Trang Nhà |  Nguyệt San |  Lời Chúa  |  GĐ La Vang |  Hành Hương |  Lich CG 2014 |  Quỹ Từ Thiện |  Việt Sử |  Nối Kết |  Liên Lạc print  
  Dân Chúa
  Trang Thơ Dân Chúa
  Biến Cố Trong Tháng
  Văn Hóa Việt Nam
  Sức Khỏe Là Vàng
  Đi Vào Cuộc Đời
  Học Hỏi Để Sống Đạo
  Sinh hoạt Cộng Đoàn
  Chúc Mừng
  Phân ưu
  Quảng Cáo
  Tủ Sách Dân Chúa
  Đặt Mua Báo
  Bạn đọc viết
  Tìm Bài
  Impressum
0011216313 visits0011216313 visits0011216313 visits0011216313 visits0011216313 visits0011216313 visits0011216313 visits0011216313 visits0011216313 visits0011216313 visits
Trang NhàTin tức 2008Single-News

Văn Hóa & Xã Hội
01-11-07 04:49 Age: 6 yrs

Lịch-Sử Tiền-Tệ Thế-giới và Việt-nam

Category: Văn Hóa & Xã Hội, Hộp Thư Dân Chúa, Y Khoa, Trương Mục Tình Thương, Đi Vào Cuộc Đời, Chuyện Buồn Vui, Thơ

