Trang Nhà |  Nguyệt San |  Lời Chúa  |  GĐ La Vang |  Hành Hương |  Lich CG 2014 |  Quỹ Từ Thiện |  Việt Sử |  Nối Kết |  Liên Lạc print  
  Dân Chúa
  Trang Thơ Dân Chúa
  Biến Cố Trong Tháng
  Văn Hóa Việt Nam
  Sức Khỏe Là Vàng
  Đi Vào Cuộc Đời
  Học Hỏi Để Sống Đạo
  Sinh hoạt Cộng Đoàn
  Chúc Mừng
  Phân ưu
  Quảng Cáo
  Tủ Sách Dân Chúa
  Đặt Mua Báo
  Bạn đọc viết
  Tìm Bài
  Impressum
0013106850 visits0013106850 visits0013106850 visits0013106850 visits0013106850 visits0013106850 visits0013106850 visits0013106850 visits0013106850 visits0013106850 visits
Trang NhàTin tức 2008DHCGVN32Đại Lễ Chúa Thánh Thần Hiện Xuống

Đại Hội CGVN tại Đức kỳ thứ 32



Đại Lễ Chúa Thánh Thần Hiện Xuống: Cao  điểm của Đại Hội CGVN tại Đức kỳ thứ 32
Mặc dù thức muộn vì sau Thánh Lễ khai mạc chiều thứ bẩy còn có các sinh hoạt dành cho giới trẻ và giờ đền tạ Thánh Tâm Chúa và Trái Tim Mẹ, lại có dịp hàn huyên chuyện trò đến tậm đêm khuya, vì  cả năm mới có dịp gặp lại nhau. Nhưng ngay từ 6 giờ sáng Chúa Nhật, nhiều bạn trẻ và giáo dân đã sốt sắng đọc kinh sáng do quý sơ MTG hướng dẫn.

Sau giờ điểm tâm đơn giản, các tham dự viên đã chia thành các nhóm tùy theo tuổi để sinh hoạt. Khí trời sáng sớm Chúa Nhật dịu mát và mặt trời lan tỏa khắp công viên… giúp cho buổi sinh hoạt của các em thiếu nhi do các huynh trưởng vùng cha Hạnh được thêm vui tươi sống động. Các em có dịp nhẩy múa ca hát với nhau và cùng tham dự nhiều trò chơi hứng thú. Riêng các bạn trẻ được cha Giuse Liêm và cha Lê Phan giúp suy tư và sinh hoạt theo chủ đề Đại Hội.

Tại hội trường chính vào khoảng 9g15 các tham dự viên đã bắt đầu giờ thuyết trình với bài hát Cầu xin Chúa Thánh Thần, và Thánh Vịnh 63 cùng cầu nguyện chung với nhau. Giờ thuyết trình do cha Stêphanô Lưu điều hợp. Sau lời giới thiệu và chào mừng ngắn gọn, Đức Ông Barnabê Nguyễn Văn Phương đã trình bầy đề tài 1 của chủ đề Đại Hội năm nay: “Mẹ Maria, Nữ Vương các Thánh Tử Đạo”, nhân dịp mừng 210 năm Đức Mẹ hiện ra tại La Vang, 150 năm ở Lộ Đức và 20 năm phong thánh các Thánh Tử Đạo Việt Nam: Chiêm ngắm Mẹ Maria, Nữ Vương Các Thánh Tử Đạo. Nhìn ngắm Mẹ Maria qua cuộc đời của Mẹ. Chúng ta sẽ chiêm ngắm dung nhan Mẹ Maria, Mẹ chúng ta, người Mẹ đẹp tuyệt vời mà Thiên Chúa trong chương trình cứu rỗi nhân loại đã tô điểm để Mẹ trở thành là Mẹ Đấng Cứu Thế. Chúng ta cũng sẽ đưa mắt nhìn gương các Thánh Tử Đạo Việt Nam là những tổ tiên chúng ta trong đức tin đã được Mẹ huấn luyện, để học lòng trung thành với Thiên Chúa và chứng tá tình yêu của chúng ta đối với Người.

Sau đây là tóm lược những điểm chính yếu trong bài thuyết trình phần 1: (Xin mời quý vị xem toàn bài thuyết trình phần 1 trong Website DAN CHUA.EU đã đưa lên)

 

1) Mẹ Maria, Nữ vương các Thánh Tử đạo.

            Trên đường thánh giá, Mẹ Maria đau khổ cùng cái đau khổ của Con Mẹ. Trên đồi Can-vê, Mẹ đã đau đớn tột cùng như bị lưỡi đòng đâm qua trái tim mình khi chứng kiến người lính cầm lưỡi gươm đâm thủng trái tim Chúa Giêsu chết treo trên thập giá. Mẹ Maria như cùng chết với Chúa Giêsu trên thập giá để cứu chuộc nhân loại. Mẹ Maria không đổ máu, nhưng tình yêu đối với Con Một, Mẹ đã dâng hiến hết toàn thân và tất cả tình yêu cho Thiên Chúa để làm hy tế cứu chuộc nhân loại: Mẹ Maria đã chết trong lòng cùng với Chúa Giêsu Con Mẹ, Mẹ cùng chết với Chúa để cứu chuộc thế gian: Mẹ là Đấng Đồng Công Cứu Chuộc. Từ lời “Xin vâng” khi Thiên Thần truyền tin…cho đến lúc đau đớn ôm con vào lòng để mai táng, Mẹ Maria đã ghi nhớ mọi biến cố trong lòng, đã suy gẫm, đã hiệp nhất hoàn toàn với cuộc đời và cuộc tử nạn của Chúa Giêsu. Suốt cuộc đời Mẹ Maria là một cuộc tử đạo kéo dài, trong tình yêu và trong sự dâng hiến âm thầm.

Mẹ Maria là người Kitô hữu thứ nhất đã đã tin vào Lời Chúa, tin vào Đức Giêsu Kitô là Đấng Cứu Thế, đã bằng lòng dâng con mình trên thập giá để chuộc tội nhân loại, như Abraham vâng lệnh Chúa sát tế con mình là Isaac. Không một tình yêu của vị tử đạo nào đối với Thiên Chúa hơn tình yêu của Mẹ Maria, từ thánh Têphanô, vị tử đạo đầu tiên, đến các tín hữu của Giáo hội sơ khai, đến các Tông đồ, đến các Thánh Tử đạo Việt Nam và cho đến vị tử đạo cuối cùng trước ngày tận thế. Mẹ là vị tử đạo trên hết trước hết và tuyệt đối vì sự tử đạo của Mẹ Maria có giá trị cứu chuộc nhân loại cùng với Con Mình là Đức Giêsu Kitô.

Đối với các vị Tử đạo, là con cái mà Mẹ đã nhận qua lời trối của Chúa Giêsu trên thập giá, chắc chắn Mẹ cũng đã hiện diện, ở gần bên để nâng đỡ, để ban sức mạnh và ơn can đảm,  khi họ chịu đau đớn, bị hành hạ ở pháp trường để tuyên xưng đức tin và tình yêu của mình với Chúa Giêsu: Mẹ Maria là Nữ Vương Các Thánh Tử Đạo.




2) Đức Maria, Mẹ đẹp tuyệt vời.

