Trang Nhà |  Nguyệt San |  Lời Chúa  |  GĐ La Vang |  Hành Hương |  Lich CG 2014 |  Quỹ Từ Thiện |  Việt Sử |  Nối Kết |  Liên Lạc print  
  Dân Chúa
  Trang Thơ Dân Chúa
  Biến Cố Trong Tháng
  Văn Hóa Việt Nam
  Sức Khỏe Là Vàng
  Đi Vào Cuộc Đời
  Học Hỏi Để Sống Đạo
  Sinh hoạt Cộng Đoàn
  Chúc Mừng
  Phân ưu
  Quảng Cáo
  Tủ Sách Dân Chúa
  Đặt Mua Báo
  Bạn đọc viết
  Tìm Bài
  Impressum
0013107357 visits0013107357 visits0013107357 visits0013107357 visits0013107357 visits0013107357 visits0013107357 visits0013107357 visits0013107357 visits0013107357 visits
Trang NhàTin tức 2008Single-News

Chủ Đề
01-07-04 21:02 Age: 10 yrs

Chứng Nhân Đức Giêhôva

Category: Chủ Đề

BY: HÒA GIANG ĐỖ HỮU NGHIÊM TỔNG HỢP

PHONG TRÀO TÔN GIÁO MỚI HAY GIÁO PHÁI?
Theo quan điểm của một số nhà nghiên cứu, bất cứ tôn giáo nào phát sinh trong những thế kỷ gần đây có một số nét đặc trưng, như một chủ nghĩa có xu hướng chiết trung và/hay hỗn hợp, một lãnh đạo cho rằng mình có quyền lực đặc biệt, và có một khía cạnh hay đặc tính nào đó “phản văn hóa - counter-cultural” đều được xem là Tôn Giáo Mới. Được coi như ở bên ngoài trào lưu chính của xã hội, các Tôn Giáo Mới bên phương Tây cực kỳ khác biệt nhau: các phong trào Ấn giáo hay Phật Giáo Tây phương hóa (như phong trào Hare Krishna), những nhóm tự xưng mình là “khoa học” (như Khoa Luận Giáo - Scientology), và các tôn giáo thiên nhiên (xem Chủ thuyết Tân Ngoại Giáo). Bên phương Đông Tôn Giáo Mới gồm có phong trào Thái Bình Thiên Quốc thuộc thế kỷ XIX ở Trung Quốc (xem Phong trào Thái Bình) và phong trào Pháp Luân Công ở Trung Quốc ngày nay, Tenrikyo và PL Kyodan ở Nhật Bản, và Giáo hội Ch’ondogyo và Thống Nhất (Unifi-cation) ở Hàn quốc. Một số Tôn Giáo Mới tan biến và đi đến kết thúc thảm khốc; một số khác như giáo hội Mormon, cuối cùng một phần nào được tiếp nhận như đi vào trào lưu Kitôgiáo chính. Nhưng theo quan điểm của Giáo Hội Công Giáo, giáo thuyết mới nào có xuất xứ từ gốc gác xa hay gần của phong trào cải cách hay canh tân từ trong giáo hội chính thống, bắt nguồn từ Kinh Thánh Kitô giáo ở thế kỷ XVI. Như thế, những phong trào theo giáo thuyết thiên kỷ bao gồm nhiều xu hướng, chẳng hạn CNĐ Giêhôva có thể được xếp vào loại giáo phái.
 VÀI DÒNG LỊCH SỬ GIÁO PHÁI CNĐ GIÊHÔVA
CNĐ Giêhôva là thành viên của một phong trào tôn giáo tại Pittsburgh, Pa. (Pennsylvania, Hoa Kỳ), được Charles T. Russell (1852-1916) thành lập năm 1872. [Sinh ra tại Pittsburgh, ông được đào tạo và lớn lên trong giáo phái Hợp đoàn (Congregational)1) nhưng ông đã khước từ những giáo huấn của Giáo phái này, vì theo ông không thể dung hòa lòng thương xót của Chúa với ý tưởng về hỏa ngục. Chịu ảnh hưởng sâu đậm của các tín đồ Cơ Đốc Phục Lâm, ông chấp nhận giáo thuyết thiên kỷ. Ông thành lập Hiệp Hội Học Viên Kinh Thánh Quốc Tế năm 1872 (được đặt tên lại là CNĐ Giêhôva năm 1931). Ông loan truyền, giảng dậy rằng những ngày cuối cùng sẽ tới vào năm 1914, và Vương Quốc Đức Kitô trên trái đất sẽ bắt đầu sau một cuộc chiến tranh tàn bạo giữa chủ nghĩa tư bản và chủ nghĩa xã hội.
