Trang Nhà |  Nguyệt San |  Lời Chúa  |  GĐ La Vang |  Hành Hương |  Lich CG 2014 |  Quỹ Từ Thiện |  Việt Sử |  Nối Kết |  Liên Lạc print  
  Dân Chúa
  Trang Thơ Dân Chúa
  Biến Cố Trong Tháng
  Văn Hóa Việt Nam
  Sức Khỏe Là Vàng
  Đi Vào Cuộc Đời
  Học Hỏi Để Sống Đạo
  Sinh hoạt Cộng Đoàn
  Chúc Mừng
  Phân ưu
  Quảng Cáo
  Tủ Sách Dân Chúa
  Đặt Mua Báo
  Bạn đọc viết
  Tìm Bài
  Impressum
0012252177 visits0012252177 visits0012252177 visits0012252177 visits0012252177 visits0012252177 visits0012252177 visits0012252177 visits0012252177 visits0012252177 visits
Trang NhàY khoaY Khoa-News

01-10-01 17:35 Age: 13 yrs

Kinh bế (amenorrhées)

BY: B.S. BÙI VĂN THỌ

Vào thời buổi văn minh ngày nay, chẳng mấy ai đi thăm Bác-sĩ vì kinh muộn, hay kinh bế. Trái lại họ cho rằng kinh nguyệt là một công việc bận rộn, phiền phức mà không mấy gì ích lợi. Cũng theo chiều hướng và đà tiến của xã hội văn minh ngày nay được phối hợp với sự đòi hỏi của một số đông phụ nữ muốn được ngưng kinh nguyệt lâu dài, nếu không muốn nói là vĩnh viễn, các hãng bào chế dược phẩm đã tung ra trên thị trường nhiều loại thuốc mới có công dụng đó.
Nguyên nhân nào làm cho kinh nguyệt bị bế tắc?
Theo giả thuyết tây phương:
 Do tâm thần gây nên: trường hợp này rất thường thấy qua những chấn động mạnh vào tâm thần (choc psychique) làm cho kinh nguyệt bị bế nghẽn.
 Thần kinh tuyến yên (neuro hypophysaires) bị rối loạn cũng làm cho kinh nguyệt bị bế.
 Dùng các loại thuốc ngừa thai, (bất luận thời gian ngắn hạn hay dài hạn, ở những tạng người nhậy cảm), sau khi ngưng dùng thuốc, kinh kỳ không thấy tái lập trở lại. Trường hợp này rất thường xẩy ra.
 U nang buồng trứng (kyste de l’ovaire), hay bướu (fibrome) phần lớn có liên quan trực tiếp đến kinh kỳ.
 Có rất nhiều loại thuốc trong thời gian chữa bệnh, (ung thư, bệnh thần kinh suy nhược, sida v.v.) với hậu chứng của thuốc đã làm cho tắt kinh nguyệt, và kinh kỳ không trở lại.
Theo lý thuyết đông-y:
Con gái bình thường, vào khoảng trên dưới 14 tuổi thì bắt đầu có kinh nguyệt. Nếu kéo dài và vượt quá 18 tuổi, vẫn không thấy hành kinh, hoặc đến kỳ kinh mà không thấy, (ngoại trừ những người mẹ trong thời gian cho con bú mớm hay thời kỳ thụ thai), trường hợp này ta thường gọi là "kinh bế hoặc bất nguyệt". Được xếp vào loại ít thấy như: cứ hai tháng mới thấy một lần, ta gọi là "tính nguyệt", hay ba tháng hành kinh một lần, thì gọi là "quý kinh", hiếm hơn nữa, một năm mới hành kinh một lần, thì gọi là "tị niên", rất hiếm thấy trường hợp suốt đời người nữ không bao giờ hành kinh, vốn người vẫn khỏe mạnh, ta gọi là "ám kinh".
Kinh bế, có rất nhiều yếu tố gây ra bệnh này, nhưng được quy tụ qua hai loại hình mà các y gia ngày xưa thường nêu lên:
1) Huyết kém (huyết khô, assèchement du sang), cũng thường gọi là thiếu máu:
 Những trường hợp: thổ huyết, xuất huyết bất luận nguyên nhân từ đâu tới.
