01-08-09 09:55 Age: 1 yrs
Những Trình Thuật Mang Chung Chủ Đề Về Bánh
Phần 1: 1,14 – 8,30
Đức Giêsu là ai?
Đoạn 3: Máccô 6,6b–8,30:
Những Trình Thuật Mang Chung Chủ Đề Về Bánh
(tiếp theo kỳ trước)
Đoạn 3.4 Máccô 6,45 - 52: Đức Giêsu đi trên mặt biển hồ.
45 Lập tức, Đức Giêsu bắt các môn đệ xuống thuyền qua bờ bên kia về phía thành Bếtxaiđa trước, trong lúc Ngài giải tán đám đông.46 Sau khi từ biệt các ông, Ngài lên núi cầu nguyện.47 Chiều đến, chiếc thuyền đang ở giữa biển hồ, chỉ còn một mình Ngài ở trên đất.48 Ngài thấy các ông phải vất vả chèo chống vì gió ngược, nên vào khoảng canh tư đêm ấy, Ngài đi trên mặt biển mà đến với các ông và Ngài định vượt các ông.49 Nhưng khi các ông thấy Ngài đi trên mặt biển, lại tưởng là ma, thì la lên.50 Quả thế, tất cả các ông đều nhìn thấy Ngài và đều hoảng hốt. Lập tức, Ngài bảo các ông: “Cứ yên tâm, chính Thầy đây, đừng sợ!“51 Ngài lên thuyền với các ông, và gió lặng. Các ông cảm thấy bàng hoàng sửng sốt,52 vì các ông đã không hiểu ý nghĩa phép lạ bánh hoá nhiều: lòng trí các ông còn ngu muội!
Trình thuật Máccô 6,45 – 52 là trình thuật thứ hai trong một bộ ba trình thuật nói về sự đi qua biển hồ (4,35-41; 6,45-52; 8,14-21). Cả ba trình thuật đều có những điểm liên kết vào nhau trên bình diện tường thuật và thần học. Trình thuật thứ nhất và trình thuật thứ hai là những câu chuyện về phép lạ. Trình thuật thứ hai và trình thuật thứ ba gắn liền với trình thuật phép lạ bánh hóa ra nhiều. Trong cả ba trình thuật, Đức Giêsu ở giữa các môn đệ. Máccô đều nhấn mạnh các ông chẳng hiểu gì về việc làm của Thầy mình.
Trình thuật thứ hai nói về Đức Giêsu đi trên mặt biển hồ cho thấy rõ được những điểm rời rạc về địa lý cũng như thứ tự của những diễn biến. Tác giả Máccô lấy lại một trình thuật có sẵn trong truyền thống giống như trình thuật nói về sóng gió lặng yên và đưa vào bối cảnh nơi đây. Truyền thống trên có thể lấy lại một số dữ kiện đến từ Cựu ước để kết nên trình thuật. Trong Cựu ước đã có nói tới việc Giavê Thiên Chúa đi trên mặt nước (Gióp 9,8; Thánh vịnh 77,20; Isaia 43,16); hình thức mạc khải với cụm từ “Ta là” nói về những cuộc thần hiện (Xuất hành 2,14; Isaia 43,1-3.10-11); sự sợ hãi của con người trước sự xuất hiện của một đấng thần linh (Isaia 6,5; Êdêkien 1,28; Xuất hành 3,6). Vì thế, một số nhà chú giải cho trình thuật Đức Giêsu đi trên mặt biển hồ như một cuộc thần hiện của Chúa Kitô được kể lại theo các cuộc thần hiện trong Cựu ước.