Năm 1884, ông sáng lập Hội Truyền Đạo Đơn và Kinh Thánh Tháp Canh, nay là một trong những nhà xuất bản lớn nhất trên thế giới. Các sách vở, sách nhỏ, và tạp chí định kỳ của ông được lưu hành rộng rãi, và có nhiều người cải giáo theo ông, cho dù lời tiên báo mang tính chất khải huyền của ông rõ ràng là không đúng, vì không xảy ra điều gì như ông tiên báo. Phong Trào này nguyên thủy được biết dưới danh xưng Hiệp Hội Học Viên Kinh Thánh Quốc Tế (international Bible Students Association), nhưng danh xưng này được người kế vị Russell là Joseph Franklin Rutherford (1869-1942) đổi thành Chứng Nhân.
Chứng nhân là nhóm người theo giáo thuyết thiên kỷ, mà niềm tin của họ cơ bản dựa trên những phần Kinh thánh có tính khải huyền, nhất là sách Tiên Tri Daniel trong Cựu Ước và Sách Khải Huyền của Thánh Gioan trong Tân Ước. Niềm tin vào thiên kỷ trong lời tiên báo của Đức Kitô (Khải Huyền, 20), nghĩa là một nghìn năm Đức Kitô thống trị trên trái đất, và một tôn giáo gắn kết chặt chẽ với niềm tin này. Trong thời gian 1000 năm, những kỳ vọng của con người cho một xã hội công chính thống trị trên trái đất sẽ được thực hiện; vào lúc chung cuộc, Satan sẽ được thảnh thơi hoành hành trong một thời gian để đánh lừa các quốc gia, dân tộc, nhưng cuối cùng nó sẽ bị đánh bại và mọi người chết sẽ được triệu tập để được chung thẩm.
Suốt kỷ nguyên Kitô, nhiều đợt biến đổi xã hội hay khủng hoảng liên tục diễn ra, dẫn đến một sự phục sinh trong chủ thuyết thiên kỷ; ngày nay giáo thuyết thiên kỷ liên kết đặc biệt với nhiều Giáo phái Tin Lành như Cơ Đốc Phục Lâm, CNĐ Giêhôva và tín đồ Mormons. Những người thuộc giáo phái CNĐ Giêhôva thường khước từ thi hành quân dịch hay không chịu chào cờ; những hành vi này khiến họ ở vào thế xung khắc trực tiếp với các chính phủ trên khắp thế giới.
Họ trở nên nổi tiếng vì thường mạnh dạn gõ của đến từng nhà truyền giảng đức tin của họ mà người ta có cảm tưởng họ có cử chỉ trơ trẽn, và họ từ chối không chịu truyền máu. Họ tin vào Kinh Thánh giúp họ được công chính hóa khi họ có tất cả những hành vi và niềm tin như thế của mình. Mục tiêu của họ là thiết lập Vương quốc của Thiên Chúa ngay trên trái đất này, và họ chủ trương rằng Đức Jêsu được mọi người tin chỉ là hữu thể thụ tạo đầu tiên của 2) Thiên Chúa hơn là một ngôi vị trong Thiên Chúa Ba Ngôi Vị theo chương trình thiết lập vương quốc này này. Trụ sở quốc gia của họ là ở tại Brooklyn, N.Y. Những tác phẩm xuất bản quan trọng của họ, Tháp Canh và Thức Tỉnh!, được phát hành bằng khoảng chừng 80 ngôn ngữ, trong đó có Việt ngữ.
TRUY TẦM NGUYÊN TỰ
Bắt nguồn từ tiếng Do Thái?, Giêhôva tức phiên âm Việt ngữ từ tiếng YAHVEH, một âm có bốn chữ (tetragrammaton), bốn phụ âm Do Thái - yod, he, vav, he - chuyển thành một loạt bộ chữ là: JHVH, JHWH, YHVH đều tượng trưng cho tên của Thiên Chúa. Theo truyền thống cổ đại và cách diễn đọc phụ âm, nhóm 4 chữ đó không phát âm được; Jehova hay Yahveh đều là cách xướng âm nào đó của danh Thiên Chúa.
