơn các ngươi như vậy.
Trình thuật hôm nay cũng thế, họ cử mấy người Pharisees và mấy người thuộc phe Herode đến thử Người để Người phải lỡ lời mà mắc bẫy. Họ hỏi người: "Thưa Thầy, chúng tôi biết Thầy là người chân thật. Thầy chẳng vị nể ai, vì Thầy không cứ bề ngoài mà đánh giá người ta, nhưng theo sự thật mà dạy đường lối của Thiên Chúa. Vậy có được phép nộp thuế cho Caesar hay không? Chúng tôi phải nộp hay không phải nộp?" Hai loại người họ gởi tới là hai cái bẫy để Ngài phải rơi vào:
(1) Người Pharisees là cái bẫy tôn giáo: Họ quan niệm không phải nộp thuế cho Caesar, vì con người chỉ mắc nợ Thiên Chúa. Nếu Chúa Giêsu trả lời phải nộp thuế, họ sẽ kết tội Ngài vào hùa với ngoại bang để bóc lột dân chúng.
(2) Người thuộc phe Herode là cái bẫy chính trị: Nếu Chúa Giêsu trả lời không nộp thuế, họ sẽ kết tội Ngài phản động chống lại Caesar
Họ nghĩ là họ nắm chắc phần thắng, vì Chúa chỉ có thể trả lời hoặc có hoặc không. Chúa trả lời có hay không, họ đều có lý do để buộc tội Ngài.
2.2/ Câu trả lời khôn ngoan của Chúa Giêsu: Nhưng Đức Giêsu biết họ giả hình, nên Người nói: "Tại sao các người lại thử tôi? Đem một đồng bạc cho tôi xem!" Họ liền đưa cho Người. Người hỏi: "Hình và danh hiệu này là của ai đây?" Họ đáp: "Của Caesar." Đức Giêsu bảo họ: "Của Caesar, trả về Caesar; của Thiên Chúa, trả về Thiên Chúa."
(1) Phản ứng của những kẻ gài bẫy: "Họ hết sức ngạc nhiên về Người." Trước tiên, họ không ngờ Ngài có thể thoát bẫy họ giăng một cách dễ dàng như thế.
(2) Ý nghĩa câu trả lời của Chúa Giêsu: Chúa nhắc khéo cho những người Pharisees đừng giả hình, vì họ cũng từng lấy mọi thứ thuế của dân đóng vào Đền Thờ. Các tín hữu có hai bổn phận: Họ có bổn phận phải trả lại cho Thiên Chúa những gì Ngài đã ban cho họ. Họ cũng có bổn phận nộp thuế cho chính phủ để bảo vệ an ninh, tu bổ đường xá, và cung cấp các dịch vụ công cộng. Chúa cũng nhắc nhở cho những người thuộc phe Herode biết giới hạn của mình. Họ chỉ có quyền trên những gì thuộc quyền con người; những gì thuộc quyền Thiên Chúa, họ không được đụng tới.
ÁP DỤNG TRONG CUỘC SỐNG:
- Chúng ta cần biết khả năng và giới hạn của mình trong cách cư xử giữa con người với con người để bảo đảm trật tự chung và sống hòa thuận với mọi người.
- Chúng ta càng cần biết khả năng và giới hạn của mình trong cách cư xử với Thiên Chúa, để có thể giữ vững đức tin và gặt hái được các kết quả tốt đẹp do việc làm theo thánh ý Chúa.
Linh mục Anthony Đinh Minh Tiên, OP
- 01/6 Có cần phải ăn ở theo sự thật và lẽ ngay suốt mọi ngày trong cuộc đời?
- 31/5 Vinh dự và trách nhiệm của kẻ làm con Thiên Chúa
- 30/5 Khôn ngoan là luôn biết và sống theo sự thật
- 29/5 Hãy biết sống làm sao để sinh hoa kết quả cho Thiên Chúa
- 28/5 Sự quí trọng của con mắt
- 27/5 Tình thương vô bờ của Thiên Chúa và tình yêu toan tính của con người
- 26/5 Thiên Chúa thưởng công xứng đáng những người rộng lượng cho đi
- 25/5 Hãy làm việc lành phúc đức để giúp đỡ mọi người
- 24/5 Các hoạt động của Thánh Thần
- 24/5 Anh em hãy nhận lấy Chúa Thành Thần