Ngoài ra, trình thuật cũng còn nêu lên ý nghĩa phép lạ giải thoát các môn đệ khỏi một hiểm nguy, một tình trạng khó khăn, và khi Đức Giêsu can thiệp bằng cách bước lên thuyền sóng gió lại lặng yên. Đức Giêsu bước lên thuyền cũng cho các môn đệ biết Ngài không phải ma. Điều đó giải thoát họ khỏi sự sợ hãi và hiểm nguy trong lúc đang chèo thuyền trên biển hồ vào lúc ban đêm. Với những điểm đó, trình thuật Máccô 6,45-52 thuộc thể văn phép lạ. Đức Giêsu được trình bày như người làm phép lạ. Truyền thống trình bày Đức Giêsu với những quyền năng phi thường, siêu tự nhiên. Tác giả viết nên trình thuật có thể như một nhân chứng thấy những việc đã xảy ra. Ông phấn khởi và viết lên cũng như thêu dệt lại với ký ức của mình. Dù sao, đối với những người dân đánh cá thuộc biển hồ Tibêriát, Đức Giêsu được coi như Đấng chữa lành giải quyết những khó khăn trong cuộc sống thường nhật của họ như nguy hiểm của bão táp, hay nguy hiểm khi phải di chuyển trên hồ vào lúc ban đêm…
Cấu trúc đoạn văn Máccô 6,45-52 được chia ra làm 2 phần:
1. Máccô 45-47: Đức Giêsu xa cách các môn đệ
2. Máccô 48-52: Đức Giêsu tỏ mình và cứu vớt. Phần này còn có thể được chia ra làm hai: phần thứ nhất nói về hành động và những lời của Đức Giêsu (48.50b-51a); và phần thứ hai các môn đệ phản ứng (49-50a.51c-52).
1. Máccô 45-47: Đức Giêsu xa cách các môn đệ.
Câu 45 được tác giả Máccô biên soạn, ngoại trừ việc nêu lên các môn đệ và thành Bếtxaiđa đến từ truyền thống. Thái độ của Đức Giêsu đối với các môn đệ bắt họ phải vội vã lên thuyền gây nên sự ngạc nhiên và tranh cãi giữa các nhà chuyên môn. Tại vì không có câu văn nào giải thích tại sao Đức Giêsu bắt các môn đệ phải lên thuyền. Nhưng việc làm đó chỉ có thể hiểu nếu như nó được vào trong chủ đề các môn đệ chưa thông hiểu về ý nghĩa của việc bánh hóa ra nhiều như Máccô ghi nơi câu cuối 52. Họ chưa thể chăm nom đám đông và họ chỉ có thể làm được điều đó một khi họ hiểu rằng Đức Giêsu và các môn đệ phải trải qua đau khổ. Đức Giêsu đưa ra lời kêu gọi và một lời hứa. Giờ đây Ngài vẫn tiếp tục sửa soạn cho họ nhận trách nhiệm. Vì thế, Đức Giêsu tách rời họ ra khỏi đám đông, gửi họ đi và hẹn gặp lại họ một ít lâu sau đó; cũng có thể Đức Giêsu sửa soạn cho việc tỏ mình ra cho các môn đệ thôi, nên Ngài phải tách họ ra khỏi đám đông.
Đức Giêsu đã đi đến phía bên kia bờ biển hồ trước các môn đệ. Trong trình thuật phép lạ bánh hóa ra nhiều, tác giả Máccô không nói rõ việc đó xảy ra ở phía nào bờ biển hồ, và các nhà chuyên môn thường cho phép lạ đó xảy ra nơi phía Tây bờ biển hồ, và như vậy thuyền đi về phía thành Bếtxaiđa nằm ở phía bờ Đông Bắc là điều dễ dàng chấp nhận. Đám đông trở về làng mạc của họ, các môn đệ đang trên thuyền ở biển hồ và Đức Giêsu chỉ còn lại một mình. Ngài đi lên núi để cầu nguyện đưa ra hình ảnh một Đức Giêsu có tình người. Sau khi nuôi dưỡng đám đông, Đức Giêsu cần được chuyện trò thân mật với Thiên Chúa Cha như thể bảo đảm Ngài vẫn đang đi đúng chương trình của Người. Núi là nơi thiết yếu, ưu tiên để hiệp thông với Thiên Chúa giống như đã thấy trong trình thuật ơn gọi của Nhóm Mười Hai và sau này trong trình thuật Đức Giêsu tỏ mình (9,2-9). Trong tin mừng, Máccô cũng đã nói tới ba lần Đức Giêsu cầu nguyện. Lần đầu tại nơi hoang địa (1,35); lần thứ hai trên núi (6,46) và lần thứ ba tại vườn Giệtsimani (14,32-42).
