Trang Nhà |  Nguyệt San |  Lời Chúa  |  GĐ La Vang |  Hành Hương |  Lich CG 2014 |  Quỹ Từ Thiện |  Việt Sử |  Nối Kết |  Liên Lạc print  
  Dân Chúa
  Trang Thơ Dân Chúa
  Biến Cố Trong Tháng
  Văn Hóa Việt Nam
  Sức Khỏe Là Vàng
  Đi Vào Cuộc Đời
  Học Hỏi Để Sống Đạo
  Sinh hoạt Cộng Đoàn
  Chúc Mừng
  Phân ưu
  Quảng Cáo
  Tủ Sách Dân Chúa
  Đặt Mua Báo
  Bạn đọc viết
  Tìm Bài
  Impressum
0012673465 visits0012673465 visits0012673465 visits0012673465 visits0012673465 visits0012673465 visits0012673465 visits0012673465 visits0012673465 visits0012673465 visits
Trang NhàTin tức 2008Single-News

Văn Hóa & Xã Hội
03-12-05 14:38 Age: 9 yrs

TÌM HIỂU CA DAO, TỤC NGỮ CỦA DÂN TỘC VIỆT NAM

Category: Văn Hóa & Xã Hội, Hộp Thư Dân Chúa, Y Khoa, Trương Mục Tình Thương, Đi Vào Cuộc Đời, Chuyện Buồn Vui, Thơ

BY: HOÀNG THẠCH

Vào đề
Hõi cô tát nước bên đường,
Sao cô múc ánh trăng vàng đổ đi?

Trên đây là hai câu thơ của Bàng Bá Lân mà người ta coi như là hai câu ca dao đã đi sâu vào tâm hồn người dân VN qua bao năm tháng. Hai câu thơ mở đầu cho một lời tán tỉnh nhẹ nhàng trước phong cảnh về đêm của đôi trai gái. Trăng sáng tỏ ẩn mình dưới giòng sông xanh tỏa ánh lung linh. Trên bờ đêø, cô thôn nữ yêu kiều đang nhịp nhàng múc từng gầu nước đổ vào ruộng. Đôi lời bóng gió của anh trai làng không mang ý nghĩa chê bai mà chỉ là cách mở đầu câu chuyện làm quen nơi thôn giã. Nếu cô gái thôn trang có tâm hồn dân ca một chút chắc hẳn cô sẽ nở nụ cười tươi và hóm hỉnh đáp lại:

Nếu không đổ ánh trăng đi,
Ruộng khô lúa lép lấy gì nuôi anh?

Đấy, kho tàng văn chương bình dân của dân tộc VN nó tự phát, tình tự và giầu nghĩa biết bao. Từ những câu ca dao quen thuộc được truyền khẩu hay ghi trong các sách vở qua hàng thế kỷ, người ta có thể nói ca dao, tục ngữ của dân tộc ta có lẽ đã xuất hiện ngay từ thời kỳ nguyên tổ Hồng Bàng (2879-258 trước CN) và tiếp tục lưu truyền cho các thế hệ sau, tới ngày nay và còn tiếp mãi.
Để đi sâu vào kho tàng văn chương bình dân, chúng tôi xin trình bày các điểm dưới đây:

I-Nguồn gốc Ca Dao
Thực tế, người ta không thể biết một cách chính xác lịch sử xuất phát của các câu ca dao tục ngữ. Chúng xuất hiện từ đâu và vào thời điểm nào? Khi nghiên cứu về lịch sử văn học Trung Hoa, mà nền văn học cổ của nước ta đã chịu ảnh hưởng một phần hay toàn phần, người ta thấy vào thời Nhà Chu (1122-256 trước CN) các Vua chúa thường đi du ngoạn các nước chư hầu và sai các quan tìm hiểu những bài ca dao của dân chúng ở từng địa phương. Từ những câu ca dao, nhàVua có thể hiểu được tâm tình và thái độ của dân chúng, không chỉ trong cách cư xử đối với nhau mà ẩn chứa cả thái độ cung kính hay trách móc đối với Triều đình. Chính vì quan tâm đến đời sống và tâm tư tình cảm của dân gian mà Trung Hoa đã có một bộ văn học sử nổi danh là Kinh Thi của Khổng Tử. Kinh Thi không hẳn bao gồm toàn bộ các câu ca dao của dân tộc Trung Hoa; nhưng có thể được coi là tài liệu quan trọng nhất để nghiên cứu và đối chiếu với sự phát nguồn ca dao, tục ngữ của dân tộc VN. Kinh Thi của Khổng Tử là bộ sách chép những bài ca, bài dao từ thời thượng cổ đến đời vua Bình Vương Nhà Chu.