- Sanh đẻ nhiều, mất huyết nhiều.
- Dâm dục quá độ làm tinh khí hư hao và dinh huyết khô kiệt.
 - Mang các chứng bệnh lâu năm làm hao kiệt dinh huyết.
- Tình chí uất ức lâu ngày (lo nghĩ, buồn rầu, giận dữ, sợ hãi triền miên...) đều làm tắc nghẽn đường khí lưu thông, do đó kinh mạch bị bế tắc, lo nghĩ quá mức cũng gây nên tình trạng hao tổn khí huyết.
2) Huyết trệ (stagnation du sang): khiến cho kinh nguyệt không hành.
- Phong hàn (gió lạnh) tà khí xâm nhập vào cửa tử cung kết đọng lại ở mạch Xung, mạch Nhâm làm bế tắc kinh nguyệt
- Đờm thấp do sự ăn uống thất thường, hoặc tạng người sẵn có, làm ứ đọng ngăn cản lưu thông khí huyết nên không hành kinh được.
Có những triệu chứng gì?
Nếu là nguyên nhân huyết kém:
Thời gian không thấy kinh nguyệt, cứ kéo dài ngày này qua tháng nọ làm cho sắc mặt vàng úa hư hao, đầu mặt choáng váng, thường xây xẩm, tim hồi hộp, hơi thở ngắn, ngực đau ran, sức lực yếu kém, ăn uống khó tiêu, da dẻ nhăn nheo, trường hợp nặng thân thể gầy mòn.
Nếu là do huyết trệ:
Huyết không bị hư, nhưng lưu thông bị nghẽn,
 Kinh nguyệt không thấy, sắc mặt xanh xao, kèm theo là bụng râm râm đau, tay chân lạnh, ngực bức tức lợm mửa. Chứng bệnh này là do gió lạnh gây nên
 Kinh nguyệt bế tắc, sắc mặt xanh vàng, tình chí uất ức, nóng nảy, ngực sườn đau ran, đầu mặt choáng váng, tai ù, ăn uống chậm tiêu, thường ợ hơi. Chứng bệnh này được thấy trong trường hợp bị khí uất.
 Kinh nguyệt không hành, bụng trướng, đờm dãi nhiều, không thiết đến ăn uống. Đó là nguyên nhân vì đờm dãi.
 Huyết ứ: kinh kỳ không thấy, thời gian kéo dài, sắc mặt xanh, tối sậm, bụng dưới căng cứng và đau, tiểu tiện và đại tiện không thông v.v..
Cách chữa trị
Tây phương
Nên đi khám Bác-Sĩ, vì cách chữa trị còn nhiều phức tạp, và tùy theo từng trường hợp, trên thị trường thuốc men không thiếu, nhưng cần chẩn bệnh cho kỹ lưỡng và đúng mức.
Đông phương: châm cứu
a) Huyết kém, danh từ chuyên khoa gọi là là huyết khuy
 Bổ tỳ vị là công việc chính, là nguồn gốc sinh ra khí huyết, được dùng qua một số huyệt có tác dụng hữu hiệu
Bổ can và thận để tăng phần trợ giúp dinh huyết.
Điều hòa Xung Mạch và Nhâm Mạch, cả hai đều chủ về dinh huyết và tử cung
Công việc này không thể tự chữa được, mà phải nhờ đến y-gia châm cứu để đạt tới mục tiêu mong muốn.
Ngoài ra cần ăn uống bồi bổ thêm.
b) Huyết trệ:
Khai thông sự bế tắc qua những huyệt mà các y gia thường dùng Huy động các kinh huyệt để giảm hạ khí nhiệt xuống dưới hạ chi.
Tăng cường thận khí để trợ giúp dinh huyết được lưu thông. Với khả năng hiểu biết và kinh nghiệm của Y-Sĩ, điều trị thường mang lại kết quả khả quan.