Câu 47 cho biết chiều đang xuống. Chi tiết này cũng làm ngạc nhiên không ít cho các nhà chú giải. Thật vậy, khi nói về phép lạ hóa bánh ra nhiều, Máccô cho câu chuyện xảy ra vào buổi chiều, và khi để mọi chuyện xong xuôi với việc gom lại những mẩu bánh dư thừa, cho người dân đi về lại các làng mạc… hẳn trời cũng đã sập tối rồi. Ở đây, Máccô lại ghi “chiều đến” cho thấy tác giả không chú ý làm hài hòa thứ tự của các trình thuật.
Máccô ghi các môn đệ đang chèo thuyền về hướng thành Bếtxaiđa. Địa điểm này là cảng Gaulanitide được thủ hiến Philípphê xây dựng vào khoảng năm thứ 2 trước công nguyên và còn được gọi là cảng Julias. Bởi vậy, Bếtxaiđa mang nguồn gốc hy lạp có ảnh hưởng dân ngoại và là một thành phố bên bờ biển hồ Tibêriát. Đức Giêsu có đi qua thành phố này ít nhất một lần (8,22). Đây cũng là quê hương của các môn đệ Philípphê, Anrê và Phêrô (Ga 1,44) cho thấy trong kinh thành với phần đông người ngoại giáo nhưng cũng đã có một số người Do Thái cư ngụ.
Phần thứ nhất của trình thuật kết thúc ghi rõ lúc các môn đệ còn ở giữa biển hồ, Đức Giêsu một mình ở trên đất liền. Một hoàn cảnh gợi lên hình ảnh khi Chúa Kitô dường như vắng mặt là lúc những tín hữu gặp phải phong ba thử thách đủ mọi cách.
2. Máccô 48-52: Đức Giêsu tỏ mình và cứu vớt.
Những thử thách Máccô ghi lại được tóm qua cụm từ các ông phải vất vả chèo chống (câu 48). Các môn đệ không bị hiểm nguy đe dọa như trong trình thuật về bão táp, nhưng họ bị gió thổi ngược chiều và cản đường không cho chiếc thuyền vượt tới. Đức Giêsu đã nhìn thấy điều đó từ trên đất liền. Một chiếc thuyền giữa biển hồ khi màn đêm xuống đáng làm cho mọi người phải ngạc nhiên, vì bình thường, những thợ đánh cá ban đêm chỉ tìm đánh ngay ven bờ chứ không ai tìm ra giữa biển hồ với biết bao nguy hiểm không thể biết trước được. Ở đây Đức Giêsu đã thấy các môn đệ chèo chống, vì Ngài có thể ở trên một chỗ cao nào đó. Trong màn đêm thấy được điều đó cũng khá khó khăn, và chính Ngài khởi xướng việc chủ động. Đức Giêsu đã thấy như Thiên Chúa nói với ông Môsê ở bụi gai đang bốc cháy trên núi Horeb: “Ta đã thấy (idôn eidon) sự khốn khổ của dân Ta bên Ai Cập” (Xuất hành 3,7), và Thiên Chúa đã ra tay can thiệp. Đức Giêsu giống như Thiên Chúa đã ra tay can thiệp vào khoảng canh tư, tức là vào khoảng từ 3 giờ đến 6 giờ sáng. Người Do Thái chia giờ ban đêm ra làm ba canh, nhưng theo người La mã lại được chia thành bốn canh: canh 1 từ 18giờ đến 21giờ; canh 2 từ 21giờ đến 24 giờ; canh ba từ 0giờ đến 3giờ và canh 4 từ 3giờ đến 6giờ). Đức Giêsu đi đến thuyền các môn đệ bằng cách đi trên mặt biển hồ. Phép lạ đi trên mặt biển hồ tỏ ra quyền năng thần thánh của Đức Giêsu. Trong nền văn hoá hy lạp cũng như nền văn chương Phật giáo có nói đến thể loại phép lạ kỳ diệu này, và trong Cựu ước cũng hay thường đề cập tới phương diện đó.
