Trang Nhà |  Nguyệt San |  Tin Tức Cũ |  Lời Chúa  |  GĐ La Vang |  Lich CG 2010 |  Quỹ Từ Thiện |  Việt Sử |  Nối Kết |  Liên Lạc print  
  Dân Chúa
  Biến Cố Trong Tháng
  Văn Hóa Việt Nam
  Sức Khỏe Là Vàng
  Đi Vào Cuộc Đời
  Học Hỏi Để Sống Đạo
  Sinh hoạt Cộng Đoàn
  Phân ưu
  Quảng Cáo
  Tủ Sách Dân Chúa
  Đặt Mua Báo
  Bạn đọc viết
  Tìm Bài
  Impressum
  Hình Ảnh
  ĐHCG Việt Nam
0001417251 visits0001417251 visits0001417251 visits0001417251 visits0001417251 visits0001417251 visits0001417251 visits0001417251 visits0001417251 visits0001417251 visits
Trang NhàLời Chúa Kinh Thánh-Single

01-01-10 08:42 Age: 252 days

Những Trình Thuật Mang Chung Chủ Đề Về Bánh (tiếp theo kỳ trước)

BY: LM. THÊÔPHILÊ

Phần 1: 1,14 – 8,30

Đức Giêsu là ai?

Đoạn 3: Máccô 6,6b–8,30

Đoạn 3.9 Máccô 8,1– 9: Đức Giêsu làm cho bánh hoá nhiều lần thứ hai.

1 Trong những ngày ấy, lại có một đám rất đông, và họ không có gì ăn, nên Đức Giêsu gọi các môn đệ lại mà nói:2 “Thầy chạnh lòng thương đám đông, vì họ ở luôn với Thầy đã ba ngày rồi mà không có gì ăn!3 Nếu Thầy giải tán, để họ nhịn đói mà về nhà, thì họ sẽ bị xỉu dọc đường. Trong số đó, lại có những người ở xa đến.”4 Các môn đệ thưa Ngài: “Ở đây, trong nơi hoang vắng này, lấy đâu ra bánh cho họ ăn no? “5 Ngài hỏi các ông: “Anh em có mấy chiếc bánh? “ Các ông đáp: “Thưa có bảy chiếc.”6 Ngài truyền cho họ ngồi xuống đất. Rồi Ngài cầm lấy bảy chiếc bánh, dâng lời tạ ơn, và bẻ ra, trao cho các môn đệ để các ông dọn ra cho đám đông.7 Các ông cũng có mấy con cá nhỏ. Ngài đọc lời chúc tụng, rồi bảo các ông dọn cả cá ra.8 Đám đông đã ăn và được no nê. Người ta nhặt lấy những mẩu bánh còn thừa: bảy giỏ!9 Mà đám đông có khoảng bốn ngàn người. Ngài giải tán họ.

Trình thuật Đức Giêsu làm cho bánh hóa ra nhiều lần thứ hai (8,1-9) là một bộ trình thuật đôi với trình thuật làm bánh hóa ra nhiều lần thứ nhất (6,34-44). Hai bản văn đều có rất nhiều điểm tương đồng. Những điều đó hiển nhiên nhưng cũng ít có ý nghĩa. Phần lớn, thuộc phạm vi khung cảnh tập quán, hoặc những hiện tượng trình thuật và truyền thống. Những tập quán Do Thái về bữa ăn (chúc tụng, bẻ bánh v.v…) hợp cách hoá các từ vựng được dùng tới. Chung chung, chúng ta có thể coi hai văn bản có chung một sơ đồ và dùng cùng từ ngữ. Vì thế, có tác giả coi cả hai bài văn đều đến từ một trình thuật đã có trước đó, và sau này tác giả Máccô mới lấy đưa vào trong cuốn tin mừng của ông. So sánh giữa hai trình thuật, trình thuật làm cho bánh hóa ra nhiều lần thứ hai có cách cấu tạo mới mẻ hơn. Tác giả đưa ra trong đó điều Đức Giêsu khởi xướng mọi sự đáp ứng những đòi hỏi của một nền kitô học tiến triển hơn. Tại đây Đức Giêsu khởi xướng còn trong trình thuật hóa bánh ra nhiều lần thứ nhất, Ngài trả lời cho sự âu lo của các môn đệ. Trong trình thuật thứ hai thấy vai trò của các môn đệ cũng bị suy giảm, và điều này càng rõ hơn với những vụng về của họ trong đối thoại với Đức Giêsu như trong câu văn 8,4.