BY: SH. TRẦN CÔNG-LAO

Những tiền giấy đầu tiên
a/ Tại Á châu
Trung-hoa là nước đã phát-minh ra giấy và cũng là nước có ý-niệm về tiền giấy trước tiên, không những đối với châu Á, mà cả các châu lục khác trên thế-giới. Thực vậy, dưới triều-đại nhà Đường (618-997), nhu-cầu trao đổi ngày càng trở nên quan-trọng, do đó khái-niệm tín-dụng đã nảy sinh trong đầu óc người Tàu. Họ sẵn-sàng dùng một miếng giấy để ghi nhận giá-trị của một món hàng
Đến đời nhà Tống (960-1276), nền thương-mại rất phát-đạt mà tiền kim-loại lại không đủ để đáp-ứng nhu-cầu sinh-hoạt, nên một vài thương-gia đã có sáng-kiến tự phát-hành tiền riêng, gọi là «Zhu Quan», in bằng giấy dâu tằm (papier à mûrier). Vào năm 1024, triều-đình nhà Tống dành độc-quyền phát-hành tiền giấy.
Ở Việt-nam, tiền giấy đầu tiên được phát-hành vào năm 1396 là do sáng-kiến của Hồ Quý Ly. Hồ Quý Ly, đối với lịch-sử, là kẻ thoán-đoạt. Nhưng do sự yếu kém dưới các đời vua Việt-nam, từ Trần Phế-Đế (1377-1388) đến Trần Thuận Tông (1388-1398), khiến tình-trạng dân trong nước lâm cảnh đói khổ lầm than:
Ngoài biên-thùy, quân Chiêm-Thành (do Chế Bồng Nga lãnh-đạo) nay vào đánh chỗ nầy, mai vào phá chỗ kia. Thượng-hoàng Nghệ-Tông và Trần Phế-Đế đã 3 lần phải bỏ kinh-thành Thăng-Long mà chạy. Trong nước, giặc-giã nổi lên khắp nơi: Nguyễn Thanh ở Lương-giang, Nguyễn Kị ở Nông-cống và Phạm Sư Ôn ở Quốc-oai. Trước tình-thế quá nhiễu-nhương đó, cần phải có những người tài. Hồ Quý Ly là một người «tài» nhưng không có «đức». Tuy-nhiên, ông đã làm được nhiều việc cải-cách về chính-trị, hành-chánh, an-ninh, quốc-phòng, kinh-tế và tài-chánh. Việc tài-chánh thì có vấn-đề «phát-hành tiền giấy», thu-hồi tiền xu, gom góp kim-loại để đúc súng thần-công.
Theo sử cũ chép: Mùa hạ, tháng tư năm Bính-Tý, niên-hiệu Quang-Thái năm thứ chín (1396), bắt đầu phát-hành tiền giấy «Thông bảo hội sao». In xong, hạ lệnh cho người dân đem tiền đồng đến đổi. Cứ 1 quan tiền đồng đổi lấy tiền giấy là 1 quan 2 tiền.
Thể-thức và mệnh-giá tiền giấy:
+ Loại giấy 10 đồng thì vẽ cây rong biển,
+ Loại giấy 30 đồng thì vẽ cái sóng,
+ Loại giấy 1 tiền, vẽ đám mây,
+ Loại giấy 2 tiền thì vẽ con rùa,
+ Loại giấy 3 tiền thì vẽ con lân,
+ Loại giấy 5 tiền thì vẽ con phượng,
+ Loại giấy 1 quan thì vẽ con rồng.
Ai làm giả phải tội chết, tịch-thu điền-sản vào nhà nước. Cấm hẳn tiền đồng không được chứa và tiêu riêng. Tiền đồng thu được đều chứa tại Ngao-Trì, chứa tại kinh thành và ở trị-sở các xứ. Ai phạm thì cũng tội như trên.
Tiền giấy rất tiện-lợi cho việc lưu-thông và thương-mại. Vì ngày xưa, mỗi khi mang tiền đi đâu xa, như đi mua tậu trâu bò thường phải trả một số tiền lớn, nên phải khiêng vác nặng-nề vất-vả. Nhưng thuở ấy, dân chúng lại thích tiền kim-loại hơn! Vì dù sao, tiền kim-loại để lâu không sợ mục nát, có thể chôn giấu bao nhiêu năm cũng được.
b/ Tại Âu châu
Trong khi tại Trung-hoa, tiền giấy đã được chính-thức lưu-hành cách rộng-rãi từ triều-đại nhà Tống (960-1278) đến triều-đại nhà Nguyên (1280-1341), thì ở Âu châu, người ta vẫn chưa có khái-niệm gì về việc phát-hành loại tiền giấy nầy.
Mãi cho tới thế-kỷ XII, qua cuốn hồi-ký của Marco Polo, một người Ý đã ở Bắc-Kinh 17 năm (1274-1291) và làm việc tại triều vua Thái-tổ nhà Nguyên là Hốt-tất-liệt (Koubila#). Trong đó, ông đã ghi lại «vô vàn những điều mới lạ» cũng như đã  trình-bày việc sản-xuất và lưu-hành tờ giấy bạc như thế nào.
Tại Âu châu, tờ tiền giấy đầu tiên đã được thực-hiện cách rất đơn-giản. Người ta khắc niên-hiệu và hình-ảnh lên một tấm đồng, rồi in mực đen trên giấy trắng. Ngày tháng, trị-giá, số thứ-tự cùng chữ ký đều viết bằng tay. Quả là hữu-ích, vì có bằng-chứng cụ-thể, nhưng lại không thực-tiễn, khi cần chế-tạo một số-lượng lớn.
Những tờ giấy bạc ấy ra đời vào năm 1483. Nó được phát-hành trong bối-cảnh người Tây-ban-nha bị bao vây bởi những người Moors. Ngoài ra, cũng có giả-thuyết cho rằng sự xuất-hiện những «tờ tiền» làm bằng giấy bồi, gồm nhiều dạng với trị-giá khác nhau, đã được sản-xuất vào năm 1574 tại hai thành phố của nước Đức lúc bấy giờ là Leyden và Middelburg.
Hai thành phố nầy đang bị người Tây-ban-nha bao vây ngặt-nghèo, nên thiếu bạc thật để đúc những đồng tiền kim-loại. Do đó, những công dân bị vây hãm trong hai thành, đã phải dùng bìa các cuốn sổ đạo Công-giáo để làm vật-liệu chế-tạo các loại tiền giấy bồi, mang tên là «giấy bạc cấp-bách».
Tuy các loại «giấy bạc cấp-bách» được mô-tả là loại tiền giấy lâu đời nhất của Âu châu và của Đức-quốc, nhưng không phải là những tờ giấy bạc thật. Những tờ giấy bạc thật đầu tiên là những tờ giấy bạc của ngân-hàng «Banco di Gyro d’Affrancatione», phát-hành năm 1705 bởi Elector Johann Wilhem.
Đồng Euro: Như đã nói trong mục tiền kim-loại, Âu châu hiện nay có loại tiền giấy mới, đó là đồng Euro. Euro là kế-tục của ECU (đơn-vị tiền-tệ Âu châu). Tiền Euro đã được chính-thức lưu-hành kể từ ngày 01.01.2002., tuy rằng nó đã được đưa vào sử-dụng đã 3 năm về trước, tức là từ ngày 01.01.1999.
Tiền giấy Euro có 7 mệnh-giá: 54, 104, 204, 504, 1004, 2004 và 5004. Mỗi mệnh-giá có một màu sắc riêng biệt. Khác vớt tiền kim-loại, tiền giấy Euro không có một mặt đặc-trưng cho từng quốc-gia. Vì thế, không thể phân-biệt qua hình-ảnh là tờ tiền giấy của quốc-gia nào. Vì tất cả hình-ảnh trên các tờ tiền giấy, đều mang hình-ảnh kiến-trúc của Âu châu, qua các thời-kỳ khác nhau trong lịch-sử nghệ-thuật.
c/ Tại Mỹ châu
Tiền giấy đầu tiên ở Mỹ châu, hay nói đúng hơn là «tiền-thân» của tiền giấy, đã được xuất-phát tại Québec, Gia-nã-đại, dưới hình-thức là một con bài (carte à jouer). Thời vua Louis XIV, các lãnh-thổ phía Bắc châu Mỹ, từ sông St-Laurent đến sông Mississipi là thuộc-địa của Pháp và được gọi là Tân Pháp-quốc (Nouvelle France), Gia-nã-đại ở trong vùng nầy.
Vào năm 1685, Jacques de Meulles, viên sĩ-quan quản-lý quân-đội Pháp ở Gia-nã-đại, do tiền (kim-loại) từ mẫu-quốc chở tới trễ, ông đã nảy ra sáng-kiến là trả lương cho lính, bằng những con bài mà thường ngày họ dùng để chơi giải-trí.
Ông ký tên và đóng dấu hoa huệ lên các lá bài với lời cam-kết. Thoạt đầu việc làm nầy bị chỉ-trích, nhưng cuối cùng Verseilles đã chấp-nhận và gởi cho ông hơn 200.000 con bài mới tinh, và rất nhanh chóng, lối sử-dụng nầy đã trở thành phổ-quát trên đất Pháp. Đến năm 1701, tiền giấy «billets de monoye» chính-thức lưu-hành để cung-ứng nhu-cầu chiến-tranh thừa-kế ở Tây-ban-nha.