Kết luận
Kinh bế, một chứng bệnh đã chìm trong lãng quên, và ít được ai nhắc tới, không phải là không quan hệ, mà trái lại nó có nhiều ảnh hưởng trong vấn đề sanh đẻ, hoặc hiếm muộn, nhưng vì quan niệm trong đại quần chúng đã xoay hướng đổi chiều cho rằng kinh nguyệt là một công việc bận rộn và không mang lại gì ích lợi cho người phụ nữ trong cuộc sống bôn ba hằng ngày. Song song với đà tiến phát minh trong nền y khoa, các viện bào chế dược phẩm đã tìm ra các loại thuốc để chống có kinh nguyệt, và làm ngưng kinh kỳ trong thời gian ngắn hoặc lâu dài, tùy sở thích cá nhân, làm phần nào thỏa mãn nhu cầu trong giới phụ nữ ngày nay. Bên phương đông chúng ta, kinh nguyệt là việc sinh lý tự nhiên có, mật thiết được gắn liền với đời sống sinh dục của người phụ nữ, cho nên vấn đề chẳng bao giờ được nêu lên, trừ trường hợp bất khả kháng.
Cho dù phương đông hoặc phương tây, bên nào cũng có đủ phương pháp điều trị hữu hiệu, tùy trường hợp mà suy xét để định liệu. 

KHAI TRƯỜNG  & CHÍCH NGỪA
Bs. Nguyễn Ý-ĐỨC
Tháng 9 là mùa khai trường của các em, và thời gian này nhiều em cần chích ngừa trước khi nhập học. Mời quí độc giả đọc một bài viết về vấn đề chích ngừa cho các em của Bs. Nguyễn Ý-ĐỨC.                     Bs. Nguyễn Văn Đức
Thế là các em học sinh lại sắp trở về với trường ốc, sau mấy tháng nghỉ trong một mùa Hè nóng bức.
Cha mẹ bận rộn lo sắm sửa quần áo đồng phục, sách vở cho con em. Đồng thời cũng không quên đưa con em tới phòng mạch bác sĩ để khám sức khỏe tổng quát, nhất là cập nhật hóa sổ chích ngừa các bệnh có thể ngừa được.
Nói tới chích là các em sợ, sợ đau. Các bậc cha mẹ đôi khi e dè không tin tưởng ở công hiệu của chích ngừa hoặc ngại có phản ứng của thuốc chủng. Nhà chức trách quan tâm tới vấn đề sức khỏe của dân chúng thì chặt chẽ hơn: hầu hết các tiểu bang tại Mỹ đòi hỏi một số chích ngừa trước khi các em có thể đi học. Trường học ở nhiều tiểu bang áp dụng luật một cách khắt khe, đòi hỏi trẻ em bất luận lớp nào phải xuất trình giấy chứng nhận chích ngừa một số bệnh cần thiết trước khi vào học.
Câu chuyện ngừa bệnh này dường như cũng gây ra nhiều khúc mắc, nên xin cùng tìm hiểu thêm .
Tính miễn dịch của cơ thể
Ngay khi còn nằm trong lòng mẹ, thai nhi đã được thiên nhiên trang bị cho một hệ thống phòng thủ, bảo vệ để chống lại bệnh tật, đó là tính miễn dịch. Đây là một hiện tượng di truyền được tạo ra do một số tế bào đặc biệt trong máu và hạch bạch huyết sản xuất chất kháng thể để tìm diệt mầm gây bệnh. Ban đầu nó còn kém phát triển, nhưng trong thời gian mà cơ thể lớn lên, nó được tăng cường bằng những yếu tố phòng bệnh từ máu và sữa mẹ. Nhờ đó con người tự nhiên tránh được một số bệnh mà các động vật khác thường mắc phải. Khi khỏe mạnh, cơ thể có thể ngăn chặn sự xuất hiện của bệnh, nhưng nếu vì lý do nào đó mà cơ thể yếu đi, mầm độc sẽ lấn át, gây ra bệnh.
Có điều hay đáng lưu ý là thường thường khi đã bị bệnh một lần thì lần sau sẽ được miễn khi chẳng may nhiễm độc vì cơ thể đã được kích thích để hệ thống miễn dịch tạo ra kháng thể chống lại bệnh. Đó cũng là nguyên tắc của việc tạo ra tính miễn dịch bằng sự tiêm chủng: gây ra một bệnh rất nhẹ để tạo ra sức đề kháng với tác nhân của bệnh đó.