Có ít nhất ba cuộc thần hiện của Thiên Chúa trong Cựu ước. Người xuống từ trên đỉnh núi để cứu độ dân tuyển chọn (Đệ Nhị Luật 33,2; Thẩm Phán 5,4-5; Khabacúc 3,3). Có điều khác biệt với các trình thuật Cựu ước nêu trên, Đức Giêsu không xuống từ đỉnh núi, nơi Ngài cầu nguyện để cứu các môn đệ, nhưng Ngài làm việc đó khi đã xuống núi và đang ở trên đất liền. Đức Giêsu đến với các môn đệ bằng cách đi trên mặt nước giống như Giavê Thiên Chúa làm trong sách Gióp 9,8. Đức Giêsu có được quyền năng giống như quyền năng của Thiên Chúa.
Đức Giêsu đi trên mặt biển hồ và đến với các môn đệ. Ngài như thể vượt qua thuyền của các môn đệ cho thấy thuyền của họ không tiến thêm được nữa. Tại sao tác giả Máccô nói tới điểm này? Trong bản Kinh Thánh Bảy Mươi (LXX), từ parerchestai có nghĩa “tiến vượt qua” thường được dùng nói tới Thiên Chúa “vượt qua” trong các cuộc thần hiện để gợi lên tính cách siêu việt. Đó là sự biểu lộ của Thiên Chúa cho ông Môsê trên núi Horeb (Xuất hành 33,19.22; 34,6), cho ngôn sứ Êlia cũng trên núi Horeb để loan báo việc Người đến (3 Vua 19,11). Quy chiếu theo Cựu ước, “vượt qua” các ông không có nghĩa từ chối biểu lộ, nhưng là cách duy nhất để Đức Giêsu biểu lộ cho các ông như Thiên Chúa. Vì theo não trạng của Kinh Thánh người ta không thể nào thấy được Thiên Chúa mà không chết.
Các câu 49-50a mang một chút mỉa mai nói về phản ứng của các môn đệ trước những gì Đức Giêsu đã làm. Tất cả các môn đệ đều thấy rõ Đức Giêsu, thay vì chiêm ngưỡng Thầy mình, nhưng họ lại tưởng tượng là ma tại nơi giữa biển hồ và ngay vào giờ giấc đó. Vì thế họ hoảng sợ, rơi vào sợ hãi mê tín giống những người ngoại giáo đui mù (Khôn Ngoan 17,4.14).