Tập quán Do Thái này rất giống với danh xưng Cao Đài được các tín đồ Cao Đài Việt Nam 3) giải thích là Đấng không gọi được bằng tên hay không thể gọi tên, theo tập tục tôn trọng bậc sinh thành ra mình của văn hóa Á Đông hay sự cao trọng cực kỳ, mà không thể có tên nào cụ thể của con người diễn đạt cho xứng được, kiểu như “Đạo khả Đạo phi thường Đạo, Danh khả Danh phi thường Danh” trong Lão Giáo.
Chứng nhân: Theo luật pháp, miệt thị là có ý bất tuân phục hay bất kính công khai đối với một tòa án, chánh án hay cơ quan lập pháp. Một hành vi bất tuân phục trát lệnh của toà án có thể xử lý như một thái độ miệt thị hình sự hay dân sự; những chế tài đối với tội miệt thị dân sự không còn hiệu lực khi tuân thủ lệnh tòa. Một hành vi hay lời nói có tính lăng nhục tòa án hay can thiệp vào tiến trình công việc của tòa án làm thành tội miệt thị hình sự. Tội miệt thị hình sự vừa bị chế tài bằng hình phạt cũng như bị cưỡng chế thi hành. Tại Mỹ, Ủy Ban Quốc Hội có thể buộc nhân chứng ra tòa; bất kỳ nhân chứng nào không ra tòa hay ngăn cản Ủy Ban trong quá trình thi thành quyền lực có thể là không coi là miệt thị. Nhưng các nhân chứng được điều tu chính thứ 5 chống lại hành vi tự mình nhận hình tội cưỡng chế.
VẤN ĐỀ ĐẶT RA ĐỐI VỚI GIÁO PHÁI CNĐ GIÊHÔVA
CNĐ Giêhôva vẫn là một trong những giáo phái có nhiều tranh cãi, từ khi C.T. Russell và Những Học Viên Kinh Thánh Quốc Tế bắt đầu xuất bản tờ Tháp Canh năm 1879. Theo cách nhìn của Giáo Phái này, chính họ so sánh cuộc tranh cãi này giống như ban đầu Đức Jêsu đốt lên ngọn lửa tranh cãi trong chính giữa hệ thống tôn giáo Do Thái thời đó. Chứng Nhân Giêhôva cũng đã gây ra những rung động trong các giáo hội thuộc Cộng Đoàn Kitô giáo. Nhiều giáo đoàn Kitô giáo đã coi họ là thành phần của Babylon, kẻ đem đến Mặc Khải mới và cổ vũ những giáo điều khác biệt về Thiên Chúa Ba Ngôi, Hỏa ngục và Linh Hồn bất tử. Những chứng nhân ban đầu này nhấn mạnh đến tầm quan trọng của danh xưng Đức Giêhôva và giải thích là Thiên Chúa có chủ đích biến trái đất thành một thiên đàng dưới vương triều của Đức Kitô.
Vào cuối Thế Chiến I, Hiệp Hội Truyền Đạo Đơn và Kinh Thánh Tháp Canh (HTC) tuyên truyền rất rộng lớn và mạnh mẽ hệ thống đức tin mới của họ và họ từng là đối tượng khiến cho nhiều giới xã hội - hàng ngũ giáo sĩ Kitô giáo và chính phủ các nước chú ý. Lãnh đạo thứ hai trong phong trào CNĐ Giêhôva, MS JF Rutherford, và bảy viên chức lãnh đạo khác của HTC bị giới hữu trách nhà nước bắt đem lên xe lửa rồi chở vào nhà tù vì họ bị cáo giác là xúi dục tín đồ CNĐ Giêhôva chống lại đường lối của chính phủ, khi họ tuyên truyền đứng trung lập với chính phủ và trong thực tế bênh vực các tín đồ của họ không đi quân dịch, về sau họ được tha bổng. Cách truyền đạo này theo phán đoán của nhiều người, có tính cách mị dân để lôi cuốn nhiều thanh niên gia nhập Giáo Phái này được yên ổn trốn thi hành quân dịch như một nghĩa vụ công dân thông thường.
Tại Đức, các tín đồ CNĐ Giêhôva đã từng gây nhiều khó khăn cho phe Quốc xã. Giống như nhiều tổ chức khác, Giáo Phái này có lập trường chống lại những hành vi bạo hành của Đảng Quốc xã, và một số tín đồ CNĐ Giêhôva cũng còn được lưu trữ như chứng tích bạo hành của Quốc Xã Đức cho đến nay tại Viện Bảo Tàng Thiêu Xác và Tam Giác Tím (Purple Triangle).