4.- TIỀN NHỰA
Hiện nay, một số quốc-gia trên thế-giới đã thực-thụ sử-dụng hoặc đang bắt đầu thí-nghiệm cho lưu-thông giới-hạn một loại «tiền nhựa». Đó là loại tiền giấy polymère mà Úc-đại-lợi là quốc-gia đầu tiên đã phát-minh và đang sử-dụng.
Từ năm 1967, Ngân-hàng Dự-trữ Úc-đại-lợi bắt đầu nghiên-cứu, ứng-dụng chất-liệu polymère vào công-nghệ in tiền. Năm 1988, Úc in thí-nghiệm trên giấy nền polymère. Năm 1992, Úc chính-thức phát-hành đồng tiền polymère đầu tiên trên thế-giới.
Tiền giấy polymère có những đặc-điểm: Có độ bền dai cơ-học cao (tay không, khó xé rách). Không thấm nước, nên tăng thêm độ bền, tăng thêm tuổi thọ của tờ tiền giấy. Giấy polymère được phủ một lớp vẹc-ni, nên không hút ẩm, giữ ẩm hay các chất bẩn khác. Do đó tiền polymère sạch hơn, ít gây ảnh-hưởng đến sức khoẻ người sử-dụng.
Theo thống-kê, trên thế-giới hiện nay đã có 23 quốc-gia sử-dụng công-nghệ in tiền giấy polymère. Trong đó, 3 nước đã sử-dụng toàn bộ hệ-thống tiền-tệ: Úc-đại-lợi, Tân-tây-lan và Lỗ-mã-ni. Một số nước, chỉ in tiền giấy polymère cho một vài mệnh-giá, như ở Việt-nam hiện nay chẳng hạn.


II.- TIỀN-TỆ VIỆT-NAM

Hệ-thống tiền-tệ Việt-nam, từ đồng tiền độc-lập được phát-hành dưới đời nhà Đinh cho đến ngày nay (vào năm 2007), đất nước đã trải qua bao nhiêu giai-đoạn lịch-sử thăng-trầm, với nhiều cuộc đổi thay chế-độ. Do đó, các loại tiền-tệ mặc dù vẫn giữ nguyên những vật-liệu chế-tạo là kim-loại và giấy, nhưng hình-dáng, cách-thức trình-bày và niên-hiệu… phải được đổi thay tùy theo từng giai-đoạn lịch-sử của nước nhà.