Qua Kinh Thi người ta được biết: Ca là các câu, các bài hát có điệu có vần được dùng trong việc tế tự hay hiếu hỉ. Dao là lời hát truyền khẩu của dân gian ở thôn dã. Như vậy Ca Dao là sự kết hợp bằng văn thơ truyền khẩu các sinh hoạt văn hóa, chính trị và xã hội của mọi giai cấp trong một nước.
Các Loại Ca Dao
Phong dao: Phong, ngoài ý nghĩa lan truyền nhanh như gió, còn có nghĩa là Phong tục, vì qua ca dao người ta có thể biết tình cảm, thói quen hay tập quán của một địa phương, một giới hay một triều đại xưa hoặc một chế độ ngày nay.
Đồng Dao là bài hát dành cho trẻ em (nhi đồng ca).
Dân Dao là câu hát, câu hò bình dân, xuất hiện từ phong tục, đời sống và tâm lý dân chúng.
Cuối cùng, một danh từ có vẻ như là câu nói tắt của hai chữ "tục ngữ - ca dao":
Tục Dao là câu ca, tiếng hát, lời khuyên có liên quan tới phong thục.
Tục Ngữ
Thường người ta quen nói Ca Dao, Tục Ngữ đi liền. Nhưng thực tế hai chữ này có chút khác biệt và phải tinh tế lắm người ta mới phân biệt được. Tục: thói quen thành lề lối hay lề luật. Ngữ: lời nói. Như vậy Tục Ngữ có nghĩa là những lời nói quen thuộc trở thành lối nói có ý nghĩa vềthói đới, luân lý và đạo đức của một dân tộc. Tục Ngữ có nhiều loại khác nhau như:
Ngạn ngữ là lời nói ngắn gọn nói về các sinh hoạt của con người và được truyền lại.
Thành ngữ là câu nói có sẵn, được dùng để diện tả một ý nghĩ, lời khuyên hay một trạng thái của con người.
Sấm ngữ hay sấm ngôn là lời tiên tri báo trước một việc có thể xẩy ra.
Mê ngữ là câu đố.
Lý ngữ là lời phải trái.
Phương ngôn là tục ngữ riêng của một địa phương.
Cách ngôn là câu nói có ý nghĩa đáng làm mẫu mực cho người đời bắt chước.
Châm ngôn: Lời khuyên răn đặt cho có vần điệu để dễ nhớ
Một số câu tục ngữ điển hình:
Phép vua thua lệ làng.
Dốt đặc cán mai..
Của người Bố Tát, của ta lạt buộc.
Ăn quả nhớ kẻ trồng cây.
Một câu nhịn là chín câu lành.
Đối với VN ngày xưa thì giai cấp sĩ phu chuyên trau dồi kinh sử Hán học, vì vào thời kỳ đó nước VN bị quân Tàu đô hộ. Từ sách vở của Tàu, các nho sinh, nho gia VN đã học hỏi và dùng nhiều điển tích cho bài thơ, câu văn hay lời nói của mình. Người nông dân VN không có học, không biết đọc biết viết, nhưng với tư chất thông minh tự nhiên họ đã dùng miệng lưỡi mình để hát lên những câu ca dao tuy ngắn, nhưng không phải không có nhạc điệu như trong âm nhạc. Họ cất cao giọng một cách tự nhiên và được lan truyền trong thôn xóm, thị thành và mãi cho tới ngày nay.
II- Ca Dao, Tục Ngữ Xuất Hiện Trong Mọi Hoàn Cảnh
Từ thôn quê tới tỉnh thành, từ đồng bằng tới cao nguyên, từ giai cấp bình dân tới văn nhân, thi sĩ, Ca Dao xuất hiện dưới mọi hình thức và rất đa dạng. Ca Dao cũng có khi diễn tả đặc trưng của một địa danh như:
Gió đưa cành trúc la đà,
Tiếng chuông Thiên-Mụ canh gà Thọ Xương.