Ngoài sự miễn dịch, lớp da bao bọc cơ thể cũng là thành trì chống mầm độc ngoại xâm từ môi trường chung quanh; chất acid chua trong bao tử có công dụng tiêu dệt vi trùng tình cờ còn lẫn trong thực phẩm; chất nhờn ở cơ quan hô hấp và tiểu tiện để đưa đẩy phần tử có hại ra khỏi cơ thể.
Nguồn gốc chủng ngừa bệnh
Sự chủng ngừa đã được áp dụng ở Trung Hoa, Ấn Độ, Hy Lạp từ ngàn năm xưa khi họ tìm cách ngừa bệnh đậu mùa bằng chất liệu lấy từ người bệnh gắn vào người lành. Sau đó, nhiều y khoa học gia cũng lưu tâm tìm kiếm thêm về vấn đề này.
Nhưng phải đợi tới năm 1796, sự việc mới được cụ thể hóa. Một y sĩ người Anh, Edward Jenner, nhận thấy là người vắt sữa ở những con bò có bệnh đậu mùa sẽ bị lây bệnh nhưng đồng thời họ đã tạo ra được tính miễn dịch với bệnh này. Ông ta bèn chủng đậu bò cho con người với hy vọng bảo vệ không bị bệnh đậu mùa trong những dịp tiếp cận sau này với mầm bệnh. Để chinh phục y giới về kết quả việc khảo cứu, ông ta chủng cho chính con trai của mình và đứa bé không bao giờ mắc bệnh đậu mùa. Bác sĩ Jenner đã thành công và đặt nền móng cho việc chế biến thuốc chủng an toàn chống bệnh ở các nước Tây Âu. Từ Anh, thuốc nhập cảng Mỹ quốc. Được thông báo sự công hiệu của thuốc chủng, Tổng Thống Thomas Jefferson bèn chủng ngừa đậu mùa cho thân nhân, gia đình, và cả bà con lối xóm nữa.
Cách bào chế thuốc chủng ngừa
Nhắc lại là để có thể gây ra bệnh truyền nhiễm, vi trùng cần duy trì được khả năng tăng gia sinh sản và gây tổn thương cho các cơ quan, bộ phận của cơ thể.
Trong thuốc chủng, mầm gây bệnh được chế biến để không có khả năng sinh sản hoặc sinh sản rất ít, không đủ mạnh để gây ra bệnh nhưng có khả năng tạo ra kháng thể chống lại với mầm bệnh về sau này.
Có loại thuốc chủng trong đó:
- gene của mầm độc đã được thay đổi khiến sự sinh sản tuy còn nhưng rất yếu (bệnh sởi, quai bị, trái rạ, tê liệt loại uống )
- gene bị tiêu diệt hoàn toàn không còn sinh sản (thuốc chủng tê liệt loại chích)
- thuốc chủng chỉ dùng một phần của mầm độc, không có gene nên vô sinh (chủng ngừa viêm gan B, ho gà)
- thuốc chủng mà độc tố của mầm độc đã bị vô hiệu hóa (bệnh yết hầu, phong đòn gánh)
Ở bên Mỹ, sau khi các viện bào chế sản xuất, thuốc được đưa cho cơ quan Thực Phẩm và Dược Phẩm Hoa kỳ kiểm tra coi có an toàn và công hiệu không. Rồi một ủy ban gồm các chuyên viên có trình độ cao về dịch học và bệnh trẻ em sẽ thảo luận về ích lợi, phí tổn của thuốc, đưa ra lời khuyến cáo nên dùng thuốc chủng như thế nào. Giai đoạn cuối là các trường học thường đòi hỏi là trẻ em muốn nhập học phải có giấy chứng nhận đã chích ngừa một số bệnh. Tất nhiên, riêng tại Hoa Kỳ, cha mẹ có thể từ chối sự chủng ngừa vì lý do tôn giáo, đạo đức, quan niệm sống hay chủng tộc.
Nhiều người không chấp nhận, ngần ngại chích ngừa vì một vài hiểu lầm cho là chủng ngừa không công hiệu, không an toàn, có thể gây ra tác dụng phụ hoặc gây ra bệnh. Có người lý luận là cứ để tự nhiên có tính miễn dịch sau khi mắc bệnh hơn là chủng ngừa, vì chủng ngừa đôi khi làm suy yếu tính miễn dịch tự nhiên của trẻ em. Thực tế cho hay không có thuốc ngừa nào an toàn 100%. Tuy nhiên, trông vào kết quả của sự chủng ngừa với các bệnh trên thế giới, ta thấy sự ích lợi quá to lớn so sánh với một số tác dụng phụ nhẹ nhàng, không nguy hiểm.