A.- CÁC GIAI-ĐOẠN LỊCH-SỬ

1.- Thời Vua Chúa Việt-nam (968-1945)
Trong suốt thời-gian nước nhà được độc-lập và tự-chủ dưới quyền cai-trị của vua chúa Việt-nam, kể từ đời nhà Đinh đến cuối đời nhà Nguyễn, các thứ tiền kim-loại đều được liên-tục phát-hành, ngay cả dưới thời Hồ Quý Ly, cũng cho đúc một loại tiền mỏng và nhỏ bằng kim-loại, mang niên-hiệu «Thánh-Nguyên» của Hồ Quý Ly mà hiện nay các nhà khảo-cổ đã phát-hiện được. Còn loại tiền giấy, chỉ xuất-hiện được 7 năm dưới triều-đại nhà Hồ, các vua chúa kế-tiếp về sau không còn phát-hành, mãi cho tới cuối đời nhà Nguyễn và trong thời-kỳ Pháp-thuộc, mới thấy tái xuất-hiện.
Tiền kim-loại Việt-nam, phỏng theo hệ-thống tiền kim-loại Trung-quốc, đều được đúc theo dáng tiền tròn lỗ vuông (trời tròn, đất vuông). Gờ lỗ và mép đều có viền nổi, để bảo-vệ bốn chữ trên mặt tiền cho khỏi bị mòn mờ. Phía lưng tiền, có khi đúc nổi một ký-hiệu nào đó, hoặc một chữ hay nhiều chữ đánh dấu địa-điểm đúc, triều-đại đúc và giá-trị đồng tiền.
Từ đời nhà Đinh (968-980) đến đời nhà Nguyễn (1802-1945), đã trải qua 13 triều-đại: nhà Đinh, nhà Tiền-Lê, nhà Lý, nhà Trần, nhà Hồ, nhà Hậu-Trần, nhà Lê, nhà Mạc, nhà Hậu-Lê (Lê trung-hưng), dòng dõi họ Trịnh, dòng dõi chúa Nguyễn, nhà Nguyễn Tây-Sơn, nhà Nguyễn. Mỗi triều-đại có một hay nhiều vị Vua. Mỗi vị Vua lại có một hay nhiều niên-hiệu. Và thông-thường, cứ mỗi niên-hiệu, nhà vua lại cho đúc một loại tiền. Xin đan-cử 3 triều-đại Đinh-Lê-Lý làm thí-dụ.
+ Nhà Đinh (968-980), vua Đinh Tiên Hoàng lấy niên-hiệu là «Thái-bình», vua đã cho đúc đồng Thái-binh Hưng-bảo.
+ Nhà Tiền-Lê (980-10090) có 3 vị vua: Vua Lê Đại Hành lấy 3 niên-hiệu là «Thiên-phúc», «Hưng-thống» và «Ứng-thiên». Nhưng qua các thư-tịch và di-vật đều cho biết chỉ có một loại tiền mang niên-hiệu «Thiên-thúc», đó là đồng Thiên-phúc Trấn-bảo.
+ Nhà Lý (1010-1225) có 9 vị vua, gồm 215 năm. Các vua triều Lý, hầu như mỗi đời đều có đúc tiền. Các nhà khảo-cổ đã tìm thấy những đồng: Thuận-thiên đại-bảo (Lý Thái Tổ), Minh-đạo thông-bảo và Càn-phù nguyên-bảo (Lý Thái Tông), Thiên-phù nguyên-bảo (Lý Nhân Tông), Thiên-thuận thông-bảo (Lý Thần Tông), Đại-định thông-bảo và Thiên-cảm thông-bảo (Lý Anh Tông), Thiên-tư thông-bảo (Lý Cao Tông). Cho tới nay, theo tài-liệu về khảo-cổ, thì chỉ trừ các đời vua Lý Thánh Tông, Lý Huệ Tông và Lý Chiêu Hoàng là không có đúc tiền.
Đến triều-đại Nhà Nguyễn (1802-1945). Sau khi phá tan thủy-quân Tây-Sơn ở cửa Nhật-lệ và thắng ở Trấn-Ninh, ngày 02.05.1802 Nguyễn Vương lên ngôi vua, xưng đế-hiệu là Gia-long, cho đúc các loại tiền «Gia-long Thông-bảo».
Các vua nhà Nguyễn: Gia-long, Minh-mạng, Thiệu-trị và Tự-đức ngoài việc đúc tiền kim-loại bằng đồng và kẽm có hình tròn lỗ vuông, còn đúc các loại tiền bằng bạc hay bằng vàng, mang hình-ảnh Long Vân, Nhật Nguyệt, Ngũ Phúc, Phú Thọ Đa Nam (chúc sống lâu, giàu sang, có nhiều con trai);  hoặc đúc các thoi bạc thoi vàng hình hộp chữ nhật. Giá-trị của thoi tiền tính theo quan, theo lạng và được in nổi trên thoi tiền.
Nhà Nguyễn làm vua được 13 đời, có thể chia ra làm 2 thời-kỳ tiêu-biểu. Đó là «thời-kỳ tự-chủ», từ 1802 đến 1885 và thời-kỳ bị «Pháp-quốc đô-hộ», từ 1885 đến 1945.
(tiếp kỳ tới)




mailto:info@danchua.de - Copyright © 2007 Dân Chúa Âu Châu - All rights reserved.