Có lúc nó nhẹ nhàng thanh thoát như: ăn xứ Bắc, mặc xứ Kinh; đôi khi chát chúa, vỗ mặt như: bạc đầu hãy còn dại. Có nơi nó diễu cợt: ba đồng một mớ đàn ông; lắm chỗ nó lên án gắt gao: cõng rắn cắn gà nhà. Không dừng tại đó, ca dao còn diễn tả tâm tình lả lơi như: càng già càng dẻo càng dai; lắm lúc nó lại có vẻ đôi co như: có đi có lại mới toại lòng nhau.
Khi không mê tín người ta quen nói: bói ra ma, quét nhà ra rác; lúc dị đoan người ta lại tin: bốn chín chửa qua, năm ba đã tới. Khi anh em trong nhà còn thương yêu ngọt bùi, người ta luôn đề cao câu: anh em như thể chân tay; nhưng đến lúc hững hờ người ta không ngần ngại nói toạc móng heo: đèn nhà ai nấy rạng.
Cha mẹ nào lại không cho con lời khuyên: trai thì trung hiếu làm đầu; gái thì tiết hạnh làm câu sửa mình. Để chọn cho con mình một đối tượng tình yêu, cha mẹ cũng hay dựa vào kinh nghiệm: đàn ông rộng miệng thì sang; đàn bà rộng miệng tan hoang cửa nhà. Xa hơn nữa, muốn chọn dâu con nhà đạo đức, người ta thường khuyên: lấy vợ xem tông, và muốn tránh cảnh người chồng trói gà không chặt, người ta cũng dặn dò: lấy chồng xem giống.
Sống ở đời ai mà không có dịp chứng kiến những cảnh vui buồn lẫn lộn? Lúc giầu sang thì Phú quí sinh lễ nghĩa; khi nghèo nàn lại: bán vợ, đợ con. Trở thành gia thất rồi, nhưng lòng người có khi thay đổi theo thời gian và hoàn cảnh. Khi an phận người vợ nào chẳng thổ lộ tâm tình: Có rau ăn rau, có cháo ăn cháo; nhưng đến khi lòng dạ đổi thay, người ta lại tráo trở:
Có ăn thiếp ở cùng chàng,
Không ăn thiếp tếch, cơ hàn thiếp lui.
Cô vợ hiền lành sau những năm tháng về nhà chồng, có mấy khi không bị rơi vào hoàn cảnh:
Còn duyên anh cưới ba heo,
Hết duyên anh đánh ba hèo đuổi đi!

Cũng có thể nàng rơi vào hoàn cảnh cô đơn khi phải làm lẽ như:
Tối đến chị giữ mất chồng,
Chị cho mảnh chiếu nằm trông nhà ngoài.

Về nam giới cũng không hẳn sung sướng khi rơi vào tình trạng bị bội ước:
Công anh đắp đập đe bờ,
Để cho thằng phải gió đem lờ đến đơm!
Có khi chàng rơi vào kiếp sống đa thê, lại gặp cái cảnh vợ lớn vợ nhỏ đều giận dỗi, nên đêm đêm chán chường thở dài, không biết nằm với ai:
Ba vợ, bẩy nàng hầu,
Tối nằm chuồng trâu, gối đầu bằng chổi!