Đức Mẹ hiện ra cho em Bernadette Soubirous, bé gái 14 tuổi tại hang đá Lộ Đức. Từ ngày 11.2 đến ngày 16.7.1858 Đức Mẹ hiện ra tất cả 18 lần. Trong bức thư đề ngày 28.5.1861 gửi Cha Gondrand, Bernadette cho biết  cô đã thấy một Bà hiện ra thật đẹp mà không thể nào tả được. Cái đẹp của Mẹ Maria mà Bernadette thấy là ánh quang sáng ngời của cái đẹp tuyệt vời mà Thiên Chúa Cha từ đời đời đã chọn Mẹ Maria trên hết mọi người nữ, hơn các thiên thần và các thánh, đã tô điểm cho Mẹ mọi ân phúc, đã cho Mẹ Vô Nhiễm Nguyên Tội không bị tì ố của tội tổ tông, để xứng là hôn thê của Chúa Thánh Thần, để cung lòng tinh khiết của Mẹ là đền đài nguy nga đón nhận Ngôi Hai Thiên Chúa Nhập Thể sinh ra làm người, để toàn thân và máu huyết đồng trinh của Mẹ nuôi dưỡng Đấng Cứu Thế. Thiên sứ Gabriel đã chào kính Mẹ và mừng Mẹ đầy ân phúc: “Kính mừng Maria, Bà đầy ơn phúc, Thiên Chúa ở cùng Bà”. Lời chào mừng nầy ca tụng rằng Mẹ Maria tuyệt hảo, tuyệt vời, tuyệt mỹ, Thiên Chúa đã tô điểm Mẹ hết mức rồi không còn thiếu gì nữa để đáng làm Mẹ Thiên Chúa.

Qua mọi thế hệ, có biết bao nhiêu lời kinh, tiếng hát, ca ngợi sự đẹp đẽ của Mẹ Maria. Nói tắt một lời, Đức Mẹ là kỳ công tuyệt vời của Thiên Chúa Ba Ngôi: Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần. Các thánh nói rằng: “Thiên Chúa có thể làm ra một thế giới tốt hơn thế giới nầy, mà không thể làm nên một người Mẹ hoàn hảo hơn người Mẹ của mình”.

 

3) Đức Maria là Mẹ chúng ta

“Một ngày kia, thánh Gioan Bosco rao giảng về vinh quang của Mẹ Maria tại nhà thờ chính tòa Torino. Giữa lúc đang thao thao bất tuyệt, ngài bỗng dừng lại thinh lặng một hồi lâu rồi đặt câu hỏi với cử tọa như sau: “Ai trong chị em có thể nói cho tôi biết Đức Mẹ là ai”? Sau khi nghe kể hết những tước hiệu mà người ta gán cho Đức Maria, thánh nhân mỉm cười nói tiếp: “Đức Maria là tất cả những gì anh chị em vừa kể ra, nhưng vẫn chưa hết. Tôi muốn biết thêm về Đức Maria...”.

Chờ mãi không thấy thêm câu trả lời nào, sau cùng thánh nhân mới nói: “Tôi xin được nói với anh chị em Đức Maria là ai: Đức Maria là Mẹ chúng ta”. Phải, Mẹ chúng ta. Đó là điều đáng nói nhất về Mẹ Maria. Trên trần gian nầy, không ai có thể gần gũi thiết thân với chúng ta bằng Mẹ chúng ta, không ai yêu thương chúng ta hơn Mẹ chúng ta. Cũng thế, trên thiên đàng không có vị thánh nào yêu thương chúng ta và sẵn sàng lắng nghe chúng ta cho bằng Mẹ Maria...” (Đài Chân Lý Á Châu, Lẽ Sống, tr. 206).

 

4) Mẹ Maria, Mẹ Đồng Công Cứu Chuộc

Mẹ Maria đã được Thiên Chúa ban đầy ân phúc để trở thành Mẹ Đồng Công Cứu Chuộc với Chúa Kitô. Tiếng “Xin vâng” của ngày truyền tin là khởi điểm tiến trình ý thức cộng tác hoàn toàn của Mẹ Maria vào công trình cứu chuộc của Chúa Cứu Thế. Phúc âm thánh Matthêu nói về Mẹ Maria: “Người hằng ghi nhớ tất cả những điều ấy trong lòng” (Lc 2,51).

Ở Cana Đức Mẹ kín đáo, tế nhị, quan sát và thấy thiếu rượu mà có lẽ không ai để ý thấy, Mẹ đã can thiệp vào một việc phần xác, một việc xã hội, thì  chúng ta càng phải vững tin hơn nữa: Mẹ sẽ nhìn thấy những nhu cầu thiêng liêng của chúng ta, mà ngay chúng ta cũng thấy, không biết. Và như vậy chắc chắn Mẹ Maria sẽ can thiệp, để nâng đỡ, ủi an, ban ơn thiêng liêng cho chúng ta, nhất là khi thấy chúng ta đang đau khổ, đang trong cơn nguy biến phần hồn, đang đi con đường rơi xuống hỏa ngục đời đời.

Trong cuốn sách khổ lớn, dày 1200 trang của Cha Attilio Galli với tựa đề là “Mẹ của Giáo Hội trong Năm Châu” (Madre della Chiesa nei cinque Continenti, ed. Segni 1997) tác giả đã cho thấy Mẹ Maria hiện diện trong khắp năm châu với loài người, cho thấy Mẹ Maria là vị Thừa Sai thứ nhất của Con mình nơi các dân tộc trên địa cầu nầy trong suốt 20 thế kỷ qua. Mẹ đã thi hành chức vụ làm mẹ ngay khi thành lập Giáo hội, Mẹ đã hiện diện giữa các Tông đồ để nâng đỡ các ngài chờ Chúa Thánh Thần Hiện Xuống. Sau khi lên trời cả hồn lần xác, Mẹ Maria không ngừng hoạt động trên cho cái loài người, trên mọi nẻo đường trần gian. Trên mọi lục địa, trên mỗi quốc gia đều có bóng dáng, sự hiện diện hiền mẫu, sự can thiệp ban ơn cứu giúp của Mẹ Maria.

5) Lòng ưu ái của Mẹ Maria đối với Giáo hội Việt Nam

Ngay từ đầu lịch sử truyền giáo tại quê hương Việt Nam chúng ta, các Cha thừa sai đã truyền lại cho tổ tiên chúng ta một nét đặc thù của lòng đạo đức chắc chắn nhất: đó là lòng tôn sùng Đức Mẹ. Thánh Phanxicô Xaviê, vị thừa sai tiên khởi miền Viễn Đông, khi giảng đạo, một tay cầm ảnh chuộc tội, một tay cầm ảnh Mẹ Maria. Lòng sùng kính Đức Mẹ là con đường tu đức hết sức lành mạnh, hợp với chương trình cứu chuộc của Thiên Chúa. Đức Mẹ là Mẹ của Chúa Giêsu, là Mẹ Thiên Chúa, là Mẹ của người tín hữu. Chạy đến Đức Mẹ để xin ơn phù giúp để nhờ Mẹ đưa đến với Chúa Giêsu thì không gì phù hợp và bảo đảm bằng. Thánh Bênađô dạy: “Ad Iesum per Mariam”, nhờ Mẹ Maria để đến với Chúa Giêsu. Thánh nhân nói: “Thiên Chúa muốn rằng không có gì mà chúng ta có mà không qua tay Đức Mẹ”.