Đoạn Máccô 6,49-50 rất sát gần với các trình thuật hiện ra của Đấng Sống lại, nhất là đối với đoạn văn theo Luca 24,36-39. Vì vậy, có một số nhà chú giải nghĩ rằng trình thuật Đức Giêsu đi trên mặt biển trước đó là một trình thuật Đức Giêsu tỏ hiện sau khi sống lại, và được lấy lại biên soạn cho một phép lạ xảy ra trong cuộc đời Đức Giêsu lúc còn tại thế gian. Thế nhưng, khi phân tách giữa các trình thuật cũng có nhiều điểm khác biệt nhau nên ý kiến trên khó có thể được chấp nhận. Trình thuật theo Máccô 6,45-52 rất khác với các trình thuật Phục sinh, vì những dữ kiện trong trình thuật được thuật lại theo cái nhìn của Đức Giêsu. Thế nhưng, cũng giống như trong các cuộc hiện ra sau Phục sinh (Mátthêu 28,10; Luca 24,37-42), Đức Giêsu trấn an và khẳng định căn tính của mình (câu 50b). Lời công bố căn tính được lồng vào hai lời trấn an. Con người các môn đệ thấy không phải là ma như các ông tưởng tượng, nhưng đích thực là Đức Giêsu mà các ông đã biết và giờ đây Ngài tỏ lộ căn tính ra cho các ông biết. Nhiều tác giả dựa vào lời Đức Giêsu “Ta là” (egô eimi) thường được gắn liền cho Thiên Chúa trong Cựu ước cho rằng Đức Giêsu khẳng định như Thiên Chúa. Máccô dùng từ “egô eimi” tất cả 3 lần trong cuốn Tin mừng (13,6; 14,62), nhưng từ này trong Máccô không mang ý nghĩa tuyên bố căn tính thần thánh. Vì thế, dù từ “egô eimi” có gợi lại công thức mạc khải Thiên Chúa trong Cựu ước, nhưng ở vào bối cảnh tin mừng Máccô lại không mang đầy đủ ý nghĩa như trong Cựu ước. Bị coi như ma, Đức Giêsu chỉ nhắm tới việc cho các môn đệ nhìn nhận ra Ngài và trấn an họ, nhưng cũng chính con người đó đi trên mặt biển hồ. Ngài đã chế ngự yếu tố thiên nhiên mà bình thường điều đó Kinh thánh cho biết chỉ một mình Thiên Chúa mới thực hiện được.
Câu 51 ghi Đức Giêsu lên thuyền của các môn đệ, và các ông thấy rõ ràng hơn nữa chính thật Đức Giêsu bằng xương bằng thịt. Gió cũng lặng im như một giải thoát cho các ông, và biểu lộ cái lớn lao siêu nhiên của Đức Giêsu đang hiện diện với các ông. Phản ứng của các môn đệ nơi đây cũng giống như phản ứng của người dân trong các trình thuật phép lạ. Họ đều mang lòng sửng sốt và tác giả Máccô còn nhấn mạnh các môn đệ vẫn chưa hiểu được việc Đức Giêsu thực hiện “các ông đã không hiểu ý nghĩa phép lạ bánh hoá nhiều: lòng trí các ông còn ngu muội!”. Máccô thường nói đến điều các môn đệ không hiểu như sau này trong trình thuật Máccô 8,17-21; và đoạn cuối trình thuật Máccô còn kết án nặng hơn khi cho “lòng trí các ông còn ngu muội!”. Đây là điều nơi Máccô 3,5 đã có nói tới khi nói về những kẻ chống đối Đức Giêsu, và sau này Máccô vẫn nhấn mạnh lại nơi 8,17 khi nói đến các môn đệ thêm lần nữa. Thật vậy, khi đi vào mầu nhiệm con người Đức Giêsu, dù các môn đệ có gần gũi với Đức Giêsu, nhưng lòng họ vẫn ngu muội như biết bao nhiêu người khác.
Kết luận.
Các môn đệ còn đang bàng hoàng và chưa hiểu khi Đức Giêsu làm phép lạ bánh hóa ra nhiều, và giờ đây họ lại càng không hiểu thêm phép lạ Đức Giêsu đi trên mặt biển hồ. Chỉ có qua hy sinh mới có thể thật sự theo Đức Giêsu và hiểu được việc Ngài làm.
Đoạn 3.5 Máccô 6,53 – 56: Đức Giêsu chữa nhiều người ở Ghennêxarét.
53 Khi qua biển rồi, Đức Giêsu và các môn đệ ghé vào đất liền tại Ghennêxarét và lên bờ. 54 Thầy trò vừa ra khỏi thuyền, thì lập tức người ta nhận ra Đức Giêsu.55 Họ rảo khắp vùng ấy và nghe tin Ngài ở đâu, thì bắt đầu cáng bệnh nhân đến đó.56 Ngài đi tới đâu, vào làng mạc, thành thị hay thôn xóm nào, người ta cũng đặt kẻ ốm đau ở ngoài đường ngoài chợ, và xin Ngài cho họ ít là được chạm đến tua áo choàng của Ngài; và bất cứ ai chạm đến, thì đều được khỏi.