Trên đây chỉ là một vài ví dụ trong số hàng ngàn câu ca dao, tục ngữ của của dân ta. Nội dung thật phong phú và ảnh hưởng của nó không dừng ở một địa danh hay một biên giới nào cả. Khi giao thiệp với nhau, nhiều khi người ta mở đầu và rào trước đón sau bằng một hai câu ca dao hay tục ngữ. Khi trả lời người ta cũng dựa vào chúng để đi tới một quyết định hay từ chối một vấn đề mà không sợ làm mất lòng nhau.
III- Các Thể Loại
Ở vào thời kỳ văn học chưa phát triển và văn chương, thi phú chưa được phổ biến sâu rộng, những câu ca dao theo dạng thơ Lục Bát chỉ là những lời hát tự nhiên và không được các văn nhân thi sĩ dùng để sáng tác một cốt truyện. Người ta cũng không thấy thơ Lục Bát được dậy trong chương trình giáo khoa thời xưa, mặc dù nó đã được dùng trong các tác phẩm như Trê Cóc, Phan Trần, Quan Âm Thị Kính, Bích Câu Kỳ Ngộ, Nhị Độ Mai v.v… nhưng mãi tới thời thi hào Nguyễn Du (1765-1820) với thi phẩm lừng danh Kim Vân Kiều và thi sĩ Tản Đà, Nguyễn Đình Chiểu (1822-1888) với thi phẩm nổi tiếng Lục Vân-Tiên thì những câu thơ Lục Bát đã thực sự được dùng để cấu tạo những cốt truyện bất hủ và có vị trí đứng cao trong lịch sử văn học và thơ văn của dân tộc. Từ đó thơ Lục Bát là một trong các thể thơ được Bộ Giáo Dục đưa vào chương trình giảng dậy tại các trường học, đặc biệt kể từ thời Đệ I Cộng Hòa của miền Nam VN.
Ca Dao, Tục Ngữ thường gồm những câu có từ 3 chữ tới 23 chữ. Những câu có vần điệu nghe hấp dẫn như những vần thơ đều là những câu 14 chữ ở dạng thơ Lục Bát (câu đầu 6 chữ, câu hai 8 chữ).

Ví dụ:
-Câu 3 chữ: Hiền như Bụt
-Câu 4 chữ: Ác giả, ác báo
-Câu 5 chữ: Hàng thịt nguýt hàng cá.
-Câu 6 chữ: Hay ăn thì lăn vào bếp.
-Câu 7 chữ: Học chẳng hay, thi may thì đỗ.
-Câu 8 chữ: Hà tiện mới giầu, cơ cầu mới có.
-Câu 9 chữ:
Ai ở trong chăn, mới biết chăn có rận.

-Câu 10 chữ:
Lạc đàng nắm đuôi chó,
Lạc ngõ nắm đuôi trâu.

-Câu 11 chữ:
Cơm khô là cơm thảo,
Cơm nhão là cơm hà tiện.

-Câu 12 chữ:
Con gà béo bán bên Ngô,
Con gà khô bán láng giềng.

Câu 13 chữ:
Ba vợ bảy nàng hầu,
Đêm nằm chuồng trâu, gối đầu bằng chổi.

Câu 14 chữ:
Bà già đã tám mươi tư,
Ngồi trong cửa sổ viết thư lấy chồng.

Câu 15 chữ:
Cá tươi, thì xem lấy mang,
Người khôn xem lấy đôi hàng tóc mai

Câu 16 chữ:
Ăn trộm ăn cướp, thành Phật, thành Tiên,
Đi chùa đi chiền, bán thân bất toại.

Câu 17 chữ:
Lậy ông nắng lên cho ấm trẻ ông ơi,
Già thì chấy rận chứ tôi được gì.

Câu 18 chữ:
Của làm ra để trên gác,
Của cờ bạc để ngoài sân,
Của phù vân để ngoài ngõ.

Câu 19 chữ:
Cùng thì làm lẽ,
Người ăn bát mẻ, nằm chiếu manh,
Người ăn bát Đại Thanh, nằm chiếu miến.