Cấu trúc trình thuật cũng thấy được khá dễ dàng:

1. Câu 1a: Nhập đề.

2. Câu 1b-5: Đức Giêsu đối thoại với các môn đệ.

3. Câu 6-9: Mô tả phép lạ.

1. Câu 1a: Nhập đề.

Tác giả Máccô mở đầu đoạn văn với cụm từ “Trong những ngày ấy”. Ý nghĩa cụm từ cho thấy ghi chú về thời gian rất mơ hồ, nhưng mang một hình thức khá trang trọng đánh dấu một khởi đầu mới với một trình thuật mới. Cách thức nhập đề trang trọng kéo sự chú ý của người đọc về tầm quan trọng của câu chuyện sắp được kể. Cụm từ mang sự nối kết đoạn văn vào các trình thuật trước, cho dù đoạn văn Máccô 8,1-9 không mang một mối liên kết nào với những gì đã xảy ra trong các trình thuật trước. Trình thuật cũng không cho biết câu chuyện xảy ra ở đâu, nơi nào. Tác giả cũng cho biết “lại có một đám rất đông” cũng không liên kết với đám đông nào đó đã nói đến trước đây. Nhóm đám rất đông người được trình bày như “họ không có gì ăn”, nhưng cũng không thấy tác giả nói lý do tại sao họ lại không có gì ăn? Và một khi đọc tiếp đoạn văn, Đức Giêsu mới nêu rõ lên lý do đó.

2. Câu 1b-5: Đức Giêsu đối thoại với các môn đệ.

Đức Giêsu kêu các môn đệ lại và nói lên một diễn từ nhỏ (câu 2-3). Qua đó chính Đức Giêsu là người khởi xướng, vì Ngài chạnh lòng thương cho một đám rất đông người đang bị đói. Lý do xảy ra điều này vì họ đã theo Đức Giêsu ba ngày rồi, tức là đám rất đông người này đã kiên trì chạy theo nghe lời Đức Giêsu giảng dạy. Họ có mang theo lương thực nhưng tất cả dự trữ đó đã cạn kiệt vì thời hạn cũng qua đã lâu. Đức Giêsu tiếp tục chuyện trò với các môn đệ và cũng đã nghĩ phương thế để làm cho đám đông tản mác ra về. Trong phép lạ hóa bánh lần thứ nhất, chính các môn đệ cũng đã đề nghị để đám đông ra về (6,36). Ở đây Đức Giêsu biết không thể làm được như vậy, và Ngài cho biết để những người đói lả như thế trên đường về rất nguy hiểm cho tính mạng của họ. Nhất là có một số người trong đám họ đến từ nơi rất xa xăm (apo makrothén hèkasin). Theo Thánh Kinh, từ ngữ “từ xa đến” thường diễn đạt dân Do Thái xem người dân ngoại như những “kẻ xa Thiên Chúa” (Giôsuê 9,6.9; Isaia 60,3-4). Vì thế phải làm điều gì đó trước khi để họ ra đi. Nhưng làm cái gì? Đức Giêsu không cho biết rõ ràng ý định của Ngài.

Các môn đệ trả lời suy tư của Đức Giêsu bằng một câu hỏi: “Ở đây, trong nơi hoang vắng này, lấy đâu ra bánh cho họ ăn no?” (câu 4). Câu hỏi này cũng đã được họ đặt ra nơi trình thuật hóa bánh lần thứ nhất (6,37c), và với câu hỏi đó mới biết câu chuyện này được xảy ra nơi hoang địa, tức một nơi đồng không mông quạnh, không có người cư ngụ. Nhưng nếu đọc kỹ, nơi Máccô 7,31 và Máccô 8,10 sẽ cho biết nơi này là bên bờ biển hồ Tibériade. Câu hỏi của các môn đệ còn cho biết không thể nào tìm mua ở đâu ra số bánh để nuôi được một đám rất đông người như thế này. Nhưng lần này, Đức Giêsu không nghĩ đến vấn đề nói các môn đệ phải lo cho đám đông ăn, nhưng Ngài thấy không thể nào giải tán họ ra về được. Vì thế với câu hỏi của các môn đệ Đức Giêsu đặt lại một câu hỏi với họ. Câu hỏi của Ngài lấy lại đúng câu hỏi trong trình thuật hóa bánh lần thứ nhất (6,38): “Anh em có mấy chiếc bánh?”. Họ trả lời có bảy chiếc bánh, khác với trình thuật trước chỉ có năm chiếc bánh (6,38). Trong trình thuật phép lạ hóa bánh ra nhiều lần thứ nhất có nói đến 5 chiếc bánh và được nhiều nhà chú giải coi đó như biểu tượng của cuốn Ngũ Thư (Torah), và con số 7 trong trình thuật này cũng được xem như biểu tượng của 7 giới răn ghi trong sách Sáng Thế 9,4-7, và những giới răn đó áp dụng cho người dân ngoại.