Máccô 6,53-56 thường được coi như một bảng tóm tắt do Máccô biên soạn. Bản tóm tắt kết thúc một toàn bộ văn chương cho đoạn Máccô 6,32-56. Và đây là bản tóm tắt thứ ba trong tin mừng Máccô (1,32-34; 3,7-12). Trong Máccô 6,53-56, có thể dữ kiện duy nhất đến từ truyền thống như việc nêu tên thành Ghennêxarét. Một lần nữa, trình thuật nói lên hiện tượng đám đông kéo đến đi tìm Đức Giêsu, vì Ngài nổi tiếng như người đã chữa lành. Máccô nhấn mạnh ở đây mối tương quan giữa Đức Giêsu và đám đông dân chúng. Điều này nhắc nhở cho các môn đệ có sự hiện diện của đám đông dân chúng và họ mang một tầm quan trọng trong ý tưởng của Thiên Chúa.
Câu 53 nhấn mạnh nơi xảy ra phép lạ Đức Giêsu đi trên mặt biển hồ. Điều Máccô nhấn mạnh nơi đây cũng có khác thường vì nó không tương ứng với nơi các môn đệ coi như phải đến nơi câu văn 6,45. Thật vậy, Đức Giêsu gửi các môn đệ đến thành Bếtxaiđa, nhưng ở đây lại nói đến thành Ghennêxarét. Tên địa phương Ghennêxarét chỉ được nói đến trong tin mừng Nhất Lãm (Máccô 6,53; Mátthêu 14,34; Luca 5,1). Vùng này có tên Ginnesar hay Gennèsar, một cánh đồng phì nhiêu và nhiều cây cối mà sử gia Do Thái Flavius Josèphe có nói tới với nhiều điểm thuận lợi. Vùng này trải dài ra phía bờ Tây bắc biển hồ, phía nam thành Caphácnaum và phía bắc hồ Tibêriát (hôm nay là El-Ghuweir). Luca 5,1 gọi là hồ Ghennêxarét, nhưng không có văn bản nào cho Gennèsar như danh kêu của một địa phương. Vì thế, Ghennêxarét đúng hơn là một vùng chứ không phải một thành phố.
Trình thuật tại đây có điểm không liên kết cho lắm. Các nhà chú giải cố gắng giải thích về vấn đề này như gió thổi mạnh và ngược dòng nên có thể làm cho thuyền không thể đi đúng hướng về thành Bétxaiđa. Thành Bétxaiđa và Ghennêxarét lại không cách xa nhau lắm. Cũng có thể khi biên soạn tin mừng, tác giả Máccô đã thay đổi bản văn gốc. Câu văn 53 bình thường kết thúc phép lạ về bánh và tiếp theo câu 6,44, lại được Máccô đặt vào nơi đây.
Khi nhóm vừa ra khỏi thuyền, đám đông nhận ra ngay Đức Giêsu cho dù Ngài chưa bao giờ tới vùng này. Chuyện xảy ra sau đó cũng đã được nói tới nhiều lần trước đây. Người ta mang đến nhiều bệnh nhân mong được Đức Giêsu chữa lành. Người dân chỉ mong chạm được tua áo choàng của Ngài, giống như trong câu chuyện người đàn bà bị băng huyết.
Bài học rút ra cho các môn đệ qua đoạn này để thấy sứ vụ không chỉ rao giảng nhưng còn chữa lành bệnh tật. Người môn đệ phải biết lãnh trách nhiệm trước nhu cầu và lòng ao ước của người dân giống như vị Thầy của mình.
Kết luận.
Trong đoạn văn ngắn này tác giả Máccô ghi lên hình ảnh một Đức Giêsu thành công trong sứ vụ. Ở đây Ngài chỉ chữa lành bệnh tật chứ không có lời nào rao giảng. Một sứ vụ đáp trả nhu cầu của những con người bình thường.