Hữu hiệu của chủng ngừa
Giáo sư Nhi khoa Samuel Katz của Duke University Medical Center, người có nhiều kinh nghiệm về chủng ngừa, đã quả quyết: "Sự tạo ra tính miễn dịch là phương tiện hữu hiệu duy nhất để làm giảm số bệnh tật và số tử vong ở trẻ em”.
Để thấy sự công hiệu của thuốc chủng, xin hãy coi qua vài thống kê sau đây về một số bệnh:
Bệnh tê liệt: Trước khi có thuốc chủng bệnh này vào thập niên 50, có cả ngàn trẻ em bị bệnh, làm tê liệt hạ chi phải mang nạng, ngồi xe lăn; nhiều bệnh nhân bị liệt hô hấp phải nằm trong lồng phổi sắt để thở. Từ năm 1997, không còn trường hợp tê liệt nào được báo cáo ở nước Mỹ và các nước Tây bán cầu. Năm 1994, một dịch tê liệt từ Ấn Độ xâm nhập Gia Nã Đại nhưng nhờ chích ngừa ráo riết nên đã chặn đứng được dịch này.
Bệnh sởi: Còn nhớ khi xưa ở bên nhà hầu hết trẻ con bị ban sởi với số tử vong cao vì các biến chứng như sưng phổi, viêm não, tổn thương não bộ. Đó là do không có chích ngừa đầy đủ. Cho nên các cụ ta khi đó thường nói là đừng tính có bao nhiêu con cho tới khi chúng sống sót sau bệnh ban sởi. Ngày nay con cháu ta bên Mỹ này năm thì mười họa mới có em mắc bệnh sởi, nhờ chương trình chủng ngừa sởi ở đây rất chu đáo, hầu như bắt buộc ngay từ khi các em vào học lớp mẫu giáo. Năm 1941, chưa có chủng ngừa, có gần 900,000 trường hợp bệnh sởi. Thuốc chủng được bào chế năm 1962 và năm 1997, chỉ còn trên 100 trường hợp.
Bệnh đậu mùa: Bệnh một thời đã làm thiệt mạng nhiều người trên thế giới, nay coi như đã bị xóa sổ; bệnh ho gà, bệnh yết hầu, bệnh phong chẩn đã giảm rất nhiều nhờ chủng ngừa.
Cho nên, nếu ngưng chương trình chủng các bệnh có thể ngừa được thì chắc ta sẽ thấy bộc phát trở lại những dịch chết người kinh khủng như vào đầu thế kỷ vừa qua.
Các bệnh nên chích ngừa
Hiện nay 10 loại chủng ngừa sau đây được khuyến cáo nên áp dụng vì công hiệu miễn dịch cao: yết hầu (Diphteria), uốn ván (Tetanus), ho gà (Pertussis), tê liệt (Polio), ban sởi (Measles), quai bị (Mumps), phong ban (Rubella), viêm gan B (Hepatitis B), viêm não B (H. influenza B), thủy đậu (Varicella).
Việc chủng ngừa thường bắt đầu thực hiện khi các em mới sanh hay sanh được 2 tháng. Tới khi chúng lên 2 tuổi thì hầu như 80% việc chủng ngừa đã được hoàn tất. Thuốc chủng có thể gom chung với nhau cho tiện, chẳng hạn ngừa quai bị, sởi, phong ban với nhau, yết hầu, uốn ván, ho gà cùng một lúc.
Lịch trích ngừa:
Mới sanh chích viêm gan B (Hep B) lần đầu;
Hai tháng: ho gà, uốn ván, yết hầu (DTaP), tê liệt (Polio), H. influenza (Hib) lần đầu + HepB lần thứ nhì;
4 và 6 tháng: DTaP lần thứ nhì + Hib lần thứ nhì rồi thứ ba;
12 tháng: thủy đậu, ban sởi, quai bị, phong ban (MMR) lần đầu+ Hib lần thứ tư;
15 tháng: HepB lần ba + DTaP lần thứ tư;
4 tới 6 tuổi: MMR lần thứ nhì + Polio lần thứ tư.