Tại Mỹ trong các thập niên 30 và 40, CNĐ Giêhôva có nhiều hành vi bạo động có tính quần chúng khiến chính quyền phải ban hành nhiều biện pháp để ngăn ngừa giáo phái này giảng thuyết công khai tràn lan vô trật tự. Tòa Án tối cao cũng ra nhiều luật lệ để hạn chế Giáo Phái này lạm dụng quyền tự do tôn giáo.
Trong những thập niên sau Thế Chiến II, CNĐ Giêhôva cũng đưa ra Bản Phiên Dịch Kinh Thánh Thế Giới Mới. Bản dịch Kinh Thánh đó có những quan điểm lệch lạc so với đường lối và niềm tin chung của khối Kitô giáo. Vì thế Bản dịch Kinh Thánh này là một trọng tâm tranh biện hăng hái cho nhiều giới: tín đồ CNĐ Giêhôva khước từ, không chịu truyền máu cho người khác và ngược lại không chấp nhận người khác truyền máu cho họ vì lý do tôn giáo; điều xác tín này cũng gây ra rất nhiều phiền toái cho việc điều trị trong các bệnh viện.
Họ còn giảng dậy rằng chỉ có 144.000 người Kitô hữu đã xức dầu được vào Trời để cùng thống trị với Đấng Christ, trong khi số nhân loại còn lại chỉ có cơ hội sống mãi trong cõi Thiên Đàng ngay trên trái đất này. Đấy cũng chính là những điều giảng dậy gây nhiều tranh cãi trong mọi giới. Mới đây, giáo lý của Tháp Canh liên quan đến năm 1914 mà Giáo Phái coi là khởi điểm ngày thế mạt của Đức Jêsu, và sự thay đổi liên quan đến thế hệ nhân loại không chết trước khi có cuộc chiến tranh Armageddon, 4) đã được một số tín đồ CNĐ Giêhôva đặt thành vấn đề. Một cách tương tự, NGO (Tổ Chức Phi Chính Phủ) của Tháp Canh là một thành phần liên kết với Liên Hiệp Quốc, cũng như gương mù chung quanh việc lạm dụng trẻ em và tổ chức Sielntlambs gồm có nhiều tín đồ CNĐ Giêhôva bị lợi dụng đã khiến nhiều người nghi vấn về giá trị đức tin của họ. TC và CNĐ Giêhôva không muốn đưa ra thêm những phát hiện tiên báo vào những khó khăn về đức tin, mà có tham vọng chiếu sáng vào Kinh Thánh liên quan đến việc sáng tạo sau cùng một Trật Tự Thế Giới mới do Satan dựng nên và ảnh hưởng cuối cùng sẽ xảy ra trên thế giới, HTC và CNĐ Giêhôva.
Hội CNĐ Giêhôva sử dụng nhiều kỹ thuật xã hội học và tâm lý nhằm giữ lại những tín đồ cũ và chiêu mộ những tín đồ mới. Những tác phẩm xuất bản hay những người được huấn luyện đặc biệt để kiểm soát, khống chế tinh thần của những tín đồ mới và biến họ thành những lớp người xâm nhập mới. Người ta sử dùng các quyền lợi cũng như kỹ thuật đặc biệt để giữ chân, không cho người đã gia nhập giáo phái dễ dàng từ bỏ. CNĐ Giêhôva đã áp dụng nhiều phương pháp tác động đến những người mới tuyển mộ và thành viên cũ của mình. Hiệp hội, các chi hội và gia đình tất cả đều sử dụng các mức độ ảnh hưởng khác nhau để hướng dẫn, đúng hay sai, cách ứng xử của dân chúng.
Nhà tâm lý học Philip Zimbardo đã viết: “Các phương pháp tín ngưỡng tuyển mộ, nhồi sọ và ảnh hưởng các nhân viên của họ không phải là những hình thức kiểm soát tinh thần hiếm thấy, mà cả những sách lược có tính trần tục thực dụng mãnh liệt hơn nữa thường ngày được thực hiện bởi những người chuyên nghiệp đồng tình và những tác nhân xã hội có ảnh hưởng” (1997:1).