3. Câu 6-9: Mô tả phép lạ.

Việc sửa soạn phép lạ trong trình thuật này rất đơn giản đối với những sửa soạn nơi trình thuật thứ nhất phép lạ hóa bánh ra nhiều (6,39-40). Đức Giêsu chỉ nói đám đông ngồi xuống đất trong tư thế của một bữa cơm thường nhật. Hành động được diễn tả ở đây cũng như trong đoạn văn 6,41 mang biểu tượng bí tích thánh thể. Vì thế, các tác giả thường so sánh đoạn văn nơi đây của hai trình thuật phép lạ hóa bánh ra nhiều với trình thuật bữa Tiệc ly. Trong trình thuật bữa Tiệc Ly chỉ có thêm phần Đức Giêsu ngước mắt lên trời, còn ngoài ra các yếu tố khác như “dâng lời tạ ơn, và bẻ ra, trao cho các môn đệ” đều được cả ba trình thuật nói tới. Tạ ơn Thiên Chúa với những hồng ân Người trao ban. Bánh bẻ ra như dấu chỉ của sự chia sẻ. Trao cho các môn đệ lo phân phát tượng trưng cho sứ mệnh của họ. Thật vậy, giống như trong đoạn văn 6,41 bánh được các môn đệ mang phân phát cho đám đông, và biểu hiện trước những thừa tác vụ trong Giáo hội.

Tiếp theo có bữa cơm với cá. Đây là một việc khá lạ, vì không có đoạn văn nào trước đây nói đến cá, vì thế cá này như điều tự nhiên có. Và sau này cũng không thấy nói việc thu lượm cá còn dư. Ngược lại, trong trình thuật phép lạ hóa bánh ra nhiều lần thứ nhất, bánh và cá được hiệp vào với nhau trong hành động “phụng vụ” của Đức Giêsu. Bữa ăn với cá này cho cảm tưởng như một bữa ăn khác biệt, và dường như được thêm vào trong trình thuật. Bảy chiếc bánh và “vài con cá”, chứ số con cá không được nêu rõ ràng như trình thuật 6,38.41. Đây là số lương thực các môn đệ mang theo và dự trữ.

“Đám đông đã ăn và được no nê”. Câu nói mang điều khẳng định về phép lạ được hoàn thành, và đó cũng là câu trả lời cho câu hỏi các môn đệ đăt ra ở câu 4 “Ở đây, trong nơi hoang vắng này, lấy đâu ra bánh cho họ ăn no?”. Và để nhấn mạnh đến phép lạ, tác giả còn nêu lên sự dư thừa “người ta nhặt lấy những mẩu bánh còn thừa: bảy giỏ!”, và có điều lạ không thấy nói gì đến các con cá. Mẫu bánh dư thừa ở đây chỉ còn có bảy giỏ thay vì mười hai giỏ như trình thuật đầu. Trong trình thuật phép lạ hóa bánh ra nhiều cho biết có khoảng chừng năm ngàn người ăn và không kể số đàn bà và con nít. Trình thuật Máccô ở đây không nói đến con số người được ăn no nê, nhưng nếu đọc trong trình thuật song song nơi Mátthêu 15,38, tác giả nêu lên con số là bốn ngàn người, không kể đàn bà và con nít. Con số bốn ngàn không mang một ý nghĩa gì trong Thánh Kinh, nhưng chỉ muốn nói lên đây là một nhóm người khá lớn.

Trong phần đầu trình thuật, Đức Giêsu đã không có ý giải tán đám đông ra về khi họ còn đói, nhưng giờ đây đám đông đã được ăn no đầy nên Ngài giải tán họ. Ngay những người ở xa cũng đủ sức để lên đường trở về nguyên quán.