Giáo lý nầy rất thích hợp với tâm tình người Việt chúng ta. Chúng ta thích qua trung gian người nầy người nọ, những người có uy tín thân cận với vua chúa để đến với vua chúa quan quyền. Để đến với Chúa Giêsu thì không gì công hiệu hơn nhờ chính Mẹ của Chúa giới thiệu. Một món quà bé nhỏ đơn sơ của chúng ta dâng lên Thiên Chúa sẽ có giá trị và đẹp lòng Chúa biết bao nếu nó được đưa đến do tay của Nữ Vương các Thiên Thần, của Nữ Vương các Thánh Tử Đạo, của các Thánh Đồng Trinh, của Nữ Hoàng Vũ Trụ. Người tín hữu Việt Nam thường nói: “Nhờ ơn Đức Mẹ”. Điều nầy diễn tả mối quan hệ đơn sơ thân mật tự nhiên giữa chúng ta với Mẹ Maria, người Mẹ rất yêu thương dịu dàng.  Ai trong chúng ta không cảm thấy êm dịu ngọt ngào khi gọi “Mẹ”.  “Lòng mẹ bao la như biển thái bình dạt dào”.



6) Mẹ Maria, Nữ Vương các Thánh Tử Đạo Việt Nam

Nhìn gương các Thánh Tử đạo Việt Nam, chúng ta thấy các ngài là những người đã có lòng yêu mến Đức Mẹ đặc biệt.

Thánh Anrê Nguyễn Kim Thông, quen gọi là Năm Thuông, Trùm họ Gò Thị, rất có lòng kính mến Đức Mẹ, xây một đài kính Đức Mẹ trong vườn nhà, bị một đứa cháu hoang đàng tố giác, bị bắt và phát lưu vào miền Nam ở Mỹ Tho, bị chết rũ tù sau khi đọc bảy kinh Thánh vịnh thống hối và các kinh kính Đức Mẹ, miệng mấp máy thánh danh Mẹ Maria, “Người Mẹ quí yêu suốt đời”.

Thánh linh mục Phanxicô Bắc (tên thật là Néron, người Pháp) ăn chay các ngày lễ vọng kính Đức Mẹ, đã can đảm chịu chém đầu tại Sơn Tây.

Thánh Micae Nguyễn Huy Mỹ là một Lý trưởng, sống liêm khiết, mỗi tối tụ tập phu tuần đọc 50 kinh Kính mừng kính Đức Mẹ trước khi đi công tác. Bị xử trảm tại pháp trường Bảy Mẫu, Nam Định.

Thánh Đa Minh Đinh Viết Dụ, khi bị bắt chỉ mang trên mình hành trang duy nhất là tràng chuỗi Mân Côi.

Thánh linh mục Phêrô Dumoulin Borie Cao ghi trong nhật ký: “Xin Mẹ giúp con theo con đường của ơn kêu gọi. Xin cho con được đau khổ vì Đức Kitô, được đón nhận ngành lá tử đạo và về đến bến vinh quang”.

Thánh Philipphê Phan Văn Minh trước khi bị chém đầu tại pháp trường Đình Khao ở Vĩnh Long, đã trao cho ông xã Phượng đang đứng bên cạnh chực thấm máu cỗ tràng hạt. Ngài đã cầu nguyện lớn tiếng: “Lạy Mẹ Maria, xin cầu cho chúng con trong giờ lâm chung nguy hiểm nầy”.

Thánh linh mục Phanxicô Federich Gilde Tế, thuộc Dòng Đa Minh, người Tây Ban Nha, nhận mình là đứa “con điên của Đức Mẹ”.

Thánh linh mục Gioan Charles Cornay Tân, thuộc Hội Thừa Sai Ba Lê, dưới triều Minh Mạng phải sống cơ cực vì trốn tránh, bị bệnh nặng. Bề Trên gọi ngài về Pháp để chữa trị, nhưng ngài đã trả lời: “Con quí chuộng những khổ cực ở đây hơn là được sức khỏe tại Pháp”. Ngài bị bắt, bị giải về Sơn Tây. Ba tháng sau, ngài bị xử lăng trì, đầu bị bêu cao ba ngày rồi ném xuống sông. Ngài cầu nguyện trước khi chết: “Xin Mẹ chứng giám cho việc sám hối của con”.

Hai Thánh Jerônimô Hermosilla Liêm và Jacintô Castaneda Gia từ trại tù ra pháp trường cất cao tiếng hát kinh “Salve Regina” – Lạy Nữ Vương – “Lạy Mẹ nhân lành làm cho chúng con được sống, được vui, được cậy... xin cho chúng con được thấy Đức Chúa Giêsu, con lòng Mẹ...”.

Ngày 7-1-1862 một nhóm Văn Thân đưa 306 người Công giáo gồm 200 đàn ông, 106 đàn bà và 50 trẻ em vào trong nhà thờ Bà Rịa rồi phóng lửa thiêu, trong khi tiếng lần hạt sang sảng, càng lâu càng lụi dần trong ánh lựa bập bùng với thân xác hiến dâng làm của lễ toàn thiêu.

Thánh Gioan Đoàn Trinh Hoan đeo ảnh Đức Mẹ. Lính buộc phải bỏ ảnh đeo. Ngài nói: “Không ai có quyền tháo ảnh nầy khỏi cổ tôi. Vì đó là ảnh của Mẹ Maria, Mẹ tôi”.

“Dưới con mắt của các vị anh hùng tuẫn tiết, cuộc Tử  Đạo là một hiến tế dâng lên Thiên Chúa qua bàn tay Mẹ làm trung gian như Thánh Théophan Vénard Ven đã ghi trong thư gửi Đức Cha Theurel: “Lạy Mẹ Vô Nhiễm, khi đầu con rơi xuống dưới lưỡi gươm của lý hình, xin nhận lấy tôi tớ nhỏ bé nầy, như trái nho mọng chín được hái đi, như bông hồng nở rộ được ngắt về dâng lên bàn thờ Ave Maria” (Lm Hồng Phúc CSsR, Đức Mẹ La Vang và Giáo Hội Công Giáo Việt Nam, Liên Đoàn Công Giáo Việt Nam tại Hoa Kỳ xuất bản, 1997, tr.22).

Các Thánh Tử Đạo đã nhìn lên Mẹ, Nữ Vương Các Thánh Tử Đạo, để vững tâm chiến đấu bảo vệ đức tin và dám chết làm chứng tình yêu của mình đối với Chúa và Đức Mẹ. Các ngài là gương anh dũng cho chúng. Các ngài cũng là người, cũng đau đớn, cũng sợ chết, nhưng tình yêu Chúa, lòng trung kiên với Chúa, lòng khiêm nhường kêu cầu Đức Mẹ, Mẹ đã giúp chiến thắng.

6) Đức Mẹ La Vang

Đức Mẹ La Vang hiện ra trong bối cảnh lịch sử đất nước ta đang ở vào thời kỳ phân tranh giữa ba phe phái là Trịnh, Nguyễn và Tây Sơn. Ngày 17 tháng 8 năm 1798, Vua Cảnh Thịnh từ Phú Xuân, ra sắc dụ cấm đạo. Nội dung sắc dụ như sau: “Nhân dân trong nước phải giữ đạo Tam Cang Ngũ Thường: quân thần, phụ tử, phu phụ, nhân, nghĩa, lễ, trí, tín. Đạo Da-Tô (Bồ Đào Nha) có nhiều tà thuyết phải được cấm triệt để. Do đó, muốn ích quốc lợi dân, Hoàng Đế truyền tiêu diệt Đạo ấy vì là đạo đáng ghét. Phải phá tất cả các nhà thờ, nhà xứ và bắt tất cả các thừa sai và các linh mục Việt Nam”. (Linh mục Hồng Phúc, Sđd, tr. 25).