Một vấn đề tự nhiên là luận điểm này gợi ra làm thế nào người ta truyền bá Tin Mừng hữu hiệu cho người CNĐ Giêhôva? Việc truyền bá Tin lành thì không dễâ dàng. Một người bạn thân của tôi đã cảnh báo tôi “Những người CNĐ Giêhôva là những nhân khó đập vỡ”. Những nhà kinh nghiệm về tín ngưỡng, các mục sư, các nhà biện giáo Kitô và những thành viên cũ tất cả đều gợi ý nhiều kỹ thuật truyền bá Tin Mừng cho người CNĐ Giêhôva. Qui luật chủ chốt là người ta càng gắn sâu vào CNĐ Giêhôva, thì càng khó cho người ấy cải đạo hay từ bỏ đạo. Nên tín điệp ở đây là ngừa bệnh hơn chữa bệnh. Tuy nhiên những người tin đạo lâu năm vẫn bỏ và người ta không bao giờ biết họ đang nói với một thành viên ngầm ngầm đang có những nỗi hoài nghi của họ. Nếu các thành viên quyết định tâm sự những hoài nghi của họ cho một Kitô hữu, họ sẽ cần nhiều nâng đỡ về cảm xúc và sự thân tín.
NHỮNG KHÓ KHĂN CỦA CÁC TÍN ĐỒ KITÔ TRƯỚC LÀN SÓNG CNĐ GIÊHÔVA
 Như ta đã nói trên, hầu như ai cũng biết về cách họ đến từng cửa nhà, chinh phục tín đồ. Tổ chức họ đại diện, được biết là Hội Truyền Đạo Đơn và Kinh Thánh Tháp Canh (viết tắt là TC), nhấn mạnh đến lời tiên báo về thời gian kết thúc và nhiều lần đã tiên báo thời gian chấm dứt. Nhưng tất cả những tiên báo đều đã không xảy ra, chẳng hạn năm 1975 là thí dụ cuối cùng. Hội TC kiểm tra chặt chẽ các tín đồ CNĐ Giêhôva và cấm họ không được tham gia vào nhiều loại hoạt động thông thường như tiếp nhận truyền máu, mừng sinh nhật hay các ngày nghỉ (kể cả Lễ Giáng Sinh, Phục Sinh, và Ngày Hiền Mẫu), bầu cử, chào cờ, và quân vụ. Qua những hạn chế như thế, Hội TC tạo nên một bức tường cách ly giữa các tín đồ CNĐ Giêhôva và cộng đồng xã hội. Họ cũng ngừa không cho các thành viên của mình chất vấn về uy quyền và giáo điều của CNĐ Giêhôva. Đối với ai muốn hỏi han và nghi ngờ về những giáo huấn của Hội TC, thì kết cuộc là không ai trong CNĐ Giêhôva dám kết bạn với họ.
Hội Truyền Đạo Đơn và Kinh Thánh Tháp Canh dám cho mình là tổ chức độc nhất mà ngày nay Thiên Chúa đang dùng để giảng dậy Sự Thật và nói thay cho Ngài. Theo Hội này, tất cả những người không phải là CNĐ Giêhôva sẽ bị tiêu diệt tại Armageddon; theo họ, một biến cố phán xét của Thiên Chúa sẽ tới gần kề đâu đó. Hội Tháp Canh in hơn 14 triệu bản tạp chí của mình mỗi tuần, và có hơn bốn triệu thành viên CNĐ Giêhôva loan truyền giáo điều của mình ở 200 quốc gia.
Dưới đây là một số sự kiện chính yếu mà mọi người nên biết về CNĐ Giêhôva. Ngay nếu như bạn là một thành viên CNĐ Giêhôva, thì có nhiều điều mà bạn chưa biết đến.
Khi phải đối chất với giáo điều CNĐ Giêhôva, thì hầu hết các Kitô hữu vấp vào ngay những luận lý thần học phức tạp với họ. Điều đó thường không có hiệu quả để cải đạo. Về chuyện này có ba lý do chính:
Trước hết, các tín đồ CN Đức Giêhôva được huấn huyện nhiều về khoa hùng biện, nên hiểu biết nhiều cách lý luận và phản lý luận, và những kỹ xảo đánh lạc hướng một cách khéo léo.
Thứ hai, những Kitô hữu, thường không được chuẩn bị kỹ lưỡng, lại thiếu hiểu biết vững chắc về giáo lý Kitô giáo, về giáo điều và lý luận CN Đức Giêhôva, hay về những lý luận phản biện có tính biện giáo.
Thứ ba, ngay cả lúc thắng thế trong lý luận, các tín đồ CNĐ Giêhôva dường như không thay đổi tinh thần của họ. Họ có thể đoạt thắng lợi trong một trận đánh nhưng thất bại trong toàn cuộc chiến tranh. Một số tác giả như David Reed (1996), gợi ý cho rằng phương pháp tốt nhất để truyền giảng cho CNĐ Giêhôva là chỉ cho họ thấy những mâu thuẫn qua kinh sách của họ. Điều này có thể khiến ta làm hao tổn nhiều tài nguyên tiêu phí nhiều thời gian. Phương pháp này là một nỗ lực có hiệu quả nhất đối với những tín đồ mới gia nhập CNĐ Giêhôva.