Kết luận.

Đoạn văn Máccô 8,1-9 đưa ra những dấu hiệu cho thấy những người thừa hưởng phép lạ của Đức Giêsu chính là những người dân ngoại. Bối cảnh của những trình thuật trước đều có nói tới những người đến từ xa, bảy chiếc giỏ được thay cho mười hai cái thúng, vì con số bảy theo truyền thống là con số dân ngoại thường dùng. Và trình thuật phép lạ hóa bánh lần thứ hai nêu lên rõ ràng hình ảnh Đức Giêsu động lòng thương với mọi người, và nhất là đám đông người đến từ dân ngoại. Điều đó được diễn đạt dưới hình thức nuôi một đám đông dân chúng bằng bữa ăn. Chính Đức Giêsu khởi xướng phép lạ biểu hiện trước công trình cứu độ của Đức Giêsu mang chiều kích phổ quát. Ngài đã mở ra bàn tiệc thiên sai cho mọi người.

Đoạn 3.10 Máccô 8,10-13: Người Pharisêu xin một dấu trên trời.

10 Lập tức, Đức Giêsu xuống thuyền với các môn đệ và đến miền Đanmanutha.11 Những người Pharisêu kéo ra và bắt đầu tranh luận với Đức Giêsu, họ đòi Ngài một dấu lạ từ trời để thử Ngài.12 Ngài thở dài não nuột và nói: “Sao thế hệ này lại xin một dấu lạ? Tôi bảo thật cho các ông biết: thế hệ này sẽ không được một dấu lạ nào cả.”13 Rồi bỏ họ đó, Ngài lại xuống thuyền qua bờ bên kia.

Sau trình thuật phép lạ hóa bánh ra nhiều có một trình thuật nhỏ Máccô 8,10-13 và cũng được Mátthêu 12,38-40 và Luca 11,29-30 nói tới. Cả ba trình thuật đều nói việc người Pharisêu đòi Đức Giêsu cho một dấu lạ. Trong Tin mừng Mátthêu và Luca đều nói tới dấu lạ đó qua hình ảnh ông Giona, nhưng Máccô lại không nhắc một điều gì về dấu chỉ Giôna. Các nhà chú giải hôm nay cho rằng Máccô không hiểu ý nghĩa câu chuyện Giôna hoặc ông thấy câu chuyện đó không cần thiết cho đoạn văn, vì thế tác giả không để vào trong đoạn văn này như hai tác giả Nhất Lãm kia.

Đoạn Máccô 8,10-13 được coi như những câu văn chuyển tiếp, và thường được các học giả cho rằng chính Máccô biên soạn. Ông đã lấy lại các câu 11-12 từ truyền thống có trước đó. Chung chung, một số các tác giả đều nhìn nhận Máccô đã rút ngắn đoạn văn gốc nằm ở tài liệu Q, nhưng cũng có thể tác giả gợi hứng từ một truyền thống riêng tư nào đó. Trong truyền thống đó những câu văn thường có những từ mang đậm nét văn hóa Sê mít.

Thể loại văn chương của đoạn văn Máccô 8,10-13 thuộc loại “cách ngôn hay một danh ngôn”. Một lời được đặt vào trong một hoàn cảnh nào đó và được khai triển trong một bối cảnh văn chương tương ứng.

Câu 10: được dùng như câu văn chuyển tiếp đưa Đức Giêsu lên thuyền làm một cuộc hành trình mới với các môn đệ. Máccô nói họ di chuyển về “đến miền Đanmanutha”. Đanmanutha là một nơi xa lạ. Tên địa danh này gây ra điều khó hiểu về địa lý. Mátthêu thay Đanmanutha bằng Magadan (15,39) nhưng cũng không rõ ràng hơn. Nhiều tác giả đã đưa ra tên nhiều nơi khác nhau cho địa danh này như một làng gần Gérasa, hoặc làng Magdala, hoặc miệng cửa sông Salmon cách làng Magdala 2 cây số. Vì quá nhiều giả thuyết nên không một nơi được coi như chính xác. Nếu vậy, thuyền Đức Giêsu đi về hướng nào? Theo Máccô 6,31 nhóm lên tàu về mạn phía đông. Vài câu văn sau như Máccô 8,13 mới cho biết họ qua bờ bên kia để đến thành Bethsaide. Như thế, hiện thời Đức Giêsu và các môn đệ vẫn còn bên bờ phía đông của hồ. Nếu theo giả thuyết này, Đức Giêsu khó có thể gặp được người Pharisêu ở đây, vì đây thuộc phần đất dân ngoại. Vì thế, một số nhà chú giải cho rằng Đức Giêsu và các môn đệ ở một nơi nào đó ở bờ phía tây của hồ và sau đó mới đi ngược lại để qua bờ bên kia. Như vậy mới hợp lý hơn. Thế nhưng cần phải nói rất khó giải quyết được vấn đề chỉ định chính xác Đanmanutha thuộc vùng nào, nhưng có thể nó thuộc bờ phía tây của hồ Tibériade, tức là thuộc phần đất người Do thái. Như vậy Đức Giêsu mới có thể gặp được nhóm người Pharisêu.