Lệnh vừa ban ra, quân lính đua nhau truy nã người Công giáo để bắt bớ, hành hạ và chém giết. Để tránh cơn bắt đạo ác liệt nầy, các giáo hữu thuộc tỉnh Quảng Trị tìm cách chạy trốn vào một nơi hẻo lánh, cách xa tỉnh chừng 6 cây số. Đây là rừng núi La Vang độc địa, hẻo lánh, nên giáo dân hy vọng quan quân không tìm đến. Dầu vậy đêm ngày họ vẫn hồi hộp lo sợ bị tầm nã bắt bớ, sợ thú dữ rừng hoang. Lại thêm lương thực không có, khí độc, nước độc, nên lâu ngày nhiều người lâm bệnh, tình cảnh thật trăm bề khổ cực. Trong con nguy khốn ấy, mọi người chỉ trông cậy vào Chúa và Đức Mẹ, đêm ngày hội họp nhau nơi đám cỏ, dưới gốc cây cổ thụ, đọc kinh lần hạt than khóc kêu xin Đức Mẹ cứu giúp  chở che.

Thấy con cái giữ lòng trung nghĩa cùng Chúa, nhất là đang lâm cảnh hoạn nạn cơ cực ấy, Mẹ nhân lành động lòng thương xót, một hôm, trong lúc họ đọc kinh cầu nguyện, thì Đức Mẹ hiện ra rực rỡ tươi đẹp vô ngần. Người mặc áo choàng rộng, tay bồng Chúa Hài Đồng, có hai thiên thần hầu cận. Đức Mẹ xuống đứng trên đám cỏ gần gốc cây đa nơi giáo hữu đang cầu nguyện.

Đức Mẹ tỏ vẻ nhân từ và âu yếm, an ủi các giáo hữu vui lòng chịu khó, dạy hái lá quanh đó nấu nước uống sẽ lành các chứng bệnh. Đức Mẹ còn phán hứa rằng: “Các con hãy tin tưởng, cam lòng chịu khổ, Mẹ đã nhận lời các con kêu xin. Từ nay về sau, hễ ai chạy đến cầu khẩn cùng Mẹ ở chốn nầy, Mẹ sẽ nhậm lời ban ơn theo ý nguyện”.

Đức Mẹ hiện ra nhiều lần như vậy. Đó là điều các tiền nhân loan truyền lại cho đến ngày ngay. Cũng từ ngày đó, người lương giáo cũng như người giáo tuôn về La Vang hành hương cầu nguyện, và Đức Mẹ giữ lời hứa, ban nhiều ơn phúc phần hồn, phần xác cho họ (Trích từ Tòa Tổng Giám Mục Huế, Thánh Địa Đức Mẹ La Vang,  1988, tr. 7-8).

Tình mẫu tử nầy suốt 210 năm qua, dưới nhiều hình thức ơn lành Mẹ ban cho con cái Việt Nam chúng ta, không phân biệt tôn giáo, từ ơn được chết tử đạo của tổ tiên chúng ta đến các ơn phần hồn phần xác cho đủ mọi hạng người, mọi gia đình” (Lm Hồng Phúc, sđd, tr. 2).

Cao điểm của Đại Hội CGVN tại Đức năm 2008 chính là Đại Lễ Chúa Thánh Thần Hiện Xuống do Đức Ông Wolgang Miehler, giám đốc ngoại kiều vụ của HĐGM Đức chủ tế vào 11g sáng Chúa Nhật 11.5.2008. Cùng đồng tế với Đức Ông có Đức Ông Barnabê Phương, tân linh mục Gioan Baotixita Vũ Chí Thiện, các linh mục tuyên úy và quý cha khách, tổng cộng 24 linh mục.

Cũng như mọi năm, đông đảo giáo dân từ khắp các cộng đoàn, nhất là các cộng đoàn trong các vùng ở gần địa điểm, đã tụ họp về tham dự thánh lễ Chúa Thánh Thần Hiện Xuống. Cộng đoàn đã tích cực dâng lời ca tiếng hát thật sốt sắng.  Cũng như năm ngoái, ban tổ chức đã cho in ấn cuốn cẩm nang của Đại Hội dầy 40 trang, gồm các bài hát và kinh nguyện được sử dụng trong các thánh lễ, trong giờ chầu Thánh Thể, giờ đền tạ Thánh Tâm và Mẫu Tâm và trong cuộc đi kiệu, giúp cho các tham dự viên tích cực góp lời kinh tiếng hát thêm phần sốt sắng.

Ca đoàn tổng hợp năm nay được tăng cường thêm nhiều ca viên từ các cộng đoàn đã hòa vang những bài thánh ca Việt Nam nhiều bè thật long trọng và sốt sắng như bài ca nhập lễ: “Thánh Thần hãy đến“; đáp ca: “Gieo vui“, dâng của lễ: “Thượng Tiến Giavê“; ca hiệp lễ: “Lạy Chúa Thánh Thần“ và bài ca kết lễ: “Mẹ đầy ân phúc“. Trong phần dâng của lễ, các thiếu nữ duyên dáng trong tà áo dài Việt Nam đã dâng lên Chúa các bó hoa muôn sắc và mâm ngũ quả, cùng bánh thánh và rượu thánh.

Trong bài giảng, Đức Ông chủ tế đã dựa vào bài Tin Mừng đại Lễ Chúa Thánh Thần để trình bầy về sự hiện diện và hoạt động của Chúa Thánh Thần trong suốt lịch sử của Giáo Hội. Sau đây là tóm lược một vài ý chính của bài giảng do linh mục Huyỳnh Công Hạnh chuyển ngữ (Xin mời quý vị xem toàn bài giảng trong Website DAN CHUA.EU đã đưa lên):



Lễ Chúa Thánh Thần Hiện Xuống đầu tiên tại Giêrusalem – chúng ta nói như vậy – là giờ sinh nhật của giáo hội. Trong ý nghĩa đó: Tất cả chúng ta hôm nay có ngày sinh nhật. Tôi chân thành chúc mừng quý ÔBACE và chúc chúng ta đầy tràn ơn Thánh Thần cũng như hồng ân Thiên Chúa. Tôi nói đây không riêng gì cá nhân của tôi, mà còn thay mặt cho Uỷ Ban Di Dân của Hội Đồng Giám Mục Đức muốn chuyển những lời thăm hỏi và chúc lành tốt đẹp nhất đến quý ÔBACE.