Randall Watters cho rằng một nỗ lực có hiệu quả cho việc truyền giảng Tin Mừng là tiến hành những cuộc đối thoại bất ngờ với những tín đồ CNĐ Giêhôva và những kỹ thuật khống chế tinh thần mà các tín ngưỡng khác sử dụng, như những tín đồ Mormon, và giúp cho các tín đồ CNĐ Giêhôva tự thấy nơi chính mình có những đặc điểm tín ngưỡng tương tự như thế.
Dù sử dụng bất cứ phương pháp chiến thuật nào, điều đặc biệt quan trọng là người ta phải luôn cầu nguyện cho các tín đồ CNĐ Giêhôva. Cuối cùng Thần Linh là Đấng hoán cải các tâm hồn. Chính Thánh Linh là vị thuyết phục trái tim con người, soi sáng trí tuệ uốn nắn con người, và tác động lên các hoàn cảnh của con người. Bất hạnh thay, nhiều tín đồ CNĐ Giêhôva sẽ không bao giờ đến với Đức Kitô! Tuy nhiên, nếu các tín đồ Kitô không cố gắng tìm đến với các anh chị em tín đồ CNĐ Giêhôva, thì nhiều người hơn nữa sẽ đi theo con đường lầm lạc.
TỪ NHÀ NÀY ĐẾN NHÀ KIA: CHỨNG TỪ CỦA MỘT TÍN ĐỒ KITÔ
Hội TC đã cho rằng điều cần thiết cho tất cả các Kitô hữu là chia phần công việc đi đến từng nhà để lãnh nhận ơn cứu độ. Một khi tôi đã biết rằng Tổ chức Tháp Canh đã diễn dịch sai lạc nhiều phần kinh thánh khác, theo nghiên cứu riêng của tôi, tôi thấy rằng trong giáo huấn họ cũng mắc những sai lầm như thế. Khi nghiên cứu, tôi thấy Hội TC sẽ dùng đoạn viết kinh thánh trong Sách Công Vụ Sứ Đồ (5:42 và 20:20) để làm nền tảng cho giáo huấn cơ bản: thành viên CNĐ Giêhôva phải thi hành công việc đi đến từng nhà và có như thế thành viên CNĐ Giêhôva mới là người tín đồ Kitô tốt lành. Kinh Thánh nói: “Trong khi tôi (Phaolô) đã nói mà không giữ lại bất cứ điều gì có ích lợi và giảng dậy hết cho anh em một cách công khai và từ nhà này đến nhà kia”.
Rõ ràng họ đã giản lược khi hiểu từ nhà này đến nhà kia, nghĩa là từ cửa này đến cửa kia, nói cách khác là đi liên tục từ cửa nhà này đến cửa nhà kia. Ta nhận thấy hai điều xảy đến khi khảo sát kỹ lưỡng văn bản Hy Lạp về vấn đề này chẳng hạn trong Sách Công Vụ Sứ Đồ, 2:46 (Chương 2, câu 46) nói rằng: “Và cứ ngày ngày họ đồng lòng tham dự liên tục nơi đền thờ, và họ dùng bữa nơi các tư gia và rất hân hoan và thật tâm chia phần thực phẩm”. Rồi xem đến Công Vụ Sứ Đồ, 5:42 nói rằng: “Và mỗi ngày trong đền thờ và từ nhà này đến nhà kia họ tiếp tục mà không sao nhãng việc giảng dậy và tuyên ngôn Tin Mừng về Đức Jêsu Kitô”
Điều tôi thấy là câu duy nhất (kat’oikon) phiên dịch “từ nhà đến nhà” trong New World Translation - Bản Dịch Mới (NWT) lấy từ trong Công Vụ Sứ Đồ (5:42), cũng thấy có trong 2:46. Trong khi khảo sát kỹ lưỡng văn bản Vương Quốc (Anh), bạn có thể thấy cùng một nhóm từ, có cùng một ý nghĩa phân bố (kata) trong cả hai nhóm từ. Tuy nhiên, trong Công Vụ Sứ Đồ (2:46), cách diễn dịch không phải là “từ nhà đến nhà”, mà là “trong các tư gia”. Thế rồi cũng nhóm từ này được dùng lại trong Công Vụ Sứ Đồ (20:20) và NWT lại diễn dịch là “từ nhà đến nhà”.