Thường thường tất cả các chích ngừa này được hoàn tất sau năm sáu lần tới phòng mạch bác sĩ.
Một câu hỏi thường được đặt ra là nếu mình quên một lần chủng ngừa theo lịch trình thì phải làm sao. Xin thưa là không bao giờ quá trễ để chích ngừa. Khi lịch trình bị gián đoạn vì quên, ta không phải chích lại từ đầu mà chỉ cần chích từ lần đã ngưng.
Phụ huynh nhiều khi cũng bối rối không biết phải chích bao nhiêu lần để có miễn dịch hoàn toàn hoặc bao giờ phải chích bồi dưỡng, bổ sung. Đặc biệt là các em hay nghịch ngợm chạy nhẩy dễ té ngã trầy da, nguy cơ nhiễm bệnh phong đòn gánh gia tăng nên cần chích tăng cường thuốc ngừa này mỗi mười năm. Do đó, cần giữ sổ chích ngừa cẩn thận để ghi nhớ, theo dõi lịch trình chích ngừa đã được chuyên gia y tế ấn định, nhất là khi di chuyển sang địa phương khác, hoặc khi thay đổi bác sĩ gia đình.
Tại Hoa Kỳ, đa số các chương trình chích ngừa cho trẻ em đều miễn phí hoặc lệ phí rất thấp, qua các trung tâm y tế địa phương hay tại phòng mạch bác sĩ.
Phản ứng phụ và trường hợp không chích ngừa
Tác dụng phụ của thuốc chủng cũng thường xẩy ra nhưng rất nhẹ: chỗ chích hơi sưng, hơi đau, ngưa ngứa, nhiệt độ hơi lên cao. Hãn hữu lắm mới có phản ứng mạnh như khó thở, hạ huyết áp, nổi ngứa cùng mình, ngất xỉu ngay sau khi chủng. Khi bị phản ứng mạnh như vậy thì không được chủng ngừa với thuốc chủng đó nữa.
Ngoài ra các em bị bệnh ung thư, bệnh liệt kháng AIDS, cũng không được chủng loại thuốc trong đó mầm bệnh bị làm suy yếu, như thuốc chủng bệnh sởi, quai bị, phong ban, thủy đậu, tê liệt.
Trẻ em đang bệnh thì tùy theo trường hợp: nặng với nóng sốt cao vì nhiễm trùng thì hoãn tới khi bình phục; khi các em chỉ bị đau nhẹ như viêm tai, ho, sổ mũi, tiêu chẩy thì đều có thể chủng ngừa được. Bác sĩ gia đình sẽ cho ta lời khuyên quyết định.
Kết luận
Bệnh tật không phải tự nhiên mà biến đi. Mặc dù con người đã ý thức được những nguyên nhân gây bệnh, đã sống điều độ, vệ sinh hơn, y học đã cống hiến nhiều phương tiện trừ bệnh tật, nhưng bệnh tật vẫn còn lẩn quẩn đó đây chỉ chờ cơ hội thuận tiện là xâm nhập cơ thể ta. Cho nên sự phòng ngừa bệnh, mà chủng ngừa là một, vẫn còn rất quan hệ.
Chỉ cần một sự quan tâm, dành ra một chút thì giờ để thực hiện sự phòng ngừa này là ta có thể tránh được những dịch bệnh gây tử vong cao như dịch cúm Tây Ban Nha năm 1918 giết gần 20 triệu người trên thế giới; giúp cả ngàn trẻ em tránh được khuyết tật bẩm sinh về tim, mắt, điếc và chậm trí do Rubella từ mẹ truyền cho con; cứu sống cả triệu trẻ em trên thế giới khỏi thiệt mạng vì bệnh sởi.
Đấy là phần thưởng của mũi thuốc chích mang lại sức khỏe tốt cho con người. Chẳng lẽ ta lại bỏ qua nhữngcơ hội phúc lợi mà xã hội đã ân cần cung ứng, hiến dâng.




mailto:info@danchua.de - Copyright © 2007 Dân Chúa Âu Châu - All rights reserved.