Chúng ta cũng tin tưởng rằng Giáo Hội của chúng ta ngày nay vẫn trẻ trung và chứng tỏ sức sống động. Vì thế tôi vui mừng một cách đặc biệt có nhiều người trẻ tụ họp về đây để tham dự thánh lễ. Họ là hy vọng và tương lai của Giáo Hội. Đồng thời tôi cũng muốn ngỏ lời tới những người lớn tuổi giữa chúng ta. Quý ÔBAC đã tự cảm nghiệm rằng Thần Khí Chúa trao ban sức mạnh và lòng tin tưởng để có thể trải qua những hoàn cảnh khó khăn trong cuộc sống. Quý ÔBAC đã tiếp tục trao những kinh nghiệm đời và đạo cho thế hệ trẻ hơn. Do đó tôi muốn nói lên lời chân thành cám ơn. Trong sự kết hợp giữa các thế hệ nâng đỡ lẫn nhau thì bản chất của Giáo Hội là gia đình của những người được kêu gọi và được sai đi bởi Thần Khí Chúa thì trở nên rõ ràng.

Giáo Hội của chúng ta ngày nay, qua cái nhìn toàn cầu hoá mọi lãnh vực cuộc sống,cần một ngôn ngữ chung không phân biệt tuổi tác, phái tính, quốc tịch, tiếng bản xứ hay nhân sinh quan mà mọi người có thể hiểu được. Đó là thông điệp tồn tại của Lễ Hiện Xuống.

Sách Tông Đồ Công Vụ gọi tên 12 dân tộc khác biệt thời đó là những người đại diện nhận lãnh Chúa Thánh Thần và trở nên sứ giả Tin Mừng được sai đi. Ngày nay trên toàn thế giới không có dân tộc nào hay nước nào mà không biết đến Tin Mừng của Chúa Kitô. Giáo Hội của chúng ta trở nên đa sắc và đa dạng, nó thể hiện ngay cả những làng mạc hẻo lánh (…) Quý ÔBACE là những tín hữu từ 11 vùng mục vụ Việt Nam và thuộc thành phần rất chính yếu. Quý ÔBACE là những người đại diện của Giáo Hội hoàn vũ ngày nay mà Chúa Kitô đã hướng dẫn thành một dân tộc của Chúa từ nhiều dân tộc và ngôn ngữ. Không có quý ÔBACE, Giáo Hội Đức thiếu đi phần quan trọng có tính cách quyết định: Sự từng trải phổ quát hằng ngày và tính Công Giáo của Giáo Hội chúng ta – ngoài ra tôi xin thêm - thỉnh thoảng cũng là phần lớn tính đa dạng tươi mát, sự sống động hăng say và sự trẻ trung đầy hy vọng. Giữa các nhóm sắc tộc khác nhau ở Đức Quốc thì chính khối người Việt Nam Công Giáo tôi đã biết từ thủa ban đầu một cách đặc biệt. Họ hăng say đồng hành đầy tín nhiệm trong các cộng đoàn giáo xứ Đức Việt. Nơi đây tôi muốn nói lên lời chân thành cám ơn quý ÔBACE.

Trong 4 phương diện Chúa Phục Sinh đã hướng dẫn các Tông Đồ tới bản chất của Giáo Hội và qua đó tới trung tâm điểm sứ mệnh của các ngài và cũng là của chúng ta:

1.     Giáo Hội phải cởi mở và mời gọi

Các Tông Đồ lúc ấy vì sợ hãi và nản lòng đã lui lại sau những cánh cửa khoá chặt, đồng thời đóng kín. Chúa Phục Sinh không ngần ngại đến giữa họ, làm cho họ có khả năng mở tung những cánh cửa và đến với những người khác. Họ không còn thờ ơ với những gì xảy ra bên ngoài và họ không còn sợ hãi nữa. Nhiều người ngày nay đang tìm ý nghĩa cuộc sống, tìm sự an toàn và sự nhìn nhận. Là người Kitô hữu chúng ta có bổn phẩn chuyển giao tới họ tin vui cho cuộc sống thành công; từ niềm tin chúng ta có thể đưa cho họ cộng đoàn và sự quây quần, khi chúng ta coi trọng sự hướng dẫn trong hiến chế (của công đồng Vaticano II về) Vui Mừng và Hy Vọng thì niềm vui và hy vọng, buồn rầu và sợ hãi của con người ngày nay… cũng phải là niềm vui và hy vọng , buồn rầu và sợ hãi của các Tông Đồ khi xưa. Là Kitô hữu chúng ta phải mang trách nhiệm lo lắng cho tha nhân.

2.     Giáo Hội mang những vết thương trong mình

Trong Tin Mừng của Thánh Gioan kể tiếp, Chúa Phục Sinh đã tỏ cho các Tông Đồ những vết thương biến dạng của Ngài... Và chính quý ÔBACE cũng biết được những kinh nghiệm tương tự trên quê hương đất nước của mình. Ngay cả trên nước Đức có những người vì yêu mến và sống đức tin, bị người khác cười chế diễu và coi rẻ mạt. Dẫu vậy chúng ta không nên để lẫn lộn. Ai muốn có khuôn diện nổi bật thì phải chịu đục đẽo; ai muốn sống là Kitô hữu, phải sẵn sàng đón nhận những thương tích.

3.     Giáo Hội sống bằng tha thứ và tiếp tục trao ban tha thứ.

Trong Tin Mừng ngày hôm nay Chúa Phục Sinh đã nói nhiều lần với các Tông Đồ lời chúc bình an. Nó có giá trị nhiều hơn là một công thức lễ phép chào hỏi. Shalom: Bình an muốn nói tới là sự hài hoà bao la của con người với Thiên Chúa và với tha nhân. Nó có nghĩa là tạo độ cuộc sống  của con người phải đúng vị trí, và những mối tương quan tới Thiên Chúa và tha nhân phải nằm trong trật tự đúng đắn ấy. Vì thế bình an là món quà lớn của Chúa Phục Sinh trao tặng cho các Tông Đồ và qua các ngài món quà hoà giải được trao gửi tới Giáo Hội: Các con tha tội cho ai, thì tội người ấy được tha.



4.    Giáo Hội sống từ sức mạnh của Chúa Thánh Thần

Nơi đây chúng ta gặp phải phần cốt yếu của thông điệp lễ Hiện Xuống, đồng thời phần chính yếu của bản chất Giáo Hội: Lễ Hiện Xuống kiện toàn công trình sáng tạo thủa ban đầu. Nó có giá trị cho Giáo Hội nói chung và cho mỗi người Kitô hữu nói riêng: Chúng ta chỉ có thể sống và hoạt động từ sức mạnh của Chúa Thánh Thần. Ngài ở trong chúng ta và qua chúng ta hoạt động không ngừng. Chúng ta càng để cho Thần Khí Chúa được trao ban cho chúng ta qua phép Rửa Tội và phép Thêm Sức tác động, chúng ta càng hành động từ Thần Khí này, thì chứng ta niềm tin của chúng ta lại càng rõ ràng hơn và đáng tin cậy hơn, thì thế giới lại càng chú ý mạnh mẽ hơn.