Khi nghiên cứu những bản dịch Kinh Thánh khác, điều hiển nhiên là đoạn văn này bao hàm ý nghĩa là giáo huấn được rút ra ở đây là không phải đi “từ nhà này sang nhà kia”, mà “vào trong các tư gia” có người mà họ đã quen biết và tiếp tục giảng dậy cho họ về Đức Kitô. Dường như tôi thấy Hội này cố ý hiểu một ý nghĩa không thực sự có ở đó. Cũng nghiên cứu thêm về sứ vụ của Đức Jêsu, người ta không bao giờ thấy Ngài đi từ nhà này sang nhà kia hay đi từ cửa này đến cửa kia. Ngài thuyết giáo và giảng dậy trong những nơi công cộng hay khi người ta đến gần Ngài. Đối với sứ vụ của Phaolô, người ta cũng thấy như thế: Phaolô không bao giờ đi từ nhà này đến nhà kia theo ý nghĩa như cách diễn dịch của Hội khi nói về ông như thế. Kinh Thánh nói rằng ông đã đi vào các tư gia mà giảng dậy. Tư gia của những người đã là môn đệ của Đức Kitô.
Tôi hiểu rằng với tư cách thành viên Giáo Hội, một Kitô hữu phải tuyên xưng niềm tin của Tin Mừng và loan báo Tin Mừng cho những người khác. Tuy nhiên, Hội đã tự ý bảo cho ta biết cách chúng ta phải làm điều đó như thế nào, thì chuyện đó xem ra lại khác xa. Điều quan trọng ở đây không phải là phương pháp nhưng là hiệu quả tín điệp loan truyền. Cuộc nghiên cứu cũng cho thấy có một số ít người đã trở nên CNĐ Giêhôva bằng công việc đi từ nhà này sang nhà kia, còn hầu hết là qua gia đình, bạn bè trong công việc hay ngay cả trong việc làm chứng cho đạo, người ta không theo công thức nào cả. Hội đã đặt toàn bộ hệ thống tín ngưỡng trên nền tảng hoạt động thuyết giáo này, vì nếu bạn không đi từ nhà này đến nhà kia, bạn mất hết các đặc quyền, mất hết địa vị, và nói chung những người khác của cộng đoàn coi bạn là yếu đuối. Dường như công việc đi “từ nhà đến nhà” được sử dụng để cưỡng chế lòng trung hậu.
Bản thân tôi không đồng tình với điều đó, vì lòng trung hậu của chúng ta phải đặt nền tảng trên tình yêu Thiên Chúa, và ý chí tự nguyện chấp nhận ơn cứu chuộc của Đức Kitô. Điều rắc rối ở đây rõ ràng là Hội đã lạm dụng Kinh Thánh, để đem vào đó một điều không đặt nền tảng trên Sự Thật. Điều này khiến tôi bối rối, vì nếu làm như thế, thì họ đã xuyên tạc ý nghĩa Kinh Thánh nguyên thủy. Như đã nói trên họ tự cho rằng họ không phải là những phát ngôn giả dối, như chứng tỏ trong Tháp Canh ngày 15.12.1962. Trong khi họ cho rằng mình không dối trá, thì họ cũng cho rằng họ không được linh ứng. Nếu đúng như thế, làm sao họ có thể là một người phát ngôn đích thật của Thiên Chúa. Nếu bạn nghiên cứu Kinh Thánh, bạn sẽ thấy rằng tất cả những người phát ngôn đích thật đều được Thiên Chúa linh ứng. Chỉ có sự linh ứng này mới khiến họ trở nên thật và khiến họ có khả năng phát ngôn chính xác.
KẾT LUẬN
Suốt 112 năm qua, các thành viên CNĐ Giêhôva đã đưa ra bao nhiêu tiên báo về tương lai hầu hết liên quan đến ngày tận thế. Năm 1799, 1874, 1914, 1915, 1918 & 1975 đã có những chuyện gì nếu như những tiên báo của họ là đúng; thế nhưng đã không có gì. Ngoài ra người ta có thể thấy từ những lời họ nói trên đây, họ cho rằng họ có một tri thức đặc biệt về những biến cố tương lai, một tri thức của Thiên Chúa. Tuy nhiên đã không có gì xảy ra, theo từng lời tiên báo của họ đã nói.
Dayton, ngày 19.06.04.VII.