Câu 20 chữ:
Yêu nhau tam, tứ núi cũng trèo, thất bát sông cũng lội, tứ cửu tam-thập-lục đèo cũng qua.

Câu 21 chữ:
Muốn ăn lúa tháng năm, xem trăng rằm tháng tám,
Muốn ăn lúa tháng mười, xem trăng mồng tám tháng tư.

Câu 22 chữ:
Đôi ta đã trót lời thề,
Con dao lá trúc đã kề tóc mai,
Dặn rằng: "Ai chớ quên ai".

Câu 23 chữ:
Tiếc thay con chim phượng hoàng còn dại chưa khôn,
Núi Tam-sơn chẳng đậu, lại đi đậu ngàn cỏ may.

* Có khi Ca Dao là một bài thơ Lục Bát gồm:
 -4 câu:
Anh đi đàng ấy xa xa,
Để em ôm bóng trăng tà năm canh.
Nước non một gánh chung tình,
Nhớ ai, ai có nhớ mình hay chăng.

Bốn câu ca dao trên diễn tả tâm tình của người vợ ở nhà khi chồng nàng vì nghĩa vụ nước non hay phải đi xa lập nghiệp. Nhớ chàng nhưng nàng không bao giờ thất nghĩa ôm tình nhân mà ôm bóng trăng tà cho vơi buồn đỡ nhớ. Câu ca dao biểu lộ sự chung thủy, "tình nhà, nợ nước", một thứ tình cảm sắt son, nhẹ nhàng và kín đáo. Nỗi nhớ nhung lãng mạn, một thứ lãng mạn đạo đức trăng thơ và nó man mác vớiø cái đẹp huyền diệu của thiên nhiên và bầu trời về đêm cô lẻ.
 
-6 câu:
Hỡi anh đi đường cái quan,
Xin anh đứng lại em than vài lời.
Đi đâu vội mấy anh ơi,
Cái quần, cái áo như người nhà ta.
Cái ô em để trong nhà,
Khen ai mở khóa đưa ra cho chàng.

Qua các câu ca dao trên người ta mới thấy các cô thôn nữ ngày xưa đâu có thua gì nam giới. Nếu nói thi văn là sân khấu độc quyền của các nho gia thì ca dao lại là sân khấu công cộng cho người bình dân. Khi đưa duyên, miệng lưỡi của các cô gái quê cũng liếng lỉnh và hóm hỉnh không thua gì các chàng thư sinh. Mở đầu những câu chuyện tình tứ chưa hẳn là sở trường của các anh đa tình. Thế mới biết gái làng ta chẳng thua gì trai thôn xóm.

(Theo người ta kể lại thì gái Bắc Ninh, quê hương của lối Hát Quan Ho, vừa đẹp lại vừa có tài "xuất khẩu thành thi"; nên các chàng trai nào "văn ngang, chữ dở" mà đi ngang qua chỗ các nàng đang cấy lúa thì chỉ có nước lấy ô che mặt vàø bước đi cho lẹ kẻo mắc cở. Trong dân ca ví von, người ta cũng từng so sánh "em gái Bắc Ninh, anh trai Biên Hòa" là vậy)

Vì giới hạn của một bài viết, chúng tôi không ghi tiếp các bài thơ dài 8, 9, 10 câu …
Kết luận
Trên đây chỉ là một số câu ca dao tượng trưng với nội dung khác nhau và xuất hiện vào những hoàn cảnh khác nhau. Qua ca dao, người ta có thể hiểu được phần nào phong tục tập quán xưa và nay của người VN. Kho tàng văn chương bình dân tiếp tục phát triển theo giòng thời gian và mỗi khi có những biến cố quan trọng, người ta lại thấy những câu ca dao và tục ngữ mới xuất hiện và được truyền khẩu trong dân gian.




mailto:info@danchua.de - Copyright © 2007 Dân Chúa Âu Châu - All rights reserved.