Bổn phận của chúng ta là Kitô hữu trong thời đại này là giúp họ nhắm hướng trời cao, khám phá ra trong cuộc sống của họ những cánh cửa tới Nước Trời và như thế tìm thấy con đường đi tới Thiên Chúa. Cầu chúc cho mọi người chúng ta lại thành công mới trong công tác mục vụ này. Đó là lời chúc chân thành của tôi nhân dịp mừng lễ Hiện Xuống. Amen.“

Song song với Thánh lễ Chúa Thánh Thần Hiện Xuống tại hội trường chính của Đại Hội, khoảng hơn 400 em thiếu nhi được các phụ huynh và các anh chị huynh trưởng dìu dắt đã dâng thánh lễ với cha Phạm Văn Tuấn. Sau khi rước lễ, các em đã trở lại hội trường chính để cùng tham dự phần cuối đại lễ chung với cộng đoàn. Các em đã cùng đồng ca nhiều bài hát Việt Đức thật ý nghĩa để mến tặng các bà mẹ nhân ngày Hiền Mẫu Thế Giới (Muttertag). Mỗi em còn mến tặng mẹ yêu quý hình trái tim tượng trưng tình con thảo hiền. Hai ba em đã đại diện cho các em thiếu nhi để đọc những lời chúc mừng Mẹ hiền thật đơn sơ, nhưng cũng thật cảm động. Sau đó ca đoàn tổng hợp cũng hát tặng các bà mẹ bài ca “Cầu cho Cha Mẹ 3“ của tác giả Phanxicô Nguyễn Đình Diến.

Đại lễ Chúa Thánh Thần Hiện Xuống kết thúc lúc gần 13g20, sau khi Đại hội ngỏ lời cám ơn hai Đức Ông Miehle và Barnabê Phương với món quà mọn lòng thành.

Sau cơm trưa, vào lúc 14g45, Đức Ông Phương tiếp tục thuyết trình về chủ đề “Mẹ Maria, Nữ Vương các Thánh Tử Đạo”, phần hai: Sau khi chiêm ngắm Mẹ Maria và gương các Thánh Tử đạo, và nghe Sứ điệp Mẹ Maria, chúng ta sẽ rút ra một vài đề nghị thực hành cho đời sống người Kitô hữu chúng ta.

Sau đây là tóm lược những điểm chính yếu trong bài thuyết trình phần 2: (Xin mời quý vị xem toàn bài thuyết trình phần 2 trong Website DAN CHUA.EU đã đưa lên)

1. Sứ điệp “Xin vâng”. Mẹ Maria đã hoàn toàn vâng theo ý muốn của Thiên Chúa qua lời đáp trả: “Nầy tôi là nữ tỳ Chúa, xin vâng lời Thiên Sứ ”. Đức Mẹ xưng mình là “nữ tỳ” là “đầy tớ” là “người nô lệ” của Chúa.

Chúa Giêsu sống hoàn toàn vâng theo thánh ý Chúa Cha. “Này con đến để làm trọn thánh ý Cha”. Nhiều lần Chúa Giêsu lập đi lập lại: “Ta đến không phải để làm theo ý của Ta, nhưng làm theo ý Đấng đã sai Ta”... Trên thập giá Người thốt lên lời cuối cùng: “Mọi sự đã tất”, rồi tắt thở.  Sứ mệnh Chúa Cha sai đến thế gian Người đã hoàn tất.

Tổ phụ Abraham vâng lời Chúa không chút do dự đã rời quê hương mà không biết mình đi đâu, tương lai sẽ như thế nào, hướng về vùng đất Thiên Chúa hứa cho ông...“Dựa vào một mình Chúa, chọn lựa Thiên Chúa: đó chính là kinh nghiệm lớn lao của các Tổ phụ, các Ngôn sứ, các tín hữu tiên khởi, được gợi lại trong chương 11 của Thư gửi Tín hữu Do Thái trong đó có 18 lần dùng thành ngữ “nhờ đức tin” (per fede) và một lần nhờ thành ngữ “với đức tin” (con fede) (DHY Phanxicô Xaviê Nguyễn Văn Thuận, Chứng nhân hy vọng, tr.65): “Chọn Chúa chứ không phải chọn những công việc của Chúa. Đó chính là nền tảng đời sống Kitô trong mọi thời đại. Và đồng thời đó là câu trả lời đích thực nhất cho thế giới ngày nay. Đó cũng là để thực hiện những dự định của Chúa Cha đối với chúng ta, đối với Giáo hội và nhân loại ngày nay” (sđd trg 65-66).

2. Sứ điệp Thánh giá. Chúa Giêsu chỉ phục sinh sau tuần thương khó thập giá và tử nạn.  “Ai muốn theo Ta hãy bỏ mình, vác thập giá hằng ngày mà theo Ta”. Mẹ Maria đã chứng kiến cuộc khổ nạn của Con một mình bị đánh đòn, bị lên án, vác thập giá và chết nhục nhã trên thập giá. Đó là thánh giá của cuộc đời của Đức Mẹ, và chúng ta, mỗi người đều có những thánh giá riêng, nhiều, ít, lớn, nhỏ trong cuộc đời của mình. Thánh giá hằng ngày là gì nếu không phải là những khó khăn cá nhân, gia đình, vợ chồng con cái, công ăn việc làm, trong sự học hành của con em? Thánh giá hằng ngày là gì nếu không phải là những sự rạn nứt trong gia đình, ngoài xã hội, trong mối tương giao cộng tác nghề nghiệp, nhiều lúc ngay cả trong những người làm công tác tông đồ mở mang nước Chúa?

Sứ điệp của Đức Mẹ ở La Vang:  “Các con hãy tin tưởng, cam lòng chịu khổ, Mẹ đã nhận lời các con kêu xin. Từ nay về sau, hễ ai chạy đến cầu khẩn cùng Mẹ ở chốn nầy, Mẹ sẽ nhậm lời ban ơn theo ý nguyện”.

3. Sứ điệp Sống Lời Chúa. Khi Chúa Giêsu bắt đầu cuộc đời rao giảng nước trời, Người tự nguyện đến để cho ông Gioan làm phép rửa thống hối mặc dù Người không có tội gì, sau khi bước ra khỏi nước, có tiếng của Chúa Cha phán từ trời: “Này là Con yêu dấu Ta và đẹp lòng Ta mọi đàng, hãy nghe lời Người”. “Hãy nghe lời Người”. Lời nầy của Chúa Cha không phải để khen tặng suông Ngôi Hai Thiên Chúa, nhưng là bí quyết là con đường, là đạo lý để được sống đời đời. Lời Chúa được ghi lại trong Kinh Thánh, đặc biệt trong bốn Phúc âm. Cần tập thói quen đọc Phúc âm hằng ngày để cầu nguyện và sống theo Lời Chúa. Đức Mẹ hằng ghi nhớ mọi Lời Chúa và chiêm ngắm trong lòng đã tin Lời Chúa, đã sống Lời Chúa.

ĐHY Nguyễn Văn Thuận thuật lại sự khao khát Lời Chúa của ngài khi ở trong tù như sau: “Khi ở trong tù, tôi không được mang theo sách Kinh Thánh; vì vậy tôi đã lượm các mảnh giấy vụn mà tôi gặp rồi đóng nó lại thành một cuốn sổ nhỏ, trong đó tôi ghi lại hơn 300 câu Phúc âm; cuốn Phúc âm kết nhặt nầy đã là sổ tóm tắt (vademecum) hằng ngày của tôi, sách gối đầu giường quí giá từ đó tôi múc lấy sinh lực và của ăn thiêng qua việc đọc Lời Chúa”. Mỗi gia đình, mỗi cá nhân phải có cuốn Kinh Thánh để mỗi ngày một chút để sống Lời Chúa.