Đỗ Hữu Nghiêm tổng hợp trên mạng
 
Chú thích:
1) Phong trào phát sinh giữa các giáo hội Tin Lành Anh vào cuối thế kỷ và đầu thế kỷ 17. Nó phát triển như một chi phái của Thanh giáo (Puritanism) và nhấn mạnh đến quyền lợi và bổn phận của mỗi chi hội tự quản độc lập với quyền uy con người cấp cao hơn. Ở Mỹ, đầu tiên các tín đồ Thanh giáo đã thiết lập nhiều chi hội có ảnh hưởng lớn ở lãnh địa Plymouth. Giao Ước Nửa Đường (1662) nới lỏng những đòi hỏi cho những ai muốn làm thành viên của giáo hội, và cuộc Đại Thức Tỉnh đã đưa Giáo Phái Hợp Đoàn Mỹ đi xa nguồn gốc Calvin của nó. Nhiều nhà thờ đi theo xu hướng Thống Nhất (Unitarian). Nói chung, những tín đồ Hợp Đoàn thường tránh nói đến tín điều và chú trọng giảng dậy về các nhiệm tích, vì Giáo Phái này chỉ chấp nhận phép Rửa và Thánh Thể. Những tín đồ Hợp Đoàn nay là thành viên thuộc về Giáo Hội Cải Cách Thống Nhất. Hầu hết các tín đồ Hợp Đoàn nay thuộc về Giáo Hội Đấng Christ Thống Nhất. Tín đồ Báp tít, Đồ Đệ Đấng Christ, và các giáo hội Thống Nhất Toàn Cầu Unitarian cũng thực hành tôn chỉ hợp đoàn (Baptist, Disciples of Christ, and Unitarian Universalist).
2) Dị thuyết Arius (Arianism). Dị thuyết Kitô giáo cho rằng Đức Jêsu không phải là Thiên Chúa mà là một hữu thể thu tạo. Theo vị linh mục chính xứ Arius ở Alexandria, thế kỷ IV, chỉ một mình Thiên Chúa là không thay đổi, hằng hữu và tự hữu, và Chúa Con không phải là Thiên Chúa, mà là một thụ tạo vật có một khởi đầu. Công Đồng Nicea (325) kết án Arius và tuyên bố Chúa Con có cùng một bản tính với Chúa Cha. Dị thuyết Arius được nhiều người bênh vực trong 50 năm sau đó, nhưng cuối cùng tan rã. Công Đồng Constantinople chấp nhận tín điều Nicea và bác bỏ dị thuyết Arius. Dị thuyết tiếp tục trong các bộ tộc Germanic suốt thế kỷ VII, và nhiều niềm tin tương tự được duy trì cho đến nay trong Giáo Phái CNĐ Giêhôva và trong một số người là thành viên của giáo thuyết Unitarian.
3) Theo tập quán cổ truyền ở Đồng Bằng Sông Hồng, khi còn độc thân người ta gọi tên cha mẹ đặt cho, gọi là tên tục; khi dã lâp gia đình nhưng còn son sẻ chưa có con, thì người ta thường gọi tên người chồng thay cho cả tên vợ - anh chị Thanh, ông bà Thanh,... - nhưng khi có con đầu tiên, dù trai hay gái, người ta không gọi tên tục của cha hay mẹ, mà gọi cha mẹ bằng tên của người con đầu lòng.
4) Trong Tân Ước, nơi mà các vua địa cầu dưới quyền của ma quỉ sẽ giao chiến với các lực lượng của Thiên Chúa vào lúc chấm dứt của lịch sử. Armageddon được nói đến chỉ ở trong Khải Huyền cho Gioan. Tên có nghĩa là “Núi Megiddo”, một điều nhắc nhở đến thành phố Megiddo. Có một tầm chiến lược quan trọng tại Palestine. Những tham chiếu khác của Kinh Thánh gợi ý Jêrusalem như là nơi chiến trận. Megiddo, Thành phố, Palestine cổ xưa, ở Bắc Israel ngày nay. Nó có một vị trí chiến lược vì nằm ở giao điểm các đường quân sự và thương mại: nó cũng nổi tiếng là một chiến trường và người ta nghĩ đó là Armageddon trong Kinh Thánh. Thành phố đầu tiên được xây dung từ đầu thiên kỷ thứ IV trước CN. Vua Ai Cập Thutmose III đánh chiếm khoảng năm 1468 trước CN. Sau đó Thành phố này sang tay người Do Thái, và vua Solomon đã xây lại làm một trung tâm quân sự. Đại tướng Anh Edmund H.H. Allenby đánh bại người Thổ gần địa cảnh này năm 1918.




mailto:info@danchua.de - Copyright © 2007 Dân Chúa Âu Châu - All rights reserved.