Câu 11: Nhóm người Pharisêu xuất hiện nhưng không thấy nói họ đến từ đâu. Họ đòi hỏi Đức Giêsu cho một “dấu chỉ từ trời”. Dấu chỉ từ trời thường chỉ định một biến cố liên quan đến vũ trụ và loan báo thời cánh chung, hoặc một biến cố trong đó Thiên Chúa dấn thân làm gì đó cho một biến cố vũ trụ xảy ra như bánh “manna” đến từ trời, hoặc mặt trời đứng yên một chỗ… Dấu chỉ đến từ nguyên Hy lạp “sèmeion”, và từ Híp ri “’ôt”, tức là một dấu đặc trưng giúp nhận diện ra một người nào đó, hay một vật gì đó. Ở đây, người Pharisêu muốn dấu chỉ đó phải đến “từ trời”. Trời là nơi Thiên Chúa ngự và hành động. Người Pharisêu muốn được thấy sự huyền diệu của Thiên Chúa tỏ bày để bảo đảm cho sứ vụ của Đức Giêsu, cũng như quyền hành của Ngài. Câu đòi hỏi của người Pharisêu mang đầy ác ý. Họ đến để gây thử thách cho Đức Giêsu, hầu giăng một cái bẫy cho Ngài. Họ dư biết điều đòi hỏi đó sẽ chẳng bao giờ được đáp ứng và như thế họ có lý do coi Đức Giêsu như một người bịp bợm.

Câu 12: Đức Giêsu không đi vào cái bẫy của người Pharisêu. Ngài thở dài não nuột (anasténaxas tô pneumati) xuất phát từ trong lòng. Đức Giêsu trả lời qua hai giai đoạn. Trước hết Ngài đặt một câu hỏi hùng biện và người Pharisêu bị gọi là “thế hệ này” (hè généa hautè). Trong Tin mừng Máccô cụm từ “thế hệ này” thường bị coi là “thế hệ ngoại tình, tội lỗi” (8,38); “thế hệ cứng lòng tin” (9,19). Trong Thánh Kinh cụm từ “thế hệ này” thường ám chỉ đám dân chống đối trong Xuất Hành (Đnl 1,35; 32,5.20; Thánh vịnh 95,10), một thế hệ đòi ông Môsê cho dấu chỉ dù sau khi họ đã vượt qua Biển đỏ. Thế hệ đó được tiếp nối ngày hôm nay với những người Do Thái cứng lòng tin trước sứ điệp Tin mừng.

Sau câu hỏi hùng biện, Đức Giêsu mới trả lời với một lời công bố trang trọng “amen, ta bảo thật các ngươi” nhấn mạnh cho điểm tiêu cực tiếp nối: “thế hệ này sẽ không được một dấu lạ nào cả”. Câu trả lời như một lời chống đối toàn diện: Thiên Chúa không cho một dấu chỉ nào hết như bằng chứng cho thế hệ cứng lòng tin này.

Câu 13: Ở đây cũng như trong các trình thuật tranh luận khác trong Tin mừng, Đức Giêsu đã có lời nói cuối cùng. Đám người chống đối Ngài còn đứng đó, Đức Giêsu và đám môn đệ lên thuyền để qua phía bờ bên kia về thành Bethsaide. Thành này đa số gồm người dân ngoại nhưng gần phần đất Galilê cũng có một số lớn người Do Thái.




mailto:info@danchua.de - Copyright © 2007 Dân Chúa Âu Châu - All rights reserved.