 

4. Sứ điệp Sống thánh giữa đời. Sách Công Vụ Tông Đồ (CV 9,13) và thánh Phaolô trong các thư của ngài đều gọi các tín hữu đầu tiên là “các thánh” vì họ sống thánh hiến mình cho Thiên Chúa, loại trừ mọi tội lỗi và do đó sống cuộc đời tinh tuyền tốt đẹp. Và tại Antiokia lần đầu tiên các môn đệ được gọi là “Kitô hữu”. Danh hiệu mới nầy phân biệt tín hữu Kitô với tín đồ Do Thái. Chúng ta là “Kitô hữu” là người mang trong mình Chúa Kitô Đấng Cứu Thế. Đấng Kitô là Thiên Chúa là Đấng Thánh được Chúa Cha xức dầu tấn phong. Địa vị làm con Chúa đòi hỏi người tín hữu chúng ta phải có nếp sống và cách hành xử xứng đáng với địa vị con Chúa của mình. “Con vua thì được làm vua, thì được làm vua. Con nhà kẻ khó bắt cua tối ngày”.

Làm sao để nên thánh? ĐHY Nguyễn Văn Thuận chỉ cho chúng ta một con đường nên thánh mà ngài đã sống Ngài viết như sau: “

“Trong những đêm dài trong tù ngục tôi ý thức được rằng sống giây phút hiện tại là con đường đơn sơ và chắc chắn nhất dẫn tôi tới sự thánh thiện. Niềm xác tín đó gây cảm hứng cho lời cầu nguyện sâu đây:

“Lạy Chúa Giêsu, con sẽ không chờ đợi nữa. Con sống giây phút hiện tại cho tràn đầy tình yêu.

“Chấm nầy nối tiếp chấm kia, ngàn vạn chấm thành một đường dài.

“Phút nầy nối tiếp phút kia, muôn triệu phút thành một đời sống.

“Chấm mỗi chấm cho đúng, đường sẽ đẹp. Sống mỗi phút cho tốt, đời sẽ thánh.

“Đường Hy vọng, do mỗi chấm hy vọng. Đời Hy vọng do mỗi phút Hy vọng (ĐHV số 977).

“Như Chúa, lạy Chúa Giêsu, Đấng đã luôn làm những gì đẹp lòng Thiên Chúa Cha.

“Mỗi phút con muốn thưa với Chúa rằng: “Lạy Chúa Giêsu, con yêu mến Chúa, cuộc sống của con sẽ luôn là “một giao ước mới và giao ước vĩnh cửu” với Chúa.

“Mỗi giây phút con muốn hát lên cùng với toàn thể Hội Thánh: “Vinh danh Chúa Cha, và Chúa Con và Chúa Thánh Thần...”(ĐHY Nguyễn Văn Thuận, sđd 73).

Sống giây phút hiện tại, phó thác tất cả cho Chúa, để mình lệ thuộc hoàn toàn vào Chúa, là con đường thơ ấu mà Thánh Têrêsa Hài Đồng Giêsu đã áp dụng Lời Chúa Gêsu: “Nếu anh em không trở lại mà nên như trẻ em, thì sẽ chẳng được vào nước trời” (Mt 8,2).

Thánh nữ Faustina, vị tông đồ được Chúa Giêsu trao cho sứ mệnh truyền bá Lòng Thương Xót Chúa nói: “Tình yêu lớn thì biến đổi những việc nhỏ thành những việc lớn và chỉ có tình yêu mới làm cho các việc làm của chúng ta có giá trị”.

“Người giáo dân có sứ mạng đặc biệt là làm cho Hội Thánh hiện diện và hành động trong những nơi và những hoàn cảnh mà nếu không có họ thì Hội thánh không thể là muối của trần gian” (LG 33). Đem chân lý Phúc âm vào môi trường sống của mình. Đem công bình bác ái, công lý và tình liên đới đến với mọi người, nhất là những người bé nhỏ bị bỏ rơi, những người bị áp bức hà hiếp, cần sự giúp đỡ và tình thương của chúng ta.

Nước Đức nầy, Giáo hội Đức nầy đã quảng đại tiếp rước đồng bạo Việt Nam tị nạn chúng ta cũng như những sắc dân tị nạn khác. Sự kiện nầy mời gọi chúng ta tỏ ra lòng biết ơn đối với Giáo hôi và đất nước nầy, đồng thời thúc đẩy chúng ta xây dựng xã hội và Giáo hội nơi chúng ta sống, nơi bảo đảm chúng ta một đời sống tự do, xứng nhân phẩm con người, nơi chúng ta được tự do tôn giáo, tổ chức lễ hội gây tình đoàn kết hiệp nhất để sống đức tin. Sống giữa xã hội Đức và trong Giáo hội Đức, chắc chắn chúng ta đã học được bài học bác ái, quảng đại, kỷ luật. Giáo hội Đức có nhiều tổ chức từ thiện bác ái và truyền giáo, là gương cho Công giáo Việt Nam tại Đức biết mở rộng tâm hồn lòng bác ái quảng đại đối với nhu cầu vật chất, tinh thần và truyền giáo của những Giáo hội đang đau khổ đang gặp khó khăn và những dân tộc thuộc các nước đang đương đầu với nạn nghèo đói, bệnh tật. Một hy sinh vật chất nhỏ của chúng ta có thể góp phần không ít đem lại lương thực nuôi sống nhiều người, đem hạnh phúc cho trẻ em, cho chúng cơ may học hành, được giáo dục, cho chúng niềm hy vọng mới cho tương lai.

  Gia đình. Sống giữa một xã hội vật chất tực hóa, giá trị luân lý nền tảng gia đình bị lung lay sụp đổ, người Công giáo chúng ta có bổn phận phải bảo tồn và phát huy giá trị luân lý của gia đình và xã hội; bảo vệ sự sống. Người tín hữu Công giáo phải làm chứng cho Chúa Kitô và Phúc âm của Người giữa một xã hội dần dần bị tục hóa đánh mất căn tính Kitô giáo của mình. Phải dám đi ngược dòng nước, hiên ngang sống đạo. Các thánh tử đạo đã can đảm làm chứng đức tin của mình trước sự bắt bớ hành hạ, giết chốc. Người tín hữu cần sống đức tin giữa đời như muối, như men, như ánh sáng. Công đồng khuyến khích những người giáo dân tham gia chính trị để với đức tin và phúc âm, có thể góp phần xây dựng xã hội trần thế nầy tốt hơn, lành mạnh hơn.



5. Sứ điệp Cầu nguyện. ĐHY Nguyễn Văn Thuận còn cho chúng ta một kinh nghiệm sống Lời Chúa như sau: “Con tin vào hiệu năng của lời cầu nguyện không? Hãy suy lời Chúa: “Ta bảo các con: Hãy xin thì sẽ được; hãy tìm thì sẽ gặp; hãy gõ thì sẽ mở cho” (Lc 11,9). Có công ty bảo hiểm nào bảo đảm cho các con chắc chắn hơn lời ấy không?” (ĐHV 121).

“Con ngạc nhiên vì sao nhiều người mất ơn Chúa gọi, mất đức tin, phản Hội thánh? Trong bao nhiêu lý do, luôn luôn có một lý do chính: họ bỏ cầu nguyện từ lâu” (ĐHV 125).

“Đừng xem thường việc đọc kinh, các Tông đồ đã thưa: “Lạy Thầy xin dạy chúng con cầu nguyện” (Lc11,1). Chúa Giêsu đáp: “Các con hãy cầu nguyện thế nầy: Lạy Cha chúng con ở trên trời...” (Mt 6,9). Chính Chúa dạy đọc kinh” (ĐHV 126).

“Muốn đánh giá công việc tông đồ của ai, con hãy xem người ấy cầu nguyện thế nào” (ĐHV 132).

“Nếu con không cầu nguyện, chẳng ai tin con làm việc vì Chúa đâu!” (ĐHV 133).

“Sách thiêng liêng làm nhiều người nên thánh, đó là dầu nuôi lò lửa cầu nguyện” (ĐHV 145).

6. Sứ điệp Sám hối. Chúa Giêsu bắt đầu rao giảng Tin Mừng bằng việc kêu gọi sám hối: “Thời kỳ đã mãn, Nước Trời đã đến gần. Anh em hãy sám hối và tin vào Tin Mừng” (Mc 1,15). Sám hối là gì, nếu không phải là từ bỏ tội lỗi, từ bỏ xu hướng tội lỗi và tất cả những gì nghịch lại các giới răn và Phúc âm của Chúa?

 

7. Sứ điệp và gia của các Thánh Tử đạo.

Đức Hồng Y Nguyễn Văn Thuận viết: “Trong tù, chính tôi cũng sống nỗi khổ đau của Giáo hội tử đạo. “Tôi tin rằng lòng trung thành của Giáo hội Việt Nam được giải thích bằng máu của các vị tử đạo đó. Các ơn gọi linh mục tu sĩ làm phong phú Giáo Hội Việt Nam được phát sinh từ ơn thử thách nầy. Các vị tử đạo dạy cho chúng ta biết nói hai tiếng “xin vâng”: xin vâng vô điều kiện và vô biên giới đối với tình yêu của Thiên Chúa... Gia sản của các vị tử đạo không phải là chí anh hùng mà lòng trung tín. Gia tài nầy đã được chín mùi bằng cách hướng nhìn lên Chúa Giêsu, mẫu gương của cuộc sống Kitô hữu, mẫu gương của mọi nhân chứng, mẫu gương của tất cả các vị Tử đạo” .

“Chúng ta phải ôm lấy gia sản quý báo của các vị Tử đạo trong cuộc sống mỗi ngày, trong các khó khăn bé nhỏ cũng như lớn lao, trong sự lột bỏ mọi gây hấn, thù hận, và bạo lực. Gia sản của các vị Tử đạo phải được tiếp nhận mỗi ngày qua cuộc sống đầy yêu thương, hiền lành và trung tín. Tu sĩ Isac Siro đã viết: “Hãy để cho mình bị bách hại, nhưng đừng bách hại ai. Hãy để cho mình bị vu khống, nhưng đừng vu khống ai” (ĐHY Nguyễn Văn Thuận, sđd 138-148).

 “Totus Tuus”, Tất cả cho Mẹ, là khẩu hiệu của Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II, cũng phải là khẩu hiệu của chúng ta. Chúng ta cần sống thân mật với Mẹ Maria, tin tưởng ở tình thương của Mẹ, thường xuyên nhớ đến Mẹ, giữ liên lạc tốt với Mẹ, kêu cầu Mẹ, tâm sự với Mẹ về tất cả những vui buồn của cuộc sống.

Để kết thúc, xin gửi đến toàn thể Đại hội và từng người lời khuyên sau đây của Thánh Bernard: “Khi nguy hiểm, lo âu, hay hồ nghi, bạn hãy nghĩ đến Mẹ Maria và hãy gọi Người. Theo Mẹ, bạn sẽ không bao giờ lạc đường. Cầu nguyện với Mẹ, bạn chẳng bao giờ chìm trong tuyệt vọng. Nhìn ngắm Mẹ, bạn sẽ chẳng lầm lạc bao giờ (Mary day by day, Catholic Book Publishing Co, New York 1987, tr. 21).”

Sau bài thuyết trình, Đức Ông cũng đã dành khoảng nửa giờ để giải đáp một số thắc mắc về giáo lý và Kinh Thánh liên quan đến cuộc sống đạo hôm nay. Qua một số câu hỏi, tất cả đều ý thức sự cần thiết phải học hỏi và đào sâu thêm giáo lý căn bản của Giáo Hội để có thể sống đạo, hành đạo và làm chứng tá cho Đạo.

Vào lúc 16g30, tại hội trường chính đã có giờ chầu Thánh Thể do Cha Vinh sơn Trần Văn Bằng chủ tọa. Rất đông tín hữu, trong đó có nhiều bạn trẻ và các em thiếu nhi đến tham dự. Trong giờ chầu, có rất nhiều tín hữu đã lãnh nhận Bí Tích Hòa Giải, để lãnh nhận ơn tha thứ và quyết tâm hoán cải. Đó chính là hoa trái của Chúa Thánh Linh.

Sau cơm chiều, cả hội trường chật ních khán giả đến tham dự đêm trình diễn văn nghệ "cây nhà lá vườn" đầy tình tự mầu sắc dân tộc và quê hương, với sự đóng góp của nhiều nghệ sĩ trẻ tuổi và các em thiếu nhi từ một vài cộng đoàn CGVN tại Đức, đã khuyến khích các mầm non văn nghệ trong các cộng đoàn: thí dụ nhạc cảnh Thằng Bờm, Bà Rằng Bà Rí… Nổi bật nhất là sự tích Đức Mẹ hiện ra tại La Vang đã được các em và các nghệ sĩ diễn xuất thật tuyệt vời và cảm động. Hội trường cũng được thưởng thức những bài ca đầy tình tự dân tộc do nữ ca sĩ Ngọc Huệ đến từ Hoa Kỳ đã mến tặng Đại Hội. Ca sĩ cũng đã giới thiệu sinh hoạt và mục đích của nhóm Xin Vâng với các dự án giúp cho các gia đình và các em thiếu nhi nghèo tại Quê Hương. Ông Nguyễn Hữu Huấn, trưởng ban thực hiện dự án xây tượng đài tỵ nạn tại cảng Hamburg cũng đã trình bầy ngắn gọn tiến trình và mục đích của dự án lịch sử này, cùng tha thiết kêu gọi sự đóng góp tài chính của cộng đoàn tỵ nạn, nhất là của mấy chục ngàn thuyền nhân Việt Nam tại Đức đã được con tầu Cap Anamur cứu vớt.

Vào khoảng 11 giờ đêm, đông đảo các bạn trẻ đã tích cực tham buổi văn nghệ “show your talent“ đến tận đêm khuya, hăng say tham gia các thi đua trình diễn cá nhân cũng như đồng đội. Đây là sáng kiến của Thanh Niên Công Giáo Việt Nam tại Đức nhằm đáp ứng nhu cầu sinh hoạt văn nghệ cho các bạn trẻ, giúp các bạn trẻ phát triển tài năng trình diễn về mọi bộ môn, đồng thời giúp các bạn xa lánh các hộp đêm, không thích hợp với tinh thần của Đại Hội.

Xin đón đọc tường trình Lễ Bế Mạc Đại Hội với cuộc cung nghinh rước kiệu Đức Mẹ với những câu chuyện bên lề Đại Hội.
(bản tin BTL của DCÂC)









mailto:info@danchua.de - Copyright © 2007 Dân Chúa Âu Châu - All rights reserved.